Bài Tập Nhóm Tháng Số 01 Môn: Luật Ngân
Hàng.
LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia là một nhiệm vụ hết sức quan
trọng mà hầu hết các quốc gia trao cho Ngân hàng nhà nước ( NHNN). Việc
thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống
kinh tế – xã hội của đất nước. Do vậy, pháp luật phải quy định hết sức chặt
chẽ về cơ chế hoạt động của NHNN trong việc thực hiện chính sách tiền tệ
quốc gia nhằm tránh các ảnh hưởng bất lợi của chính sách tiền tệ đối với
tiến trình phát triển của nền kinh tế xã hội . Luật NHNN VN đã quy định
công cụ chủ yếu mà NHNN được sử dụng công cụ tái cấp vốn, công cụ lãi
suất NHNN tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và một
số công cụ khác… Các công cụ này đựơc thực hiện thông qua hai biện pháp
kinh tế và hành chính nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia một cách
chủ động và có hiệu quả nhất
NỘI DUNG
I. Những vấn đề cơ bản về chính sách tiền tệ quốc gia
1. Khái niệm và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia
1.1. Khái niệm
Như chúng ta đã biết, chính sách tiền tệ quốc gia có ảnh hưởng to lớn
đối với quá trình ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Khi bàn về khái niệm
chính sách tiền tệ quốc gia có rất nhiều cách hiểu khác nhau.
Có quan điểm cho rằng: chính sách tiền tệ quốc gia là chính sách điều
hành toàn bộ khối lượng tiền trong nền kinh tế để phân bổ một cách có hiệu
quả nhất các nguồn tài nguyên nhằm thực hiện các mục tiêu tăng trưởng,
cân đối kinh tế, trên cở sở đó ổn định giá trị đồng tiền quốc gia.
Có quan điểm khác: chính sách tiền tệ là chính sách nhằm đảm bảo
sao cho khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong một năm tương ứng với
mức tăng trưởng kinh tế và chỉ số lạm phát (nếu có) nhằm ổn định giá trị
của đồng tiền, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Tuy nhiên, có thể hiểu theo nghĩa chung nhất như sau: Chính sách
Thứ hai, ổn định hệ thống ngân hàng. Ngân hàng được xem là nơi tạo
ra nguồn vốn cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh tế. Nó góp
phần quan trọng trong việc phát triển điều hành vốn từ nơi thừa vốn đến nơi
thiếu vốn, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế. Với vai trò
như vậy, sự ổn định của hệ thống ngân hàng có ý nghĩa quan trọng đối với
nền kinh tế. NHNN với khả năng tác động đến khối lượng tín dụng và lãi
suất có nhiệm vụ đem lại sự ổn định cho hệ thống ngân hàng.
Thứ ba, tăng trưởng kinh tế. Do chính sách tiền tệ quốc gia có thể ảnh
hưởng đến của cải và chi tiêu của xã hội nên có thể sử dụng nó làm đòn bẩy,
kích thích tăng trưởng kinh tế. Một nên kinh tế phồn thịnh với tốc độ tăng
trưởng kinh tế ổn định là nền tảng cho mọi sự ổn định, là căn cứ để ổn định
tiền tệ trong nước, cải thiện tình trạng cán cân thanh toán quốc tế và khẳng
định vị trí của nền kinh tế trên thị trường quốc tế.
Thứ tư, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Chính sách tiền tệ mở rộng hay thu
hẹp có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã
hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp
của nền kinh tế. Để có một tỷ lệ thất nghiệp giảm thì phải chấp nhận một tỷ
lệ lạm phát tăng lên.
2. Công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Công cụ chính sách tiền tệ là các hoạt động được thực hiện bởi
NHNN nhằm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới khối lượng tiền trong
lưu thông và lãi suất thị trường, để từ đó đạt được các mục tiêu của chính
sách tiền tệ quốc gia. Do đó, việc sử dụng công cụ, hình thức để thực hiện
chính sách tiền tệ quốc gia rất quan trọng.
