1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI DU LỊCH MARKETING
YZ Môn học:
MARKETING TOÀN CẦU
ĐỀ TÀI :
Phân tích ảnh hưởng của môt trường văn hóa đến hoạt động marketing tại
hai quốc gia Nhật Bản và Hàn Quốc.
Giảng viên : ThS. Quách Thị Bửu Châu Thành Phố Hồ Chí Minh
08/
2
0
11
2
Danh sách nhóm:
marketing nội địa, marketing toàn cầu đòi hỏi các doanh nghiệp phải tính đến sự can thiệp của các
chính quyền sở
tại, tính đa dạng của các điều kiện thị trường bên ngoài, và những kiến thức về môi
trường tự nhiên, kinh tế, chính trị - pháp luật và đặc biệt là những rào cản về văn hóa. Có thể nói văn
hóa ảnh hưởng đến mọi hoạt động marketing (sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến….) và những “sai
lầm truyển thống” trong marketing quốc tế thường liên quan đang các vấn đề về văn hóa.
Đ
ánh giá đúng về vai trò của văn hóa trong marketing nói chung và marketing toàn cầu nói riêng,
chúng tôi đã chọn hai quốc gia Nhật Bản và Hàn Quốc để tiến hành phân tích ảnh hưởng của môi
trường văn hóa đến hoạt động Marketing tại hai đất nước có nền văn hóa nhiều tương đồng nhưng
cũng lắm khác biệt này, với hy vọng sẽ giúp chúng tôi và mọi người hiểu thêm về văn hóa Nhật – Hàn
cũng như thấy được những tác độ
ng của các yếu tố văn hóa đến mọi thành phần của hoạt động
marketing bao gồm 4P : product, price, place, promotion.
Mặc dù chúng tôi đã cố gắng học hỏi, tham khảo nhiều tài liệu nhưng chắc chắn khó tránh khỏi những
thiếu sót. Mong cô và các bạn sẽ góp ý thêm, xin chân thành cảm ơn!
4
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
tạo của con người, được bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ sau. Hệ thống văn hóa có chức
năng như là một khuôn mẫu chuẩn mực các hành vi xã hội
2. Các yếu tố văn hóa :
i. Ngôn ngữ : là phương tiện để truyền thông tin và ý tưởng
• Hiểu biết ngôn ngữ giúp hiểu tình huống, tiếp cận dân chúng địa phương, nhận biết sác
thái, nhấn mạnh ý nghĩa, giúp hiểu văn hóa tốt hơn cũng như hiểu biết các thành ngữ,
cách nói xã giao hằng ngày và dịch thuật thông suốt
• Có 2 loại ngôn ngữ : không lời (màu sắc, khoảng cách, địa vị) và ngôn ngữ thân th
ể.
ii. Tôn giáo : thường được định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay
thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó.
• Các tôn giáo phổ biến như : Thiên Chúa, Tin Lành, Do Thái, Hồi Giáo, Phật Giáo….
• Tôn giáo ảnh hướng đến cách sống, niềm tin, giá trị và thái độ trong cuộc sống, cách cư
xử, thói quen làm việc cũng như cả chính trị và kinh doanh.
iii. Giá trị và thái độ.
• Giá trị : là niềm tin vững chắc làm cơ sở để con người đánh giá điều đúng, sai, tốt, xấu,
quan trọng hay không quan trọng
• Thái độ : là những khuynh hướng không đổi của sự cảm nhận và hành vi theo một hướng
riêng biệt về một đối tượng
iv. Thói quen và cách cư xử
• Thói quen là cách thực hành phổ biến hoặc đã hình thành từ trước, là cách sự vật được
làm
• Cách cư xử là những hành vi được xem là đúng đắn trong xã hội riêng biệt, được dùng
khi thực hiện chúng
v. Các yếu tố vật chất
• Là những đối tượng con người làm ra như hạ tầng kinh tế, xã hội, tài chính…
• Những tiến bộ kỹ thuật : tác động đến tiêu chuẩn mức sống và giải thích những giá trị,
niềm tin của xã hội
vi. Thẩm mỹ
: thị hiếu nghệ thuật của văn hóa (hội họa, kịch nghệ, âm nhạc). Nhiều khía
Nhật là một quốc gia phức tạp nhất thế giới về tôn giáo. Ở đây cùng đồng thời tồn tại
các phong tục tập quán có nguồn gốc và phong cách khác nhau. Vd: Người Nhật đến lễ ở
các đền đạo Shito (thần đạo) vào năm mới, đi thăm các chùa chiền của đạo phật vào mùa
xuân, t
ặng quà nhau vào diệp lễ noel theo cách của đạo thiên chúa. Nhưng nghi lễ machay
lại theo đạo phật, có những người theo một lúc 2-3 đạo, theo thống kê vào 1995 của cuốn
niên giám về hiệp hội văn hóa thì tín đồ của tất cả các giáo phái cộng lại là 219,83 triệu,
gấp đôi dân số lúc bấy giờ của Nhật là 120 triệu.
