vai trò của tri thức khoa học công nghệ với sự ra đời của nền kinh tế tri thức - Pdf 10

1. Luận chứng về tri thức và tri thức khoa học công nghệ .
1.1Tri thức là gì?
‘Từ điển tiếng việt” viện ngôn ngữ học định nghĩa “Tri thức là những
hiểu biết có hệ thống về sự vật, hiện tượng tự nhiên trong xã hội”.
Theo quan điểm triết học,tri thức được hiểu là kết quả của quá trình nhận
thức,là phản ánh trung thực của thực tiễn vào tư duy con người, tính đúng đắn
của nó thể hiện bằng sự kiểm nghiệm thực tế, đồng thời phù hợp với các
nguyên lí của lí luậnvề nhận thức trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng.
Hiện nay, với những tác động mạnh mẽ của các tiến bộ khoa học và
công nghệ, đặc biệt là của khoa học công nghệ thông tin và truyền thông, thế
giới đang biến chuyển tới một nền kinh tế và xã hội mới mà thông tin và tri
thức được xem là nguồn lực chủ yếu. Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay,
điều đó cũng tác động mạnh mẽ đến các nước đang phát triển. Như ta đã nói
nó mang đến cho ta cả những cơ hội và những thách thức. Cơ hội sẽ tuột qua
nếu không đủ bản lĩnh và hiểu biết để tận dụng, còn thách thức thì đầy
nghiêm khắc và nghiệt ngã. Với sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức thì kinh
tế các nước có phát triển hay không điều đó còn phụ thuộc vào bản lĩnh, ý chí
phát huy tiềm năng tri thức trong mỗi đất nước,phụ thuộc vào khả năng mở
rộng một môi trường tự do và lành mạnh cho các hoạt động giao lưu thồng tin
tri thức trong mỗi mước.Máy tính điện tử, công cụ chủ yếu của công nghệ
thông tin hiện đại là loại máy móc thay thế con người trong các hoạt động lao
động trí óc. Chất lượng và khối lượng của các hoạt động trí óc này không
ngừng tăng lên theo sự tiến nhanh chóng khả năng lưu trữ, xử lý thông tin của
máy tính và khả năng tính toán của khoa học công nghệ ngày càng được phát
triển. Sự phong phú về thông tin dữ liệu cùng khả năng kịp thời khai thác
chúng đã mang đến năng suất và chất lượng cho công tác quản lý, hoạt động
kinh doanh và phát triển sản xuất, dịch vụ. Nhưng yêu cầu về thông tin trong
các hoạt động đó đặc biệt là chất lượng trong công tác quản lý đòi hỏi chất
lượng cao hơn, người làm quyết định không những chỉ cần tri thức mà cần
phải hiểu rõ bản chất của tri thức để hỗ trợ việc làm của mình. Hoạt động
nhận thức của con người bao gồm tìm kiếm tri thức để tăng cường hiểu biết tự

2.Luận chứng về vai trò của tri thức và tri thức khoa học công nghệ đối
với sự phát triển kinh tế.
2.1Luận chứng về vai trò của tri thức với sự phát triển của kinh tế.
Tri thức là nền tảng, là động lực để phát triển kinh tế,là nhân tố đóng vai
trò hết sức quan trọng trong việc góp phần tạo nên mọi thành tựu và tiến bộ
trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại.
2
Tri thức là nhận thức và kinh nghiệm mà loài người thu được trong quá
trình cải tạo thế giới. Do vậy trong bất kì giai đoạn nào con người cũng luôn
ứng dụng tri thức vào việc phát triển kinh tế. Trong các hình thái kinh tế khác
nhau, mức độ tri thức được ứng dụng sâu rộng cũng khác nhau, cho nên tác
dụng cũng khác nhau.
Trong ba thế kỉ qua, với những thành tựu kì diệu về phát triển khoa học
và công nghệ đã đưa loài người từ nền văn minh nông nghiệp(văn minh gốc
tự nhiên) vượt qua nền văn minh công nghiệp(văn minh gốc kĩ thuật) và ngày
nay đang tiến vào nền văn minh trí tuệ(văn minh gốc con người). Trong nền
văn minh này động lực thúc đảy nền sản xuất,nền kinh tế phát triển không
phải là vốn, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động giản đơn mà là tri thức. Tri
thức tồn tại trong bộ óc con người, vai trò tự chủ con người là tiền đề để con
người phát huy đầy đủ tri thức. Vì vậy nền văn minh trí tuệ, tri thức trở thành
động lực lớn nhất của nền kinh tế. Khi chưa có chữ viết thi kĩ năng tri thức
của con người được truyền qua tay, qua miệng. Sau khi nắm được chữ viết
,nhờ chữ viết mà người ta có thể nắm được kĩ năng tri thức rộng hơn,từ đó
xuất hiện một tầng lớp trí thức chuyên truyền bá tri thức và sáng tạo tri thức.
Sự biến đổi tư duy và hành vi của cộng đồng nhân loại chính là tiêu chí đổi
mới tư duy của họ. Tri thức không giới hạn ở bất cứ một lĩnh vực nào, nó
được thể hiện ở mọi lĩnh vực, đặc biệt là tri thức có vai trò rất quan trọng
trong lĩnh vực kinh tế. Tri thức thực sự có vai trò rất quan trọng cho sự phát
triển kinh tế bởi mọi việc chúng ta làm đều phụ thuộc vào tri thức. Nếu chúng
ta muốn ngày mai có cuộc sống sung túc hơn, muốn nâng cao mức

