LƯỢC SỬ VIỆT NGỮ HỌC - Khái quát về sự hình thành và phát triển của Việt ngữ học (Phần 2) doc - Pdf 20

Khái quát về sự hình thành và phát triển
của Việt ngữ học (Phần 2)
Nửa đầu thế kỉ XIX trở về trước, những quan sát, nghiên cứu về tiếng Việt còn rất
sơ sài. Điều này có nguyên nhân khách quan của nó. Trước hết, vì chức năng xã
hội của tiếng Việt thời cổ trung đại còn hạn chế nên nhu cầu phải nghiên cứu nó
không cao.
Thứ hai, muốn nghiên cứu tiếng Việt phải có phương tiện là chữ viết phát triển
nhưng trong khi đó, cả chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ thời kì này đều có
những hạn chế nhất định. Ở Việt Nam, không mấy người có đủ trình độ tiếng Hán
để có thể dùng chữ Hán để ghi lại những quan sát của mình về tiếng Việt. Những
người có thể lưu bút cho đời như Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm thì thật là hiếm.
Chính người Trung Quốc đã dùng chữ Hán để phiên âm tiếng Việt và làm ra cuốn
từ điển đối chiếu đầu tiên là An Nam dịch ngữ(1). Còn về chữ Nôm thì, ông cha ta
chỉ có thể gửi gắm những quan sát, suy nghĩ của mình về tiếng Việt qua sự cấu tạo
của chữ Nôm, chứ bản thân chữ Nôm chưa thể trở thành phương tiện để miêu tả
các phương diện của tiếng Việt, mặc dù nó đã góp phần hình thành nên một loạt từ
điển đối chiếu Hán–Việt các loại (chi tiết xem chương II của cuốn sách này). Chữ
quốc ngữ tuy ra đời từ thế kỉ XVII, nhưng chỉ bó hẹp trong phạm vi đạo Thiên
Chúa mà triều đình phong kiến Việt Nam, cả ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, lại
thi hành chính sách cấm đạo nên chữ quốc ngữ không thể phát triển, truyền bá
rộng rãi.

Thứ ba, Việt Nam và Trung Quốc là những nước đồng văn mà truyền thống ngôn
ngữ học Trung Hoa chỉ xoay quanh âm vận học, huấn hỗ học, tự thư học cho nên
cái phông lí thuyết để miêu tả tiếng Việt thời kì này cũng chỉ xoay quanh âm, chữ
và nghĩa mà thôi. Lê Quý Đôn (một nhà bác học của Việt Nam thế kỉ XVIII) đã
đóng góp cho lịch sử văn hoá nước nhà trên nhiều mặt như triết học, lịch sử, văn
học, Những suy nghĩ, quan sát của ông về ngôn ngữ cũng rất phong phú, giá trị,
nhưng dẫu sao vẫn chưa vượt qua được cái phông chung của thời đại.

Tuy nhiên, trong thời cổ trung đại đã có những công trình về ngữ pháp và tiếng

nước ngoài nhiều hơn số học giả người Việt Nam. Chúng ta có thể liệt kê một số
học giả nước ngoài như:

* Theurel. Tự vị An Nam–Latin. In ở Ninh Phú, Kẻ Sở, Ninh Bình, năm 1887.
* Ravier. Tự vị La–Việt. In ở Ninh Phú, 1880.
* Legrand de la Liraye. Tự vị Việt–Pháp. 1874.
* Génibrel Aubaret. Grammarie de la langue annamite. (Paris, 1864).
* Edouard Diguet (1897). Élements de grammarie annamite. Hà Nội, 1924.
* M. Grammont (viết chung với Lê Quang Trinh). Études sur la langue annimite.
Mémoires de la société de linguistique de Paris, tập mười bảy, 1911–1912.
* A. Chéon. Cours de langue annamite. 1904.
* A. Bouchet. Cours élémantaire d'annamite. 1908.
* V. Barbier. Grammarie annamite. Année Préparatoire : Grammaire et
Exercises, 1932.
* J.R. Logan. Ethnology of the Indo-Pacific islands. 1882.
* A.H. Keane. On the relations of the Indo-Oceanic races and languages. 1880.
* W. Schmidt. Les langues Mon-Khmer – Trait d'union entre les peuples de
l’Asie (Các ngôn ngữ Mon-Khmer – Dấu gạch nối giữa các dân tộc Trung Á và
Nam Á).
* H. Maspéro. Étude sur la phonétique historique de la langue annamite. Les
initiales (Nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng An Nam. Các âm đầu). 1912.
* C.O. Blagden. The classification of the Annamese Language. “JRAS of Great
Britain and Ireland”. 1913.
* G. Coedès. Le langue de l’Indochine. “Conférences de l’Institut de
linguistique de L’université de Paris VIII”, Années, 1910–1948, Paris, 1919.
* E. Souvignet. Les origines de la langue annamite. 1920
* v.v

Tuy nhiên, ở giai đoạn này, trên diễn đàn Việt ngữ học đã xuất hiện một số học giả
người Việt có tên tuổi. Đó là các ông Trương Vĩnh Kí, Trương Vĩnh Tống, Lê

Rey, Curiol.
* 1912. Đồng âm tự vị của Nguyễn Văn Mai. Sài Gòn.
* 1925. Quốc âm tân chế của Lê Mai. Sài Gòn.
* 1931. Việt Nam tự điển của Khai trí Tiến Đức.
* 1935. Sách mẹo tiếng Nam của Nguyễn Hiệt Chi & Lê Thước. Hà Nội.
* 1940. Việt Nam văn phạm của Trần Trọng Kim; Bùi Kỉ & Phạm Duy Khiêm.
Hà Nội.
* 1941. Tầm nguyên từ điển của Lê Văn Hoè. Hà Nội.
* 1942–1943. Khảo cứu về tiếng Việt Nam của Trà Ngân & Lê Ngọc Vượng.
Hà Nội.
* 1943. Lược khảo Việt ngữ của Lê Văn Nựu. Hà Nội.