iii. Giá trị và thái độ:
• Ở người Nhật điển hình ,bạn không khó để nhận thấ
y được hai phẩm chất cơ bản là lòng
tự trọng và cung cách chu đáo trong quan hệ giao tiếp.
Văn Hóa
Hoạt động
marketin
g
tác động lên chính hành vi của
các chủ thể kinh doanh/các
nhà ho
ạ
t đ
ộ
n
g
th
ị
trư
ờ
n
g
ở Nhật (vợ ,chồng và1 hoặc 2 con) người chồng rất ít
thời gian ăn tối với gia đình và chăm lo cho con cái vì công viêc.Vợ là người nắm tiền
chi tiêu trong gia đình . Tuy nhiên cả vợ và chồng đều có quỹ riêng cho hoạt động cá
nhân của mình.
• Một vài lưu ý trong kinh doanh với người nhật:
o Nghe điện thoại là tiêu chuẩn đánh giá công ty, khi nghe điện thoại người nhân
viên không đươc để khách chờ quá 2 tiếng chuông. N
ếu vì quá bận mà khiến
khách chờ quá mức ở trên thì phải xin lỗi ngay câu đầu tiên.
o Giữ đúng hẹn:là một yêu cầu bắt buộc,việc đến trước 5 phút được xem là ý thức cơ
bản với người đã đi làm. Có lẽ vì lý do này mà có người cố tình vặn nhanh đồng
hồ của mình 3-5 phút.
o Người Nhật rất coi trọng hình thức, và họ xem đó là phép lịch sự thể hiện việc
giữ gìn phẩm chất của con người và đương nhiên được coi trọng trong môi trường
kinh doanh.trang phục yêu cầu có phân khác nhau tùy theo yêu câu từng nghành
và mức độ công việc khác nhau. Thường người làm giao dịch cần phải lưu ý,việc
gây ấn tương trong lần gặp đầu tiên là rất quan trọng.
o Thỏa thuận kinh doanh không nhất thiết phải trong phòng , có khi là nhưng bữa
ăn.Người Nhật thường bàn việc ở những bữa ăn tối, ở
đó họ sẽ bàn công việc đến
tận chi tiết của vấn đề.
o Những ngày nghỉ trong năm: Có 15 ngày lễ đươc quy định bởi luật Nhật bản.Nếu
như ngày lễ đó rơi váo ngày CN thì ngày thứ 2 kế tiếp sẽ đươc nghỉ bù.
Ngày mồng một tết 1-1(khá nhiều công ty nghỉ tứ 30- 4/1)
Ngày lễ thành nhân (ngày CN thứ 2 của tháng 1)
8
Ngày quốc khánh (11/2)
Ngày xuân phân (21/3) lễ ca tung thiên nhiên.
Ngày Xanh (29/4) ngày sanh cua Đế Chiêu Hoàng.
tập trung hóa và phân quyền trong quản lý giáo dục các cấp. Bộ giáo dục Nhật Bản tập
trung thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong hoạch định chính sách, xây dưng thể chế
và ban hành các chuẩn mực giáo dục. Chính quyền , cơ quan giáo dục địa phương các cơ
sở giáo dục có trách nhiệm và quyền hạng rất lớn trong quá trình quản lý và thực thi hoạt
động giáo dục trong quả
n lý.
