mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thể dục thể thao là một nhân tố quan trọng cấu thành nên đời sống xã hội
của mỗi cộng đồng cũng nh bản thân của mỗi quốc gia. Nó hình thành và phát
triển xuất phát từ nhu cầu của mỗi con ngời, và trở thành một bộ phận không thể
thiếu đợc trong đời sống của mỗi cộng đồng, quốc gia (đặc biệt là bóng đá). Và
bóng đá thành món ăn tinh thần của hàng ti tỷ ngời hâm mộ trên thế giới.
Với việc Hàn Quốc - Nhật Bản đứng ra đăng cai tổ chức một giải bóng đá lớn
nhất hành tinh đó là World cup 2002 đây là cơ hội lớn để cho hai nớc có cơ hội
khôi phục lại nền kinh tế thoát khỏi sự suy thoái kéo dài và trong thời gian vừa qua
một cách nhanh chóng và để lấy lại vị thế và khẳng định lại với thế giới họ là hai
quốc gia có nền kinh tế vững mạnh. Trong con mắt của mọi ngời trên thế giới họ
đã từng biết trớc đây.
Và cũng qua đây World cup 2002 cũng là cơ hội lớn để cho các công ty tập
đoàn công nghiệp lớn của hai nớc có dịp làm ăn và giới thiệu các sản phẩm của
mình với thế giới.
Bằng việc tổ chức thành công World cup 2002 Nhật Bản và Hàn Quốc đã lấy
lại sự cân bằng của nền kinh tế sau một thời gian dài bị tụt hậu do bị ảnh hởng của
sự suy thoái.
Trớc sự kiện World cup 2002 này khai mạc, nhiều giới phân tích kinh tế cho
rằng, đây là cơ hội lớn để cho Nhật Bản và Hàn Quốc hồi phục lại nền kinh tế sau
khi đã bị rơi vào khủng hoảng và suy thoái. Đúng nh các nhà nghiên cứu sự báo,
sau khi kết thúc World cup 2002 nền kinh tế của hai nớc có mức tăng trởng một
cách đáng kinh ngạc GDP tăng 2,4 tính đến cuối tháng 6/2002 và có thế tăng nữa
vào cuối năm nay.
2. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Sự kiện world cup 2002 đợc diễn ra tại Nhật Bản và hàn Quốc là sự kiện vô
cùng quan trọng đối với ngời dân hai nớc và cũng là của ngời dân Châu á vì lần
đầu tiên đợc tổ chức ở Châu á và cũng qua world cup 2002 đã đa nền kinh tế của
hai quốc gia thoát khỏi thời kỳ suy thoái và đi lên. Đây là đề tài vô cùng " nóng
bỏng" đã đợc báo chí Việt Nam đề cập rất nhiều. Tuy nhiên,trong khuôn khổ của
nh thủ đô TOKYÔ, các thành phố khác nh YKOHAMA, OSAKA và IOGOTO,
nhiều dãy núi lửa chạy suốt đất nớc tạo nên các loại địa hình khác biệt. Đất nớc
này đợc đặc trng bởi những dòng sông ngắn chảy xiết, núi non trùng điệp và
những đồng bằng nhỏ hẹp nhng màu mỡ.
1.2. Khí hậu:
Giữa các vùng của Nhật Bản có sự chênh lêch lớn về khí hậu, mặc dù trên cả
nớc có khí hâu ôn hoà. Nhng miền Bắc lại có mùa đông dài và lạnh có nhiều tuyết.
Miền Nam có mùa hè nóng và mùa đông lại ôn hoà, lợng ma ở đây tơng đối cao,
vào mùa hè thờng có ma to và bão lớn.
1.3. Nền kinh tế:
Những thành công của Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai là kết quả
của một chính sách kinh tế đợc hoạch định một cách chặt chẽ bởi sự kết hợp giữa
bộ máy nhà nớc và các doanh nghiệp lớn. Trớc chiến tranh thế giới lần hai, các
công ty có ảnh hởng hợp thành tập đoàn khổng lồ ( gọi là Zaibastu ) hợp tác chặt
chẽ với chính phủ để nâng đỡ ngành công nghiệp nhất định. Đã có thời bốn (
Zaibastu) lớn nhất từng ngự trị là Mitsui Mitsubishi, Sumitomo và Yasuda, một
tập đoàn( trong số bốn ông lớn) đã nắm giữ một phần đáng kể trong lĩnh vực ngân
hàng. Sản xuất công nghiệp, khai thác mỏ, đóng tàu và quảng cáo ở nớc ngoài.