Để đạt được mục tiêu mà chính sách tiền tệ quốc gia đề ra, NHNN sử
dụng một số công cụ để tác động vào lượng tiền cung ứng và các chỉ tiêu
khác (Điều 10. Luật NHNN. Công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia )
đó là: Tái cấp vốn; Lãi suất; Dự trữ bắt buộc; Tỷ giá hối đoái; Nghiệp vụ thị
trường mở.
Nhóm SV: N01 Lớp:
364 QĐ – NHNN ngày 13/02/2008 về việc phát hành tín phiếu NHNN bắt
buộc đối với các NHTM. Về bản chất việc phát hành tín phiếu là một hoạt
động thuộc công cụ nghiệp vụ thị trường mở, đúng nguyên tắc tín phiếu
phải do các NHTM tự nguyện mua trên cơ sở tính toán nguồn vốn của mình,
thế nhưng NHNN phát hành không có tính tự nguyện, bắt buộc các NHTM
mua theo số lượng đã được ấn định. Chính điều này đã làm cho các NHTM
không “mặn mà” với thương vụ này…
2.Biện pháp hành chính
Biện pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của cơ quan
quản lý cấp trên( hoặc các nhà chức trách) lên đối tượng và khách thể quản
lý bằng các mệnh lệnh, các quyết định dứt khoát mang tính bắt buộc nhằm
đạt mục tiêu đề ra trong những tình huống quản lý nhất định. Đặc điểm của
biện pháp hành chính là tính bắt buộc và tính quyền lực.
Tính bắt buộc đòi hỏi các đối tượng quản lý chấp hành nghiêm chỉnh
các quyết định, các chỉ thị của chủ thể quản lý, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kỉ
luật kịp thời và đích đáng. Tính quyền lực đòi hỏi cấp trên chỉ đưa ra các tác
động hành chính đúng quyền hạn và trách nhiệm của mình.
Nhóm SV: N01 Lớp:
KT33B1.
3
Bài Tập Nhóm Tháng Số 01 Môn: Luật Ngân
Hàng.
Trong chính sách tiền tệ, biện pháp hành chính là biện pháp mà Ngân
hàng trung ương sử dụng thông qua cơ chế pháp lí, định hướng bằng các
quyết định hành chính như: quyết định tăng, giảm lãi suất cơ bản và lãi suất
tái cấp vốn; quyết định tăng, giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức
tín dụng; quyết định điều chỉnh tỉ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam với
ngoại tệ… Theo đó, có 3 công cụ sử dụng biện pháp hành chính để thực thi
chính sách tiền tệ đó là: Công cụ lãi suất, Dự trữ bắt buộc và Tỉ giá hối đoái.
Như chúng ta đã biết chính sách tiền tệ là quá trình quản lý hỗ trợ
cũng như các lợi ích mà chúng điều chỉnh. Thiết nghĩ trong thời gian tới
NHNN cần đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động quản lý thông qua biện pháp
kinh tế nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các TCTD, hạn chế đến
mức thấp nhất sự can thiệp không cần thiết vào hoạt động kinh doanh.
III. Sự vận hành các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ Quốc
gia của Ngân hàng nhà nước
Nhóm SV: N01 Lớp:
KT33B1.
4
Bài Tập Nhóm Tháng Số 01 Môn: Luật Ngân
Hàng.
Điều 10 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010 quy định: “Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện chính
sách tiền tệ quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ
bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy
định của Chính phủ”.
1. Công cụ tái cấp vốn
Theo khoản 1 Điều 11 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010 quy
định: “Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm
cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng”.
*Cơ chế vận hành
Thông qua công cụ tái cấp vốn, NHNN thực hiện việc điều tiết lượng
tiền trong lưu thông nhằm đạt được các chính sách tiền tệ quốc gia trong
từng thời kỳ. Sự điều tiết lưu thông tiền tệ của NHNN thông qua việc sử
dụng công cụ tái cấp vốn được thực hiện ở chỗ:
- Khi cần tăng thêm lượng tiền cung ứng trong lưu thông, NHNN sẽ
hạ thấp lãi suất tái cấp vốn, tăng hạn mức tái cấp vốn. Biện pháp này sẽ
khuyến khích các NHTM đến NHNN để vay vì giá cả tín dụng giảm, mặt
khác, khối lượng tín dụng được cấp sẽ tăng lên.