2. Văn hóa Hàn Quốc.
i. Ngôn ngữ:
Người Hàn Quốc có ngôn ngữ và hệ thống chữ cái duy nhất gọi là Hangeul. Hệ thống
chữ cái này được xây dựng từ năm 1446 bởi vị vua anh minh của triều đại Joseon - vua
Sejong. Là mẫu chữ duy nhất của hệ thống chữ viết mà không bị ảnh hưởng bởi các mẫu
chữ khác. Với 14 phụ âm và 10 nguyên âm cho phép việc ghi lại bất kỳ một chữ vi
ết hay
9
một âm nào của tiếng Hàn. Vì tương đối đơn giản và có số lượng giới hạn, hệ thống chữ
cái này rất dễ học, nạn mù chữ hầu như không tồn tại ở Hàn Quốc. Hangeul nổi tiếng thế
giới như một hệ thống chữ viết chuẩn, hoàn hảo và rất phù hợp với thời đại giao tiếp như
ngày nay.
ii. Tôn giáo:
• Hàn Quốc là mộ
t nước đảm bảo tự do tôn giáo. Tại đây, tôn giáo tín ngưỡng và các hoạt
động liên quan được tự do phát triển mạnh mẽ.
• Về mặt lịch sử, người Hàn Quốc sống dưới ảnh hưởng của đạo Shaman, đạo Phật, đạo
Lão, đạo Khổng, và trong lịch sử hiện đại, lòng tin ở đạo Thiên Chúa đã xâm nhập vào
sâu trong đất nước Hàn Quốc với những yếu tố quan trọng có thể
làm thay đổi cảnh
quan tinh thần của con người. Nhịp điệu công nghiệp hoá nhanh chóng diễn ra trong vài
thập kỷ so với vài trăm năm ở châu Âu, đã gây ra những lo ngại và xa lạ lớn phá vỡ sự
yên bình trong tâm hồn người Hàn Quốc, làm cho họ tìm kiếm sự bình an trong tôn
nhiều thay đổi lớn do quá trình hiện đại hoá xã hội diễn ra nhanh chóng. Tuy nhiên, bất
chấp những thay đổi này, nhiều người cho rằng, dù cho có rất nhiều nhà cao tầng nhưng
Hàn Quốc vẫn là một trong những quốc gia mạng đạm dấu ấn Nho giáo nhất trên thế
giới. Lối sống truyền thống của quá khứ và các phong tục được gìn giữ lâu đời vẫn tiếp
tục gây ảnh hưởng đối với lối s
ống hiện đại mà người Hàn Quốc mới chấp nhận trong
thời gian gần đây.
• Trong quá khứ, vài thế hệ thường chung sống trong một nhà và các gia đình muốn có
nhiều con để mong có được tình trạng ổn định và an ninh cho gia đình trong tương lai.
Không có gì là lạ khi có khoảng 12 người hay đông hơn thế cùng chung sống trong một
gia đình. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu hướng chuyển ra đô thị sống và sự
phổ
biến của các khu chung cư kiểu mới đồng nghĩa với việc các cặp vợ chồng mới
cưới có khuynh hướng ra ở riêng thay vì sống chung với các thành viên khác trong gia
đình. Khuynh hướng này làm gia tăng số lượng gia đình hạt nhân ở Hàn Quốc.
• Theo truyền thống, người đàn ông lớn tuổi nhất trong gia đình được coi là người nắm giữ
quyền hành tối cao. Trật tự trong gia đình được duy trì thông qua nguyên tắc thứ bậ
c
theo đó con cái phải vâng lời cha mẹ, vợ nghe lời chồng và tớ phải nghe lời chủ. Sự tôn
kính người lớn tuổi là một truyền thống lâu đời ở Hàn Quốc.
• Cha mẹ là quyền lực tối cao và cần được con cái tôn trọng và vâng lời. Tuy nhiên, đạo
hiếu của một người không chỉ liên quan đến mối quan hệ của người đó với cha mẹ mình
mà còn liên quan đến cách cư xử đố
i với người khác và cách cư xử trong xã hội.
• Người Hàn Quốc có mối quan hệ rất gắn bó giữa họ hàng và các thành viên trong họ tộc.