Các chính sách khuyến khích việc thuê nhân viên làm việc suốt đời, khuyến khích
3
chủ nghĩa gia trởng trong quan hệ chủ thợ, quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp và
cạnh tranh ở mức thấp. Ngày nay, ảnh hởng và sự kiểm soát các ( Zaibastu) đối
với nền kinh tế đã giảm nhiều mặc dù một vài chính sách của nó vẫn còn có tác
đối với đất nớc. Thời gian gần đây cả chính quyền và các doanh nghiệp để đáp lại
những thách thức mới của nền kinh tế toàn cầu đã nhận ra sự cần thiết phải cơ cấu
lại và điều chỉnh lại các bộ phận của nền kinh tế nhất là khu vực tài chính.
Buôn bán quốc tế rộng rãi khiến Nhật phụ thuộc nặng nề vào thị trờng bên
ngoài, nơi cung cấp nguyên liệu thô và nguồn năng lợng, cũng là nơi cung cấp
khách hàng mà từ họ Nhật Bản kiếm đợc khoản tiền để mua các loại sản phẩm
hàng hoá nói trên và các loại hàng hoá khác. Ngời Nhật Bản nhận thức rõ tính phụ
mình ngời dân Nhật Bản luôn giữ đợc thái độ phân biệt giữa những gì là ngoại
quốc và những gì là của Nhật Bản. Mãi cho đến gần nay họ vẫn luôn u chuộng
những gì của Nhật Bản hơn . Thái độ này cũng rất rõ trong cách đối xử với những
ai không phải là ngời Nhật. Những ngời nh thế đợc ngời Nhật gọi là "kẻ ngoại
quốc" hay "kẻ lạ". Ngay cả những ngời gốc Triều Tiên và c dân chủng tộc khác
sinh ra và lớn lên ở Nhật cũng không đợc nhìn nhận là "ngời Nhật", cho đến nay
vẫn còn những quy tắc hạn chế nghiêm ngặt về di dân và quốc tịch nhằm giữ cho
cả dân ở Nhật có mức độ "Nhật cao nhất.
Nhật Bản là một quốc gia thô tục từ hơn 300 năm nay. Dân chúng ở đây chủ
yếu theo Thần Phật, phật giáo, thiên chúa giáo, khổng giáo, thần đạo là một tín ng-
ỡng bản địa Nhật Bản, dạy ngời ta phải tôn trọng thiên nhiên. Các vị thần Shinto
thờ cúng trong các ngôi đền đặc trng bởi những chiếc ???? và hành lang bằng
gỗ sơn đỏ
Phần lớn ngời Nhật không muốn tỏ ra là những ngời sùng tín dù là bằng hành
động hay lời nói, họ không thờng xuyên đến đền thờ hàng ngày hay hàng tuần.
Điều thờng thấy hơn là mỗi gia đình có một bàn thờ nhỏ ở nhà mình, nơi họ hàng
ngày thờ cúng. Họ cùng tham gia những nghi lễ dành cho những trờng hợp đặc
biệt nh sinh đẻ, đám cới, đám tang. Phần đông tin tởng và thực hành theo những
tín ngỡng khác nhau cho các sự kiện khác nhau của đời sống.
Do không a đối đầu, ngời Nhật thích tạo nên sự đồng lòng nhất trí hơn khi
cần ra quyết định. Họ tin tởng vào sự cần thiết giữ gìn hoà khí thậm chỉ nếu cần
phải từ bỏ sự thật và lòng trung thực hơn. Hơn nữa cũng nh nhiều quốc gia ở Châu
á khác " giữ thể diện" và giữ gìn phẩm giá là điều tuyệt đối phải coi trọng trong
bất cứ điều kiện nào. Để khỏi có nguy cơ trở nên một kẻ ngoài lề xã hội, ngời
Nhật tuân thủ những nguyên tắc ứng xử đó. Đối với ngời lớn tuổi hơn, ngời Nhật
thờng rất tỉ mỉ và có phơng pháp trong việc tiếp cận phần lớn các tình huống trong
5
đời sống cũng nh trong kinh doanh, họ có xu hớng tuân theo quy định, họ không
linh hoạt trong việc thay đổi quy tắc. Đó là một trong những lý do khiến họ vợt
trội trong các lĩnh vực nh chế tạo máy và sản xuất các sản phẩm chất lợng cao.
1.2. Khí hậu của Hàn Quốc
Hàn Quốc chịu ảnh hởng trực tiếpd của khí hậu gió mùa Đông á. Hàn Quốc
là nớc có 4 mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông. Lợng ma tơng đối nhiều đặc
biệt vào tháng 7. Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất trong năm là 25C, tháng
lạnh nhất là - 3,5 C.