chủ trương,chính sánh đúng đắn của đảng và nhà nước Việt Nam thì chúng ta
luôn hướng tới một nền kinh tế phát triển dựa trên tri thức sẽ có mặt tại Việt
Nam, từ đó giúp kinh tế Việt Nam phát triển hơn.
2.2. Luận chứng vai trò của tri thức khoa học công nghệ với sự phát triển
của kinh tế.
Tri thức khoa học công nghệ đóng vai trò quan trọng tới sự phát triển
kinh tế, góp phần tụ động hoá nền kinh tế giúp kinh tế phát triển ngày càng
mạnh, đạt hiệu quả cao.
Hiện nay công nghệ thông tin ngày càng trở lên quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế. Điều này thể hiện qua việc xuất hiện thần kì của cuộc cách
mạng khoa học_công nghệ thế kỉ 20, cuộc cách mạng khoa học thần kì của
thế giới loài người. Chính cuộc cách mạng này đã đưa loài người tới tầm phát
triển cao hơn rất nhiều. Cuộc cách mạng náy xuất phát chủ yếu từ kinh
nghiệm, từ kĩ thuật_ là thành tựu tuyệt vời của trí tuệ con người, được kết tinh
trong một khối lượng đồ sộ của tri thức được dựa trên nền tảng của cáuatri
thức rất trừu tượng như toán học hay vật lý học. Sự ra đời của máy điều khiển
tự động, trong đó có máy vi tính là quan trọng nhất bởi nó có thể hoạt động
thay cho trí óc con người. Sau khi có máy vi tính và hệ thống thông tin liên
lạc hiện đại, tri thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng và khi đó người ta
4
nói đến sự bùng nổ của tri thức khoa học công nghệ. Muốn có tri thức khoa
học công nghệ, một mặt phải có tri thức khoa học cơ bản, và mặt khác không
thể thiếu kinh nghiệm, những thủ thuật chuyên môn. Tri thức khoa học công
nghệ với những yếu tố như trên đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh
tế. Nhờ có tri thức khoa học công nghệ mà đã có nhiều ngành công nghệ cao
ra đời như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học. Những ngành công nghệ
này đã tạo ra bước phát triển mới trong nền kinh tế. Đặc biệt là khoa học công
nghệ thông tin với sự ra đời của máy vi tính như đã nói ở trên và cao hơn nữa
là sự ra đời của những chú robot, mà tương lai sẽ đóng góp nhiều cho sự phát
triển của kinh tế tri thức sau này. Chính sự xuất hiện của tri thức khoa học