Lòng tôn kính tổ tiên là rất quan trọng đối với hệ thống gia tộc.Những lễ nghi tưởng nhớ
đặc biệt dành cho ông bà, cụ kỵ được tiến hành ngay tại nhà vào ngày giỗ của họ trong
khoảng khoảng từ 1 đến 2 giờ sáng.Các thành viên trong gia tộc thường tranh thủ những
buổ
i tụ họp như thế này để tổ chức cuộc gặp gỡ hàng năm. Người Hàn Quốc cũng rất
lên thành 52914 vào năm 2007. Hệ thống giáo dục được cải cách, điều kiện vệ sinh,
nhà ở được đảm bảo…
• Khoa học kỹ thuật tiên tiến, cơ sở hạ tầng tài chính như: hệ thống ngân hàng, bảo hiểm ,
dịch vụ… cũng rất phát triển.
vi. Thẩm mỹ:
Thẩm mỹ của người Hàn Quốc được thể hiện rất sâu sắc qua các đặc trưng văn hóa họ
như Hanbok, ẩm thực, lễ hội, âm nhạc, hội họa, nghệ thuật gấp giấy, nghệ thuật thêu….
Tất cả cho thấy con người Hàn Quốc khá cầu kỳ , tao nhã, thích các lễ hội sôi động và
những đồ
vật đầy màu sắc. Họ cũng rất tỉ mỉ và chi tiết trong các sản phẩm của mình.
vii. Giáo dục:
• Có thể chia hệ thống giáo dục ở Hàn Quốc thành 5 cấp độ: mẫu giáo, giáo dục bậc tiểu
học, trung học, Cao đẳng, Đại Học và cuối cùng là sau Đại Học.
• Nếu là nhân dân Hàn Quốc thì bất cứ ai tùy theo năng lực của bản thân đều có thể được
họ
c tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Và Hàn Quốc đang duy trì hệ
thống giáo dục kiểu đơn tuyến, có nghĩa là chỉ duy trì một hệ thống trường học mà thôi
và Hàn Quốc đang chọn hệ thống hiện hành là 6-3-3-4.
• Theo đó, cơ chế trường học của Hàn Quốc là: tiểu học 6 năm, trung học cơ sở 3 năm,
trung học phổ thông 3 năm, Đại học 4 n
ăm(trường dạy nghề 2-3 năm). Các trường đại
học cũng đang mở các chương trình thạc sĩ và tiến sĩ từ 2-3 năm.
• Ngày nay, Hàn Quốc là một trong số những nước có tỷ lệ mù chữ thấp nhất trên thế giới
(2 %) và tỉ lệ hoàn thành các chương trình học hệ cao đẳng khá cao: 58 % người trưởng
thành trong độ tuổi từ 25 đến 34 có bằng đào tạo 2 hoặc 4 năm. Hệ
thông giáo dục được
phát triển khắp nơi trên cả nước và theo một tiêu chuẩn chung. Theo chương trình đánh
giá học sinh quốc tế - do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thế giới (OECD) khởi
12
: Sự chấp nhận sản phẩm bị ảnh hưởng bởi các tiêu chuẩn thái độ và giá trị.
Nhật Bản và Hàn Quốc, hai quốc gia có xu hướng hướng đến sự hoàn thiện về hình
thức, họ hướng tới thể hiện sự giàu có và hiểu biết. Vì vậy, họ sẽ có xu hướng lựa
chọn những sản phẩm thời trang hợp mốt, những chiếc xe hơi thương hiệu và mong
mu
ốn ăn uống ở nơi sang trọng. Tấn công vào hai thị trường này, sản phẩm nên có
tính cạnh tranh cao về hình thức và thương hiệu. Người Nhật Bản và Hàn Quốc sẵn
sàng bỏ ra giá cao để sở hữu sản phẩm mà họ cho là thể hiện giá trị bản thân.
• Price : chính sách giá thường bị ảnh hưởng bởi các thái độ văn hoá đối với sự thay
đổi thông qua cái gọi là “giá tâm lý”. Ở một số nơ
i, sự thay đổi thường xem là tích
cực nên hàng thời trang mốt được đặt giá rất cao vì nó tượng trưng cho sự thay đổi.