- Ngược lại, khi cần giảm lượng tiền cung ứng trong lưu thông,
Yếu tố giá cả của hàng hóa được mua bán chính là số tiền mà thương
phiếu, giấy tờ có giá NHNN phải thanh toán cho khách hàng là NHTM sau
khi đã trừ đi phần lợi tức chiết khấu.
Các hình thức chiết khấu sẽ được thực hiện tại Sở giao dịch NHNN,
hoặc trong trường hợp cần thiết sẽ ủy quyền cho chi nhánh NHNN tỉnh thực
hiện nghiệp cụ chiết khấu theo trình tự thủ tục chiết khấu được quy định
trong các văn bản sau:
- Quyết định số 898/2003/QĐ-NHN ngày 12/08/2003 của Ngân hàng
Nhà nước về việc ban hành quy chế chiết khấu, tái chiêt khấu của Ngân
hàng Nhà nước đối với các Ngân hàng. (Ngày có hiệu lực 4/9/2003).
- Quyết định 12/2008/QĐ-NHNN ngày 29/4/2008 của Thống đốc
NHNN về việc sửa đổi một số điều của Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu
giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng ban hành
kém theo Quyết đinh số 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/8/2003.(Ngày có
hiệu lực 26/5/2008).
- Quyết định số 1365/QĐ-NHNN ngày 18/6/2008 của NHNN về phân
bổ hạn mức chiết khấu giây tờ có giá đối với các ngân hàng. (Ngày có hiệu
lực 18/6/2008).
- Quy trình số 7129/QT-NHNN về quy trình Nghiệp vụ chiết khấu, tái
chiết khấu giấy tờ có giá dưới hình thức ghi sổ của Ngân hàng Nhà nước đối
với các ngân hàng. (Ngày có hiệu lực 6/8/2008).
Thứ ba, các hình thức tái cấp vốn khác
Bên cạnh hai hình thức tái cấp vốn phổ biến nêu trên, hiện nay
NHNN đang áp dụng một số hình thức tái cấp vốn khác như cho vay bù đắp
thiếu hụt vốn trong thanh toán và cho vay qua đêm.
Cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ:Rất đơn giản
và nhanh chóng. Các ngân hàng có thể đề nghị và nhận được vốn vay ngay
sau khi kết thúc phiên thanh toán. Các ngân hàng cũng không cần phải thế
chấp tài sản để đảm bảo khoản vay.Đối tượng vay vốn được mở rộng tới các
chi nhánh của TCTD có tham gia TTBT trên địa bàn. Tuy nhiên thời hạn
Theo Điều 8 Luật NHNN 2003 : “ Ngân hàng nhà nước xác định và
công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn’’. Như vậy, công cụ lãi suất
được NHNN thực hiện dưới hình thức công bố lãi suất cơ bản làm cơ sở cho
các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh phù hợp với nhu cầu vồn
trên thị thị trường, có tác dụng điều tiết lãi suất thị trường tạo nên mặt bằng
lại suất huy động và cho vay hợp lý, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người gửi
tiền. TCTD, người vay vốn.
Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tắc hay giảm ảnh hưởng trực
tiếp tới quy mô huy động và cho vay của các NHTM làm cho lượng tiền
cung ứng thay đổi theo. Điều này giúp cho NHNN thực hiện quản lý lượng
tiền cung ứng theo mục tiêu của từng thời kì
- Lãi suất là công cụ để kiềm chế lạm phát rất hữu hiệu thông
qua chính sách tiền tệ của NHNN. Trong trường hợp nền kinh tế có lạm
phát, NHNN sẽ sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất để thu hút
tiền nhàn rỗi trong lưu thông về, nhằm điều hòa lượng tiền trong lưu thông,
cân đối với khối lượng hàng hóa.
