Quá trình hình thành quy trình chứng khoán và sự phồn thịnh của nền kinh tế nhiều thành phần p7 doc - Pdf 20

55
Tìm Hiểu Một Vài Loại Chứng Khoán Thông Dụng
Dẫn Giải 2-8
Giả dụ công ty XYZ tuyên bố phân cổ phần theo tỉ lệ 3:1. Tỉ lệ
ba trên một có nghóa là cứ một cổ phần hiện tại sẽ trở thành ba
cổ phần trong tương lai sau ngày chính thức phân cổ phần.
Trước khi phân cổ phần giả dụ là giá cổ phiếu, lợi thu doanh
thương, giá cổ phiếu, giá trò đầu tư của ông B và giá trò chủ bản
của công ty XYZ như sau:
Lợi Thu Doanh Thương Trước Khi Phân Phối
Lợi Thu Doanh Thương, LTDT $400,000
LTDT1C $0.40
Giá Cổ Phiếu Trước Khi Phân Phối
GTT $16
(1)
GTT/LTDT1C 40
Giá Trò Đầu Tư Của Ông B Trước Khi Phân Phối
Số CP XYZ 10,000
(2)
Tổng Giá Trò Đầu Tư, (1) x (2) $160,000
Giá Trò Chủ Bản Trước Khi Phân Phối
Vốn CPTĐ, GTPB, $0.1x1 triệu CP $100,000
(3)
Vốn CPTĐ, Vượt GTPB, $4.9x1 triệu CP $4,900,000
(4)
Lợi Thu Doanh Thương Giữ Lại $ 800,000
(5)
Giá Trò Chủ Bản, GTCB, (3)+(4)+(5) $5,800,000
Chú Thích:
Vốn CPTĐ, GTPB, 1CP = $0.10
Vốn CPTĐ, Vượt GTPB, 1CP = ($5 - $0.1) = $4.9

(f)
Giá Cổ Phiếu Sau Khi Phân Phối
GTT/LTDT1C 40
(g)
GTT, (g) x (f) hoặc ($16)/(3/1) $5.33
(h)
Giá Trò Đầu Tư Của Ông B Sau Khi Phân Phối
Số Cổ Phần (3/1) x 10,000 CP 30,000
(k)
Tổng Giá Trò Đầu Tư, (h) x (k) $160,000
Sau khi phân cổ, tổng số cổ phần du hành của công ty
tăng lên 3,000,000. So sánh trước và sau khi phân cổ, giá trò
chủ bản của công ty không thay đổi. Sự thay đổi chi tiết bên
trong chỉ là để điều chỉnh theo qui ước kế toán. Toàn bộ giá trò
đầu tư của ông B cũng không thay đổi dầu là giá thò trường,
GTT, và lợi thu doanh thương một cổ phần, LTDT1C, có thay đổi
để điều chỉnh theo số lượng cổ phần mới. Giá thò trường của
cổ phiếu sau khi phân cổ, 5.33 USD, được chiết tính dựa trên
dự kiến là thò trường vẫn đồng ý mua với một giá gấp 40 lần lợi
thu doanh thương một cổ phần.
57
Tìm Hiểu Một Vài Loại Chứng Khoán Thông Dụng
Khả Năng Lưu Hoạt
Khả năng lưu hoạt (liquidity) của một chứng khoán là
khả năng hoán chuyển vốn đầu tư từ chứng khoán đó
sang tiền mặt hoặc sang một chứng khoán khác. Nói
một cách dễ hiểu hơn, một chứng khoán có mức lưu hoạt
cao là một chứng khoán thònh hành trên thò trường, tức là
cung lẫn cầu của chứng khoán đều cao, vì vậy nó dễ
mua và dễ bán. Tính dễ mua và dễ bán này nâng khả

cash) nhưng chưa có thêm cơ hội tốt để đầu tư phát
triển công ty của họ đôi khi dùng số tiền mặt thặng dư
này để thu mua lại cổ phiếu của công ty nhà (stock re-
purchase).
Quyết đònh thu mua lại cổ phiếu của công ty nhà
thường được dựa trên hai lý do. Thứ nhất, vì công ty tin
rằng giá thò trường của cổ phiếu của công ty nhà thấp
hơn giá trò tương xứng của nó khá xa. Trong trường hợp
này, mua lại cổ phần là hình thức đầu tư vào chính công
ty của mình. Thứ hai, có thể là vì công ty muốn nâng giá
thò trường cho cổ phiếu của công ty nhà. Thu mua một
số lượng lớn cổ phần của công ty sẽ tạo ảnh hưởng tích
cực đến tâm lý của thò trường và đến cánh cân cung cầu
với hy vọng là làm cho giá thò trường của cổ phiếu của
công ty nhà gia tăng, hoặc làm cho giá đứng lại trong
trường hợp nó đang tuột dốc.
Sau khi thu mua, số cổ phần của công ty nhà có
thể (1) được đem hủy bỏ (to be retired) hoặc (2) đem
bán ra cho công chúng trong tương lai (to be resold to
the public). Chúng được gọi là cổ phiếu thu hồi (trea-
sury stocks).
Mua Bán Cổ Phiếu
Nhu cầu mua và bán cổ phiếu làm nên thò trường cổ
59
Tìm Hiểu Một Vài Loại Chứng Khoán Thông Dụng
phiếu (stock markets) và những vụ mua bán được thành
lập tại những nơi mua bán được gọi là thò trường mua
bán dành riêng cho cổ phiếu (stock market exchanges).
Những “nơi mua bán” này có thể là một cao ốc (building)
mà cũng có thể là một kiến trúc của thế giới vi tính, hệ