Nhưng ở nơi khác sự thay đổi có thể đựơc xem là không tốt, một mức giá cao hơn cho
13
sản phẩm mới thường chỉ làm sản phẩm trở nên quá đắt cho người tiêu dùng bình
thường. Nhật Bản và Hàn Quốc là 2 quốc gia thuộc mô típ thứ nhất. Hàn Quốc và
Nhật Bản là hai quốc gia tạo ra xu hướng thời trang có sức ảnh hưởng to lớn trên Thế
Giới. Ví dụ như phong cách thời trang đường phố Harajuku của Nhât, hay xu hướng
thời trang dẫn đầu và luôn thay đổi như tắc kè bông của Hàn Quốc. Chỉ từ m
ột bộ
phim truyền hình ăn khách, thời trang xứ Hàn đã tạo ra “lốc Hàn Quốc” như phong
cách NaNa đơn giản hưng thu hút từ bộ phim truyền hình nổi đình nổi đám gần đây
“Hunter city”. Và giới trẻ Hàn hiện nay đang chạy đua theo mốt bất kể gía cả cao hay
thấp.
• Promotion: chính sách xúc tiến hỗn hợp bị ảnh hưởng sâu sắc bởi vấn đề ngôn ngữ.
Chẳng h
ạn, các quảng cáo có thể cần phải thay đổi vì một chiến dịch hoặc biểu ngữ
dùng trong nền văn hoá nào có thể có ý nghĩa xấu hổ ở một nền văn hoá khác.
Đối với Nhật Bản và Hàn Quốc, hai quốc gia có nét tương đồng lớn về cách cư xử và
về văn hóa ảnh hưởng đến 4P trong hoạt động Marketing của Hàn Quốc và Nhật Bản sẽ
được phân tích như sau:
• Product: Sự chấp nhận sản phẩm bị ảnh hưởng bởi các tiêu chuẩn thái độ và giá trị.
o Nhật bản : Thái độ và giá trị thể hiện rõ bởi những yếu tố tạo nên bản sắc của con
người Nhật là ở lòng tự trọng, cung cách chu
đáo trong quan hệ giao tiếp, chữ tín
và ý thức kỷ luật. Chính những yếu tố này ảnh hưởng rất nhiều vào việc chấp nhận
sản phẩm ở thị trường Nhật.
Một ví dụ điển hình là để có thể xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Nhật thì
bên phía nhà xuất khẩu phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn khắc khe. Nếu xuất khẩu
được vào thị trường này thì khi đ
ó nhà xuất khẩu sẽ là đối tác tin câỵ của Nhật và
nếu có sai sót hoặc không giữ uy tín khi làm ăn với người Nhật thì họ sẽ không
hợp tác ngay lập tức đồng thời họ sẽ có những hình thức kỷ luật thẳng tay.
Cụ thể là ở các tiêu chuẩn về nhập khẩu rau vào thị trường Nhật được quy
định rất cụ thể và rõ ràng ở Luật JAS đồng thời Nhật Bả
n rất thận trọng đối với
các loại côn trùng trên rau như: ruồi hại hoa quả, bọ cánh cứng trên lá, nấm mốc.
Vì thế, khi phát hiện thấy những vùng nào, những quốc gia nào có biểu hiện các
loại sâu bọ trên thì mọi loại rau tươi và đông lạnh ở đó sẽ không được xuất khẩu
vào Nhật Bản. Ngoài ra, hàng hóa sẽ không được phép nhập khẩu vào thị trường
Nhật Bản nếu không có Giấy chứ
ng nhận vệ sinh thực phẩm của Chính phủ nước
xuất khẩu cấp.
Đặc biệt là khi kiểm tra tại cảng nhập khẩu nếu phát hiện có dấu hiệu lây
nhiễm hay ký sinh trùng trên sản phẩm thì hàng hóa sẽ bị gởi trả lại người xuất
khẩu hoặc bị hủy bỏ tùy theo kết quả kiểm tra.
o Hàn Quốc: hình thức và sĩ diện lại là một phầ
n quan trọng trong thái độ và giá trị
nhằm đáp ứng nhu cầu xài hàng hiệu của cư dân nước này, và sáu năm sau đó là
Louis Vuitton.Với sự hiện diện của các cửa hàng thời trang cao cấp tại Nhật Bản,
người dân nước này đã bắt đầu có dịp chi tiêu thỏa thích ngay tại quê nhà trong khi
vẫn không ngừng vung tay mua sắm tại các quốc gia châu Âu.