Vào thời thuộc Pháp đã xuất hiện một số học giả người Việt xuất sắc như Trương
Vĩnh Kí, Huình Tịnh Paulus Của, Trần Trọng Kim,

Trương Vĩnh Kí sinh ngày 6/12/1836 tại thôn Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, huyện
Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long. Từ nhỏ, ông đã học chữ nho, chữ quốc ngữ, sau đó
được một linh mục đưa đến Cái Nhum trên đất Campuchia học chữ Latin. Từ năm
1851 đến năm 1858, ông học ở trường đạo Pinang thuộc Ấn Độ Dương, rồi qua
Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức và Ý. Trương Vĩnh Kí là người thông minh,
uyên bác, có thể đọc và nói giỏi 15 thứ tiếng phương Tây và 12 thứ tiếng phương
Đông. Ông là hội viên của các hội khoa học: Hội Nhân chủng học và khoa học
miền Tây nước Pháp, Hội chuyên nói các tiếng phương Đông, Hội chuyên khảo
văn hoá Á châu, Hội địa lí học Paris, Đương thời, Trương Vĩnh Kí được báo chí
và giới học giả nước ngoài liệt vào hàng thứ 17 trong danh sách “Toàn cầu thập
bát văn hào”. Ông mất ngày 01/9/1898, thọ 62 tuổi. Ông để lại khoảng 118 bộ
sách đã xuất bản và rất nhiều công trình còn đang dở dang(2).

Huình Tịnh Của (1834–1908), người gốc Bà Rịa, ông học trường đạo ở Pinang rồi
làm công chức trong chính quyền thuộc địa của Pháp. Ông đã có nhiều đóng góp

Pháp mà sau này có học giả phê phán là có tính mô phỏng, hoặc có người nặng lời
gọi là “dĩ Âu vi trung”.

Tuy nhiên, càng về sau, người ta càng nhận ra sự không thích hợp nếu cứ bê
nguyên xi khuôn hình ngữ pháp châu Âu vào tiếng Việt. Nguyễn Giang trong cuốn
Cách đặt câu (Hà Nội, 1950) đã viết mỉa mai: “Người viết sách muốn viết một
cuốn xứng đáng được gọi là văn phạm của văn phạm Tây phương vào tiếng mình.
Người học sách, nếu chưa biết chút văn phạm Tây phương nào, thì thấy cuốn sách
cầu kì và có nhiều tính cách Tây phương khó hiểu; nếu đã biết đôi chút rồi thì chỉ
muốn soát lại chỗ đôi chút ấy để tự túc, tự đại, chứ không tin rằng có thể nhờ cuốn
sách ấy mà tăng tiến được về các điều đã biết. Người không đọc sách thì cười ầm
lên khi nghe thấy có người nhắc lại cho biết rằng cuốn sách này dạy chúng ta:
‘Trong một câu hỏi, khi có tiếng có ở trên thì phải có tiếng không ở dưới’”.

Các nhà Việt ngữ học dần dần cố gắng xuất phát từ tinh thần của bản ngữ để khắc
phục nhược điểm đó. Ngay Trần Trọng Kim, tuy là người chịu ảnh hưởng của
truyền thống ngôn ngữ học châu Âu nhưng trong cuốn sách của mình cũng có
những cách giải thích các sự kiện tiếng Việt. Điều này chứng tỏ tác giả đã thoát
khỏi những định kiến mà nhiều người mắc phải. Cao Xuân Hạo đã nêu ra hai
trường hợp. Trường hợp thứ nhất là cách diễn đạt về ý nghĩa thời và thể:

“Cách diễn đạt các thì (expression de temps): Để nói rõ lúc diễn ra sự việc so
với lúc nói, người ta thêm một phó từ chỉ thời gian làm trạng ngữ:

- Bây giờ tôi viết.
- Hôm qua nó gặp ông ấy.
- Mai tôi viết thư cho anh.

Cách diễn đạt của một số thể của động từ (certains aspects du verbe). Khi muốn
nói rằng một sự việc đang tiếp diễn (dù là trong hiện tại, quá khứ hay tương lai),


(1) An Nam dịch ngữ, Vương Lộc giới thiệu và chú giải, Nxb Đà Nẵng & Trung
tâm Từ điển học, Hà Nội–Đà Nẵng, 1996.
(2) Dẫn theo Võ An Thái, báo An ninh thế giới, số 130, ngày 17/6/1999.
(3) Dẫn theo Bùi Đức Tịnh trong lời giới thiệu cuốn Đại Nam quấc âm tự vị, Nxb
Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 1998.
(4) Cao Xuân Hạo. Nhân đọc lại một cuốn sách cũ. Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống,
số 5 (2001).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status