1.3. Về tài nguyên thiên nhiên
Khí hậu gió mùa đã đem lại cho Hàn Quốc một hệ động thực vật phong phú.
Theo thống kê năm 1946 ở bán đảo có 201 họ cây, trong đó có 1102 loài , 3347
chủng loại, 1012 loài cây thân cao, trong đó có 400 loại đặc biệt.Về sông hồ, biển
ngòi ở Hàn Quốc có 6 con sông lớn và dài nhất là 790 km. Mùa hè nớc sông lớn
do ma nhiều còm các mùa khá tơng đối khô. Bờ biển dài và tơng đối khúc khuỷu
và cạn, độ sâu của biển Nam là không quá 100 m. Thềm lục địa nông cạn một bên
tạo điều kiện cho việc đánh bắt cá, nhng mặt khác lại cũng gây cản trở cho việc đi
lại bằng đờng biển. Hàn Quốc với sự u đãi của thiên nhiên, các con sông và biển
với nhiều loài thuỷ sản, 14 loài cá lỡng c và 130 loài cá nớc ngọt. Hệ động thực vật
phong phú, đã tạo cho đất nớc có hoa thơm quả ngọt, quanh năm cây cối xanh tốt
và có nhiều loài động vật quý hiếm. Trái lại, tài nguyên và khoáng sản vô cùng
nghèo nàn, trên đất nớc hầu nh không có một loại khoáng sản nào có giá trị, để
phục vụ cho ngành công nghiệp phải dùng nhiều tài nguyên nh Hàn Quốc.
1.4. Về kinh tế
Sau khi kết thúc chiến tranh Triều Tiên vào những năm 1950, đất nớc này đạt
đợc những sự tăng trởng kinh tế đáng kể phần lớn nhờ vào các kế hoạch mở rộng
của chính phủ, các cố gắng giữ một chính phủ có thiện chí hợp tác và doanh
nghiêp và nhờ vào sự lao động cần cù của ngời dân Hàn Quốc, chính phủ Hàn
Quốc đã phát triển đợc một đội ngũ lao động có trình độ cao và đợc giáo dục tốt
và đã đề ra kế hoạch 5 năm kể từ 1962 để tạo một hệ thống phát triển tập trung vào
chiến lợc công nghiệp hoá hơng vào xuất khẩu. Từ 1970 tổng sản phẩm kinh tế
quốc dân GDP đã tăng 35 lần. Khoảng 45% giá trị tổng sản phẩm kinh tế quốc dân
hiện nay là t các ngành sản xuất và xuất khẩu hàng thành phẩm chứ không phải
xuất khẩu nguyên liệu thô. Hàn Quốc đợc xếp vào hàng ngũ các quốc gia buôn
đó. Tổ tiên của ngời Triều Tiên di c từ Xibôri Nội Nông và Mãn Châu Lý để cuối
cùng lập nên một nhóm dân tộc đồng nhất, không có dân tộc thiểu số nào lớn.
Tính dân tộc của ngời Hàn Quốc tơng đối cao đã từng có những thời gian thi
hành chính sách bài ngoại. Họ không chấp nhận một xã hội đa chủng tộc hay đa
sắc tộc nh kiểu hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Quan niệm về tính đồng nhất này là một
lý do giải thích tại sao ngời Triều Tiên ở cả hai miền Nam- Bắc đều cho rằng sự
8
chia cắt của bán đảo Triều Tiên là trải với quy luật tự nhiên là hoàn toàn. Dù hai
miền Nam - Bắc có chế độ chính trị và chính sách kinh tế khác nhau, nhng nhân
dân cả hai miền đều chung một truyền thống văn hoá.
Triều Tiên rất gần gũi với Trung Quốc cả về địa lý lẫn kinh tế và lịch sử tạo ra
một nhịp cầu văn hoá tự nhiên nối liền quần đảo Nhật Bản với lục địa Châu á. Tuy
nhiên, ngời Triều Tiên luôn luôn căm ghét các ảnh hởng hay sự thống trị từ bên
ngoài.Ngời Hàn Quốc nói chung có vẻ bảo thủ hơn so với nhiều nớc láng giềng
Châu á của họ. Một số ngời Hàn Quốc có thể cảm thấy bị đe doạ hơn là thích thú
khi thấy ngời nớc ngoài thông thạo về văn hoá và ngôn ngữ của họ. Ngời nớc
ngoài hiểu rõ về nền văn hoá của họ đôi khi bị coi là "xâm phạm" vào thế giới của
ngời Triều Tiên. Cũng giống nh ngời Nhật Bản - ngời Triều Tiên cho rằng nền văn
hoá của họ là chân lý duy nhất và cao siêu hơn các nền văn hoá khác và do đó ngời
nớc ngoài không thể lĩnh hội đợc.