Căn bệnh “nghiệ
n mua sắm” của người Nhật đối với các nhãn hàng cao cấp
phương Tây được thể hiện vào thập niên 60-70 với sự tăng trưởng đáng kinh ngạc
về kinh tế, tạo ra một tầng lớp trung lưu mới – những người có nhu cầu thể hiện sự
thành đạt của bản thân. Và cho đến ngày nay nó đã trở thành thói quen của người
Nhật : quần áo, trang sức hay phụ kiện mà họ mặc trên người càng
đắt tiền bao
nhiêu thì đẳng cấp của chủ nhân càng được tôn thêm bấy nhiêu.
o Còn về người Hàn thì lại có một thói quen mua sắm và chấp nhận giá cả khác biệt.
“Kuk-nê-san” là cụm từ rất dễ thấy khi đi mua hàng ở Hàn Quốc. Gốc Hán của nó
là “quốc nội sản”, còn dịch tiếng Việt đơn giản là “hàng nội”. Đó có lẽ là một
trong những cụm từ gợi lòng tự hào, tình cảm dân tộc rõ nét nhất
đối với người
Hàn Quốc.
Từ hàng điện tử, quần áo, giày dép, đồ dùng gia đình đến thực phẩm, người Hàn
thường tự hào trưng biển “Kuk-nê-san” như khẳng định chất lượng và sự tin cậy
để hấp dẫn khách hàng. Người mua sẽ rất dễ dàng mở ví để trả cho một món hàng
nội dù nó đắt hơn hàng nhập khẩu nhiều lần.
Thịt bò là một ví dụ đi
ển hình của hiện tượng này. Giá thịt bò nội thường đắt hơn
từ ba đến vài chục lần so với thịt bò nhập ngoại. nhưng khách mua vẫn nườm nượp
xếp hàng, nhất là vào các dịp lễ, tết khi người ta cần hàng sang để làm quà biếu.Họ
16
giải thích rằng thịt bò nội mềm, bổ, ăn ngọt và hương vị đặc biệt. người Hàn nuôi
bò rất tốn công sức và thời gian vì họ chăn thả và cho bò ăn những thứ bỗ dưỡng
thì lên tiếng ủng hộ duy trì hệ thống phân phối cũ vì hệ thống này đã được hình
thành trong một thời gian dài, đã kết hợp được các khía cạnh về văn hóa, kinh tế,
xã hội của người Nhật Bản vì với mật độ dân cư đông đúc, các c
ửa hàng bán lẻ sẽ
là điểm mua sắm ưa thích, không phải lái xe đến các vùng ngoại ô xa xôi, nơi có
các siêu thị lớn.
o Hàn Quốc: hạn chế mua sắm hơn và họ thường mua ở các trung tâm mua sắm
lớn. Trong những năm gần đây mức sống của người dân Hàn ngày càng được cải
17
thiện thông qua mức thu nhập bình quân ngày càng gia tăng nhưng bên cạnh đó,
thời gian rãnh rỗi của họ cũng ít dần nên họ không có thời gian cho việc mua sắm.
Sau khi công nghiệp hóa phát triển nhanh chóng vào thập kỷ 60 thế kỷ trước,
người Hàn Quốc bắt đầu có một cuộc sống hết sức bận rộn. Họ phải hy sinh thời
gian ở cùng với gia đình và bạn bè để làm thêm ngoài giờ, từ đó mất đ
i một phần
cảm giác hạnh phúc.
Báo chí nước ngoài cũng đã xác nhận hiện thực này, tạp chí Forbes của Mỹ năm
2009 cũng từng đưa tin cho biết, Hàn Quốc là nước cần cù nhất thế giới, thông
thường một nhân viên có thời gian làm việc là 2357 giờ/năm, tức là tính trung
bình họ phải làm việc 6,5 giờ/ngày. Trong khi đó, người Mỹ thời gian làm việc
bình quân chỉ có 1797 giờ/năm.
Chính những vấn nạn này mà ở
Hàn ngày càng có nhiều trung tâm mua
sawmslowns mọc lên để đáp ứng nhu cầu mua sắm trong nước, điển hình là trung
tâm mua sắm nổi tiếng 39 tầng nằm ở phía đông thủ đô Seoul.
• Promotion: Chính sách xúc tiến hỗn hợp bị ảnh hưởng sâu sắc bởi vấn đề ngôn ngữ.
o Nhật Bản :Tại Nhật Bản, có 12 ngôn ngữ thuộc họ ngôn ngữ Nhật Bản, một ngôn
ngữ bản x
ứ không thuộc ngữ hệ Nhật Bản là tiếng Ainu và vài ngoại ngữ như