- Trong trường hợp thiểu phát, NHNN sẽ giảm lãi suất cơ bản
và lãi suất tái cấp vốn với các TCTD. Giải pháp này không những có dụng
mở rộng khả năng cấp tín dụng của TCTD với khách hàng mà còn góp
phần đóng băng như cầu gửi tiền của các tổ chức cá nhân tại các TCTD, trên
cơ sở đó hạn chế việc rút tiền ra khỏi lưu thông một cách dễ dàng.
Trước những xáo trộn của thị trường tiền tệ, một loạt các chính sách
lãi suất của NHNN trong thời gian qua đã và đang đem lại những kết quả
tích cực, góp phần ổn định nền kinh tế.
Theo Quyết định số 2868/ QĐ - NHNN, lãi suất cơ bản của đồng Việt
Nam kể từ 01/12/2010 vẫn tiếp tục duy trì mức 9,0% một năm. Trước đó,
mức lãi suất cơ bản 8% / năm đã được áp dụng từ 1/12/2009 đến ngày 5/11/
2010 ( theo Quyết định 2619/ QĐ – NHNN đã tăng lãi suất cơ bản lên 9%/
năm từ ngày 5/11/2010). Theo đó, lãi suất tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà
nước đối với các tổ chức tín dụng là 9% một năm (tăng 1%). Lãi suất tái
hướng tăng lên: Tăng lần 1, lãi suất tái cấp vốn lên 13%/năm, lãi suất chiết
khấu lên 11%/năm; Tăng lần 2, lãi suất tái cấp vốn lên 15%/năm, lãi suất
chiết khấu lên 13%/năm.
Qua đó, đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất
khả năng thanh toán của các Ngân hàng thương mại trong những tháng cuối
năm 2008; an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố lòng tin của
các nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng.
Khắc phục được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn
giữa các Ngân hàng thương mại. Cùng với diễn biến lạm phát có xu hướng
giảm, kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt động của các Ngân hàng thương mại
đảm bảo khả năng thanh toán, làm cho thị trường tiền tệ và lãi suất trong
năm 2009 tương đối ổn định. Lãi suất tăng cao sẽ gây khó khăn cho sản
xuất, phát triển kinh tế, trong bối cảnh này, NHNN đã có những bước đi
thận trọng nhằm tiếp tục kiểm soát lạm phát nhưng đồng thời cũng góp phần
tăng đầu tư sản xuất, kinh doanh để ngăn chặn đà suy giảm kinh tế. Trong
những quý đầu năm 2009, NHNN đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất tái cấp
vốn từ 15%/năm xuống 14%/năm, 13%/năm, 11%/năm, 9,5%/năm; Lãi suất
chiết khấu từ 13%/năm xuống 12%/năm, 11%/năm, 9%/năm và 7,5%/năm;
Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho
vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các NHTM
từ 15%/năm xuống 14%/năm, 13%/năm, 11%/năm và 9,5%/năm.
Nhóm SV: N01 Lớp:
KT33B1.
8
Bài Tập Nhóm Tháng Số 01 Môn: Luật Ngân
Hàng.
Biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và hiệu quả đối với hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng thương mại và lãi suất thị trường, thể hiện
là lãi suất huy động và cho vay của các Ngân hàng thương mại biến động
theo cung - cầu vốn và tăng, giảm theo sự thay đổi của các mức lãi suất điều
Tại Điều 13 Luật NHNN quy định : “1. Tỷ giá hối đoái của đồng Việt
Nam được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự
điều tiết của Nhà nước.
2. Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá hối đoái, quyết định chế độ tỷ
giá, cơ chế điều hành tỷ giá.”
Hoạt động quy định tỷ giá hối đoái của NHNN được thực hiện như
sau:
- NHNN can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối với mức tỷ giá
mua vào và bán ra được điều chỉnh linh hoạt. Khi thị trường dư cầu, NHNN
Nhóm SV: N01 Lớp:
KT33B1.
9
Bài Tập Nhóm Tháng Số 01 Môn: Luật Ngân
Hàng.