động cơ bắp giảm đi trong khi hàm lượng tri thức, hao phí lao động tri óc tăng
lên.
Tuy nhiên cũng có thể hiểu đơn giản kinh tế tri thức là là nền kinh tế
trong đó khoa học, kĩ thuật và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, là yếu tố hang đầu quyết định việc sản xuất ra của cải,sức cạnh tranh và
triển vọng phát triển.
Như vậy trong nền kinh tế tri thức, vấn đề không chỉ ở việc tạo ra tri
thức,mà phải thu nhận, sử dụng và truyền bá tri thức. Kinh tế tri thức không
chỉ bao gồm duy nhất các lĩnh vực lao động với công nghệ cao, sử dụng lao
động có tri thức và lao động có kĩ năng cao là chính mà còn là quá trình tri
thức xâm nhập và chi phối tất cả các hoạt động kinh tế. Nghĩa là không phải
tất cả các ngành đều dựa tên nền tảng công nghệ kĩ thuật cao, song điều chắc
chắn là tất cả đều hoạt động dưới sự chi phối của tri thức.
Nền kinh tế tri thức được nuôi dưỡng bằng năng lượng vô tận và năng
động là tri thức nên phát triển nhanh và khả năng bền vững rất cao.
Môt số ngành kinh tế tri thức như:dịch vụ khoa học và công nghệ, dịch
vụ tin học, các ngành công nghiệp công nghệ cao.
Tiêu trí cơ bản của một nền kinh tế tri thức là:
_Về cơ cấu GDP:hơn 70% do các ngành sản xuất, dịch vụ và công nghệ
cao.
_Cơ cấu giá trị gia tăng: hơn 70% do lao động trí óc đem lại.
_cơ cấu lao động : hơn 70% là những công nhân có tri thức.
_Cơ cấu tư bản: hơn 70% là vốn con người.
Ngoài ra còn có các tiêu trí về giáo dục và văn hoá.
3.2. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức.
Ở trình độ kinh tế tri thức những nganh dựa vào tri thức, dựa vào những
thành tựu mới của khoa học,công nghệ có tác dụng to lớn tới sự phát triển xã
hội. Chẳng hạn như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học…; nhưng cũng
6
có thể là những nghành kinh tế truyền thống được ứng dụng khoa học công

mạnh “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi
thế của nước ta dể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá _hiện đại hoá đát nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh
7
tế tri htức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hoá _hiện đại
hoá.
3.3Tác động của xu thế phát triển kinh tế tri thức đến quan hệ kinh tế
quốc tế.
Quá trình chuyển từ kinh tế công nghệ công nghiệp sang kinh tế tri thức
có tác động mạnh đến quan hệ kinh tế quốc tế,từ phương thức hoạt động đến
nội dung,cấu trúc các mối quan hệ đó. Ta có thể đưa ra một số tác đông sau:
_Kinh tế tri thức đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá, làm cho nó trở thành
xu thế bao trùm quan hệ quốc tế hiện đại. Do kinh tế tri thức chủ yếu dựa trên
việc tạo ra và sử dụng tri thức vốn mang tính chất năng động, lan toả không
biên giới, trước hết là khoa học_ công nghệ nên lực lượng sản xuất thế giới và
các hoạt đọng kinh tế của con người ngày càng được đa dạng hoá, đa phương
hoá trên phạm vi toàn cầu.
_Qúa trình phát triển kinh tế tri thức làm cho phân công lao động trở lên
sâu sắc và rộng khắp toàn cầu. Cùng với quá trình chuyển từ kinh tế công
nghiệp sang kinh tế tri thức, tri thức mà trước hết là khoa học công nghệ sẽ
phát triển nhanh chóng, làm cho phân công lao động phát triển cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu. Bởi vì trong thời đại này khoa học_công nghệ và con
người sẽ áp đảo các lợi thế về tài nguyên và đất đai…Một xu thế khác là sự
phân công chuyên sâu trong hợp tác quốc tế cũng được tăng cường theo
hướng ngày càng có nhiều công ty đi chuyên sâu vào sản xuất một mặt hàng,
một chi tiết cụ thể của một sản phẩm hoặc chỉ cung cấp một dịch vụ chuyên
môn nhất định.
_Phát triển kinh tế tri thức sẽ làm thay đổi sâu sắc cơ cấu kinh tế thế giới
và cấu trúc của quan hệ kinh tế quốc tế. Trong những năm 60, cơ cấu sản
phẩm thế giới và các ngành nông nghiệp_công nghiệp_dịch vụ có tỉ lệ là