phiếu mới bây giờ trở thành cổ phiếu cũ và được mua đi
bán lại (secondary transactions) trên những thò trường
mua bán cấp 1 (registered stock exchanges; organized
stock exchanges) hoặc những thò trường mua bán cấp 2
(self-regulated exchanges).
Thò trường mua bán cấp 1 là những thò trường có
đăng ký và có tổ chức rất chặt chẽ. Trong số những thò
trường mua bán cấp 1 của Hoa Kỳ có New York Stock
Exchange (NYSE) và American Stock Exchange (AMEX).
Một vài vùng của Hoa Kỳ cũng có những thò trường mua
bán cấp 1 nhưng tầm vóc nhỏ hơn (regional exchanges),
thí dụ như Pacific Stock Exchange (PSE), Philadelphia
Stock Exchange (PHLX), Boston Stock Exchange, Mid-
west Stock Exchange, và Cincinnati Stock Exchange
(CSE). Hải ngoại có những thò trường mua bán cấp 1
nổi tiếng như là Tokyo Stock Exchange, Hongkong Stock
Exchange, Toronto Stock Exchange . . .
Thò trường mua bán cấp 2 (over-the-counter, OTC)
là thò trường tự quản tự kiểm (self-regulated). Một tập
hợp với sự tham dự của hàng ngàn đại lý mua bán chứng
khoán (dealers) liên kết để làm thò trường qua một tổ
chức được gọi là Nghiệp Đoàn Đại Lý Mua Bán Chứng
Khoán (National Association of Securities Dealers, Inc.,
NASD). Thay vì gặp mặt nhau tại nơi mua bán để đấu
giá theo truyền thống lâu đời của thò trường mua bán
cấp 1, giá của cổ phiếu được mặc cả và mua bán được
thành lập qua một hệ thống mạng vi tính (screen-based
market). NASD Automated Quote (NASDAQ), Over-the-
Counter Bulletin Board (OTCBB) và PORTAL Market
(PORTAL) thuộc vào loại thò trường mua bán cấp 2 này.

Chứng khoán du hành trên thò trường phần lớn là nhờ
vào hoạt động của những đại lý mua bán chứng khoán
(securities dealers) và những trung gian mua bán chứng
khoán (securities brokers).
Đại lý mua bán chứng khoán phải tự bỏ tiền ra
mua chứng khoán để bán lại kiếm lời. Khách hàng của
họ thường là những người đầu tư với danh nghóa cá
nhân (private investors) hoặc với danh nghóa của tổ chức
(institutional investors), còn gọi là người đầu tư với danh
nghóa của tổ chức hoặc người đầu tư thuộc vào tổ chức.
Khác với đại lý mua bán chứng khoán, những
trung gian mua bán chứng khoán chỉ đứng ra làm môi
giới mua bán để kiếm tiền phí môi giới chứ không bỏ
tiền ra mua chứng khoán dự trữ để bán lại kiếm lời. Khách
hàng của những trung gian mua bán chứng khoán đa số
là những người đầu tư với danh nghóa cá nhân hoặc với
danh nghóa của tổ chức. Và trong số khách hàng của
họ cũng có cả những đại lý mua bán chứng khoán.
Yết Giá Cổ Phiếu
Giá của cổ phiếu được niêm yết nhiều nơi và qua nhửng
phương tiện truyền thông quen thuộc. Những bảng yết
giá cổ phiếu đăng tải trên những nhật báo thường giôáng
như bảng yết giá trong hình 2-9.
Căn cứ theo bảng yết giá 2-9, cột thứ 1 cho biết
giá cao nhất của cổ phiếu đã mua bán trên thò trường
trong suốt 52 tuần sau cùng (52-week high). Cột thứ 2
cho biết giá thấp nhất của cổ phiếu đã mua bán trên thò
trường trong suốt 52 tuần sau cùng (52-week low). Cột
thứ 3 cho biết tên của công ty phát hành cổ phiếu. Nếu
không có chữ chú thích nằm bên cạnh tên của công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status