đã kịp thời bán ngoại tệ can thiệp, hạ nhiệt thị trường. Khi thị trường dư
cung, NHNN sẽ mua vào ngoại tệ ở một mức độ nhất định và hợp lí, bảo
đảm tỷ giá không giảm quá sâu, nhằm thực hiện mục tiêu nhập siêu, góp
phần ổn định chính sách tiền tệ quốc gia.
- Trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ, NHNN kết hợp đa
dạng, hài hòa nhiều hình thức can thiệp khác nhau. Với sự phối hợp tốt giữa
NHNN và NHTM, những hình thức này giúp nhanh chóng bình ổn thị
trường tiền tệ quốc gia
- Chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá đã được NHNN phối hợp
thực hiện đồng bộ. Lãi suất VNĐ tăng trong khi lãi suất USD giảm đã tạo sự
hấp dẫn cho đồng nội tệ, góp phần ổn định tỷ giá hối đoái.
Trong suốt những năm vừa qua, NHNN đã có những biện pháp quyết
liệt và triệt để, thực hiện đổi mới mạnh mẽ cơ chế điều hành tỉ giá. Từ
những năm 1994, với sự ra đời của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng,
NHNN bắt đầu thực hiện điều hành tỷ giá theo cơ chế mới linh hoạt, bám
sát cung cầu thị trường thay thế cho chế độ đa tỷ trước đây. Theo đó, NHNN
10
Bài Tập Nhóm Tháng Số 01 Môn: Luật Ngân
Hàng.
nội tệ của các tài sản neo theo ngoại tệ tăng cùng với sự phá giá đồng tiền.
Nói cách khác, biến động tỷ giá ảnh hưởng đến chênh lệch tiền tệ giữa cung
và cầu tiền tệ và lạm phát.
Thứ ba, sự phá giá đồng nội tệ có thể dẫn đến sự gia tăng giá hàng
xuất khẩu và giá của hàng sản xuất và tiêu dùng trong nước và điều này ảnh
hưởng đến cầu và cung của hàng hóa sản xuất và tiêu dùng trong nước.
Cung của hàng hóa này có thể giảm trong khi cầu của chúng tăng sẽ tạo áp
lực lên lạm phát trong nền kinh tế hiện nay.
Cũng trong cùng kỳ tháng 3/2011, lệnh cấm mua bán ngoại tệ trên
lãnh thổ VN cũng đã được ban bố. Việc làm này được cho là vô cùng cần
thiết nhưng cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế. Từ hoạt động này, sẽ
có nhiều cá nhân, tổ chức không thể mua/bán ngoại tệ được nữa cho nhu cầu
hoạt động kinh tế của mình, hoặc phải mua/bán với chi phí cao hơn so với
trước kia, do đó về tổng thể nền kinh tế sẽ bị thiệt hại. Chính vì vậy, NHNN
và các cơ quan có thẩm quyền cần phải có sự phối hợp hài hòa để tránh tình
trạng một số cá nhân lợi dụng đầu cơ, tích trữ ngoại tệ rồi ngầm bán ra thị
trường với giá cao hơn, gây lũng đoạn tỷ giá ngoại tệ trong nước.
4. Công cụ dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là một công cụ quan trọng để NHNN điều hành chính
sách tiền tệ quốc gia đồng thời là một biện pháp bảo đảm an toàn cho hoạt
động kinh doanh cho cả hệ thống TCTD . Ban đầu dự trữ được thực hiện
một cách tự nguyện của các NHTM xong do tính ưu việt cũng như yêu cầu
đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng, dự trữ tự nguyện trở thành bắt
buộc theo quy định của ngân hàng trung ương với các tổ chức tín dụng trong
toàn hệ thống tín dụng của các quốc gia.
Dự trữ bắt buộc được quy định tại Khoản 1 của Điều 14 luật ngân
hàng nhà nước Việt Nam 2010 theo đó : “ Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ
trường tiền tệ quốc gia
Điều quan trọng nhất của công cụ dự trữ bắt buộc được thể hiện trong
chỉnh thể các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước
là khi có biến động trên thị trường, đặc biệt là lạm phát và thiểu phát NHNN
sẽ có những quyết định nhất định điều chỉnh quy định dự trữ bắt buộc nhằm
ổn định thị trường tiền tệ cụ thể như việc ban hành các quyết định tăng hay
giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc.