chủ nghĩa. Khi kinh tế tri thức phát triển lan rộng sẽ làm sâu sắc thêm những
mâu thuẫn cơ bản của chủ nhĩa tư bản,mặt khác sẽ tạo ra tiền đề vật chất to
lớn cho một xã hội cao hơn xã hội tư bản chủ nghĩa.
3.4. Do ở ác nước tư bản chủ nghĩa, công nghệ thông tin được khai thác
một cách mạnh mẽ ở mọi lĩnh vực nên thu được một lợi nhuận cao khiến một
số người ngộ nhận rằng : Công nghệ thông tin là nhân tố quyết định đối với
sự ra đời của nền kinh tế tri thức. Điều này trái với quan điểm duy vật lịch sử
luôn cho rằng : Công nghệ thông tin chỉ góp phần tụ động hoá công tác quản
lý các hoạt động trong xã hội và có đóng góp to lớn trong việc nâng cao năng
suất xã hội.
Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ 2 đã đem lại bước phát triển
đột biến cho kinh tế loài người với sự ra đời của rất nhiêu phương tiện sản
xuất mới hiện đại. Cuộc cách mạng khoa học này đã đưa các quốc gia công
9
nghiệp phát triển đến xã hội tin học bằng cuộc cách mạng tin học. Người ta
ước tính rằng trong thế kỉ 20 toàn bộ lượng thông tin, tri thức tăng thêm
khoảng 1000 lần so với đầu thế kỉ và vượt trội hơn tất cả các tri thức mà loài
người tích luỹ được trong suốt lịch sử phát triển thế kỉ 19 trở về trước. Đây
chính là bước ngoặt lớn cho sự phát triển của kinh tế thế giới.
Với sự xuất hiện của tri thức khoa học công nghệ đã đưa loài người dần
tiến tới một nền kinh tế mới, đó là kinh tế tri thức.
Tri thức khoa học_công nghệ cùng với lao dộng kĩ năng là lực lượng sản
xuất thứ nhất, là lợi thế phát triển quyết định của nền kinh tế tri thức.
Trí tuệ con người được thể hiện trong tri thức khoa học công nghệ cùng
với kĩ năng lao động cao là lợi thế có ý nghĩa quyết định triển vọng phát triển
của mọi quốc gia hay cụ thể hơn là của mỗi người trong thời đại ngày nay.
Lịch sử phát triển hiện đại chứng tỏ rằng các lợi thế tự nhiên như tài
nguyên thiên nhiên, nhân công rẻ do thiếu kĩ năng, gắn với lao động đơn giản
thuần tuý ngày nay giảm bớt vai trò trong khi đó trình độ khoa học_công nghệ
và nguồn nhân lực tri thức là những nhân lực có kĩ năng cao ngày càng đóng

cuộc cách mang khoa học_công nghệ hiện đại, thế kỉ của nền kinh tế tri thức.
Nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Anh…đã và đang củng cố được vị trí của
mình trên trường quốc tế ngày một vững mạnh hơn.Vậy với một đất nước
đang phát triển như Việt Nam liệu chúng ta có thể tận dụng được cơ hội này
để phát triển kinh tế nhanh chóng hội nhập với kinh tế thế giới được hay
không? Điều này đòi hỏi mỗi người phải dày công nghiên cứu, tìm tòi nắm
vững kiến thức khoa học hiện đại, rèn luyện kĩ năng thực hành và vận dụng
sang tạo vào hoàn cảnh đất nước con người Việt Nam, trở thành tài năng trẻ
ngay từ khi còn ngồi trên nghế nhà trường.
Đất nước ta đang trên con đường hội nhâp nền kinh tế thế giới vì vậy
khoa học công nghệ đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát
triển nền kinh tế tri thức. Trước mắt chúng ta là rất nhiều cơ hội và thách
thức. Và bằng sự nỗ lực cuả mỗi cá nhân trong xã hội chúng ta đang quyết
tâm ngày một đưa đất nước phát triển hơn, hội nhập hơn với nền kinh tế thế
giới.
Với tôi khi vẫn còn đang ngồi trên nghế nhà trường thì nhiệm vụ trọng
tâm nhất vẫn là nỗ lực học hành để sau này trở thành một tri thức lớn góp
phần cho sự phát triển kinh tế của đất nước.
11
MỘT SỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO
_GIÁO TRÌNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ_ NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC
KINH TẾ QUỐC DÂN
_TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT_ NHÀ XUẤT BẢN ĐÀ NẴNG_ TRUNG
TÂM TỪ ĐIỂN HỌC _HÀ NỘI_ĐÀ NẴNG NĂM 2000
_CUỐN “BƯỚC CHUYỂN SANG NỀN KINH TẾ TRI THỨC Ở MỘT
SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY CỦA NHÀ XUẤT BẢN GIÁO
DỤC (LƯU NGỌC ANH CHỦ BIÊN
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status