Hàn Quốc cũng chịu ảnh hởng khá nặng của đạo Nho giáo và đạo Thiên
chúa. Có khoảng 43% dân số Hàn Quốc theo đạo thiên chúa.
Giáo dục luôn đợc coi là công cụ của sự tiến bộ xã hội. Tuy nhiên trong suốt
lịch sử chỉ có gia đình giàu có mới có thể chu cấp nổi cho con cái đi học và do vậy
việc thúc đẩy xã hội của Hàn Quốc đi lên là rất khó khăn. Nhng đến bây giờ hệ
thống trờng học ở Hàn Quốc nh là ở nớc Mỹ. Cấp tiểu học 6 năm, cấp trung học 6
năm va cao hơn nữa là 4 năm nữa. Những năm sau là rất khó khăn bắt buộc phải
thi qua một kỳ thi rất khắt khe.
Từ đầu năm 1990 nhiều ngời dân Hàn Quốc đã di c ra nớc ngoài để tìm kiếm
cơ hội sống tốt hơn. Trong thời gian Nhật Bản đô hộ, nhiều ngời Hàn Quốc đã di
việc làm cho ngời dân trong thời kỳ diễn ra world cup và sau đó.
Có thể nói sau sự kiện world cup 2002, tỷ lệ ngời thất nghiệp ở Hàn Quốc và
Nhật Bản đã giảm xuống một cách đáng kể so với thời kỳ khủng hoảng kinh tế.
Nguyên nhân chủ yếu là nhờ vào world cup 2002 kết thúc sẽ tạo đợc khoảng
760.000 lao động cho cả hai nớc và đem lại cho hai nớc con cố thặng d là 2,8 tỉ
USD. Ngoài những hiệu quả đem lại cho nền kinh tế của cả hai nớc, xét về mặt
hiệu quả gián tiếp thông qua việc nâng cao vị thế của hai nớc và các công ty tăng
cờng xuất khẩu,đẩy mạnh nhanh chóng đầu t nớc ngoài.
10
Theo tác giả Nguyễn Anh Hồng cho biết " world cup 2002 "sẽ tạo ra doanh
thu hơn 500 tỉ USD " Sự kiện world cup 2002 là sự kiện thể thao lớn nhất hành
tinh . Theo đánh giá của giới chuyên môn world cup lần này sẽ đạt kỷ lục về nhiều
phơng diện khi tổ chức tại Nhật Bản và Hàn Quốc, và sẽ làm cho năng suất giảm
sút, nhng sự kiện thể thao số một trên thế giới này lại thúc đẩy mạnh mẽ ngành
công nghiệp và thơng mại, dịch vụ và quảng cáo. Đây là một động lực thúc đẩy và
tăng trởng kinh tế đem lại doanh thu hơn 500 tỉ USD "( Thời báo kinh tế Việt Nam
só 68 thứ 6 ngày 07/ 06/ 2002)
Cũng đề cập đến sự tăng trởng kinh tế của Hàn Quốc và Nhật Bản trong bài "
Hàn Quốc và Nhật Bản ăn đậm nhờ world cup " của tác giả Bình Minh " Thời
báo kinh tế Việt Nam số 69 ra ngày 9/6/2002 " Vòng chung kết world cup 2002
lần này đợc đánh giấu bằng hai nét đặc trng lần đầu tiên đợc tổ chức tại Châu á và
cũng là lần đầu tiên có hai nớc tham gia đồng đăng cai. Không biết đây là sáng
kiến hay là tối kiến của các nhà tổ chức nhng hiện nay không ít ngời Châu Âu
phàn nàn và ganh tị... world cup 2002 là một cú hích mạnh cho nền kinh tế Hàn
Quốc và Nhật Bản. Năm 2002 nhờ nó mà nền kinh tế của cả hai nớc có thể sẽ tăng
trởng. Hàn Quốc tăng 5,8%, Nhật Bản 6,9% tăng "Tiếp đó là sự thành công của
ngành du lịch và dịch vụ cũng góp phần vào sự tăng trởng của nền kinh tế". Theo
tác giả Nguyễn Anh Thi " Thời báo kinh tế Việt Nam " số 74 ngày 21/6/2002
"Tất cả các điểm du lịch của Hàn Quốc và Nhật Bản đang mở rộng cửa để
đón khách từ tất cả các nớc trên thế giới sang cổ vũ bóng đá và để đi du lịch. ở