Theo quy định của Quy chế dự trữ bắt buộc ban hành kèm theo Quyết
định 581/QĐ-NHNN ngày 09/6/2003, được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định
1130/2005/QĐ-NHHN thì các đối tượng sau phải trích lập dự trữ bắt buộc
tại NHNN là các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các
TCTD.
Số tiền dự trữ bắt buộc được tính trên cơ sở số dư tiền gửi huy động
bình quân của từng loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc tại Hội sở chính và các
chi nhánh của tổ chức tín dụng trong kỳ. Số tiền này được tính theo tỉ lệ
phần trăm ( %) của số dư đó. Việc xác định cụ thể mức dự trữ bắt buộc
được thống đốc NHNN định tùy vào từng thời kỳ với từng tổ chức tín dụng
tương ứng với chính sách tiền tệ, những biến động trên thị trường tiền
tệ……tại thời điểm đó.
Đối với dự trữ bắt buộc bằng đồng tiền Việt Nam thì số tiền được duy
trì trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại Sở giao dịch Ngân hàng nhà nước
và các chi, số tiền được chi trả trên khoản tiền gửi thanh toán tại sở giao
dịch NHNN và các chi nhánh NHNN tỉnh thành phố. Đối với dự trữ bắt
buộc bằng ngoại tệ thì được duy trì trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại Sở
giao dịch NHNN.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tính toán số tiền dự trữ bắt buộc đối
với tổ chức tín dụng là Sở giao dịch Ngân hàng nhà nước và các chi nhánh
Ngân hàng nhà nước nơi tổ chức tín dụng đặt trụ sở.
Thông qua quy định về dự trữ bắt buộc này NHNN có thể trực tiếp
hoặc gián tiếp tác động đến việc tăng hoặc giảm khối lượng tiền trong lưu
các tổ chức tín dụng buộc phải thực hiện các quyết định này để thực thi
chính sách tiền tệ. Tính bắt buộc và thi hành ngay của quyết định này đảm
bảo cho việc thực hiện nhanh chóng và linh hoạt công cụ này.
5. Nghiệp vụ thị trường mở
Do công cụ nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò quan trọng nên nó
không chỉ được quy định trong luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam mà còn
được quy định trong các văn bản khác như: Quy chế nghiệp vụ thị trường
mở ban hành kèm theo quyết định số 01/QĐ-NHNN ngày 05/01/2007 của
Tổng đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam; Quyết định số 27/QĐ-NHNN
ngày 30/9/2008 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của quy chế nghiệp vụ
thị trường mở; Quy trình số 10876/QT-NHNN ngày 12/12/2008 về nghiệp
vụ thị trường mở và một số văn bản liên quan khác.
Nghiệp vụ thị trường mở là một nghiệp vụ đặc thù của Ngân hàng
trung ương. Theo Điều 15 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định
như sau: “Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông
qua việc mua, bán giấy tờ có giá đối với tổ chức tín dụng”
Như vậy, nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động ngân hàng trung ương
mua vào hoặc bán ra giấy tờ có giá của chính phủ trên thị trường. Thông qua
hoạt động mua bán giấy tờ có giá, ngân hàng trung ương tác động trực tiếp
đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng
cung ứng tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường.Đối tượng của
nghiệp vụ này bao gồm các tín phiếu kho bạc, tín phiếu Ngân hàng nhà
Nhóm SV: N01 Lớp:
KT33B1.
13
Bài Tập Nhóm Tháng Số 01 Môn: Luật Ngân
Hàng.
nước, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn
hạn khác khi cần thiết…
*Cơ chế vận hành:
định 364/QĐ-NHNN về phát hành tín phiếu ngân hàng nhà nước bắt buộc
do Thống đốc NHNN ban hành.
Ngoài ra để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia NHNN còn thực hiện
một số hoạt động khác như: hoạt động điều hành thị trường vàng, thị trường
ngoại tệ, quy định hạn mức tín dụng… Có thể nói ở những gia đoạn khác
nhau NHNN lại có những chính sách nhất định đối với từng loại công cụ
này. Ví dụ như những tháng đầu năm 2008, tình hình lạm phát tăng cao đã
dẫn đến quyết định của NHNN liên quan đến thị trường ngoại tệ như: Quyết
định số 21/QĐ-NHNN ngày 11/7/2008 ban hành quy chế thu đổi ngoại tệ,
Quyết định số 09/QĐ-NHNN ngày 10/4/2008 về thu hẹp đối tượng vay
ngoại tệ (nhằm hạn chế nhập siêu, hạn chế số khách hàng không sử dụng
Nhóm SV: N01 Lớp:
KT33B1.
14
Bài Tập Nhóm Tháng Số 01 Môn: Luật Ngân
Hàng.
vốn ngoại tệ nhưng xin nhận nợ bằng ngoại tệ để hưởng lợi từ chênh lệch lãi
suất giữa VNĐ và ngoại tệ thời điểm đó); Quyết định số 26/2009/TT-
NHNN ngày 30/12/2009 về Quyết định việc mua bán ngoại tệ của một số
tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Trong vấn đề về quy định về thu phí của
các tổ chức tín dụng với khách hàng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban
hàng Thông tư số 04/2011/TT-NHNN ngày 10/03/2011 quy định cụ thể về
vấn đề này.
Đối với thị trường vàng, động thái gần đây nhất của NHNN trong
việc điều chỉnh thị trường này là quyết định cho nhập khẩu vàng trở lại
nhằm hạ nhiệt cơn sốt vàng của thị trường trong nước. Về cơ bản cơn sốt
này không xuất phát từ nội tại nền kinh tế mà phần lớn là do tác động tâm lý
của đối tượng tham gia thị trường vàng, hơn nữa một phần cũng do thị
trường vàng trong nước những tháng cuối năm có xu hướng gia tăng. Trong
thông tư số 22/2010/TT-NHNN ban hành ngày 29/10/2010 đã quy định về
KT33B1.
15
Bài Tập Nhóm Tháng Số 01 Môn: Luật Ngân
Hàng.
vậy trong thời gian tới, NHNN cần tiếp tục có những biện pháp điều chỉnh
chính sách tiền tệ đúng hướng, đảm bảo chủ động đối phó với các biến
động. Chúng ta có thể tin tưởng với sự điều hành của NHNN thông qua biện
pháp kinh tế và biện pháp hành chính với các công cụ: tái cấp vốn, lãi suất
cơ bản, nghiệp vụ thị trường mở, công cụ dự trữ bắt buộc, tỷ giá hối đoái thì
chính sách tiền tệ sẽ đi đúng hướng và phát huy hiệu quả trong việc bình ổn
thị trường, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế….
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Giáo trình:
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân hàng Việt Nam,
Nxb. CAND, Hà Nội, 2008;
2.Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật ngân hàng
Việt Nam, Hà Nội, 2007.
II. Văn bản luật:
1. Luật các tổ chức tín dụng 1997, sửa đổi, bổ sung năm 2010;
2. Luật Ngân hàng Nhà nước;
3. Quyết định số 364 QĐ – NHNN ngày 13/02/2008 về việc phát hành
tín phiếu NHNN bắt buộc đối với các NHTTM。
4. Quyết định số 898/2003/QĐ-NHN ngày 12/08/2003 của Ngân hàng
Nhà nước về việc ban hành quy chế chiết khấu, tái chiêt khấu của Ngân hàng
Nhà nước đối với các Ngân hàng. (Ngày có hiệu lực 4/9/2003).
5. Quyết định 12/2008/QĐ-NHNN ngày 29/4/2008 của Thống đốc
NHNN về việc sửa đổi một số điều của Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu
giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng ban hành kém
theo Quyết đinh số 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/8/2003.(Ngày có hiệu lực
26/5/2008).
364/QĐ-NHNN về phát hành tín phiếu ngân hàng nhà nước bắt buộc do Thống đốc
NHNN ban hành 14
Nhóm SV: N01 Lớp:
KT33B1.
17