34 Công tác Kế toán nguyên vật liệu & công cụ dụng cụ tại Công ty Cổ phần Xuân Hoà Viglacera - Pdf 20

Chơng 1
Lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu ở trong các
doanh nghiệp sản xuất
1.1 Vị trí, vai trò của nguyên vật liệu trong các
doanh nghiệp sản xuất
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có các yếu tố sản
xuất cơ bản, đó là t liệu lao động, đối tợng lao động và sức lao động. Trong đó
nguyên vật liệu đóng vai trò là đối tợng lao động cấu thành nên thực thể sản
phẩm, còn tài sản cố định và những công cụ, dụng cụ khác là t liệu lao động,
lao động của con ngời chính là yếu tố sức lao động. Nh vậy nguyên vật liệu là
một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong
khâu sản xuất.
Về mặt hình thái, khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, dới tác
động của sức lao động và t liệu lao động, NVL sẽ thay đổi hình thái vật chất
ban đầu. Chính vì tác dụng cấu thành nên thực thể sản phẩm mà đặc điểm, tính
chất của các loại nguyên vật liệu sẽ chi phối đặc điểm, tính chất của những sản
phẩm do chúng tạo nên.
Về mặt giá trị ,chúng chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và
chuyển dịch một lần toàn bộ giá trị vào giá trị sản phẩm mới tạo ra. Sự chuyển
dịch giá trị của nguyên vật liệu đồng nghĩa với sự phát sinh chi phí nguyên vật
liệu. Nói đến chi phí là phải nói đến giá thành, vì chỉ dựa trên cơ sở tiết kiệm
chi phí thì các doanh nghiệp mới có thể hạ giá thành. Chi phí về NVL thờng
chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của
các doanh nghiệp sản xuất, nh công nghiệp chế biến: khoảng 70%, công nghiệp
nhẹ: 65%, công nghiệp cơ khí: 50-60%
Hiện nay hạ giá thành là một trong những biện pháp tối quan trọng của các
doanh nghiệp nhằm đạt đợc mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Muốn vậy các
doanh nghiệp không thể không quan tâm đến việc giảm yếu tố chi phí nguyên
vật liệu một cách hợp lý.
1
Nh vậy nguyên vật liệu có vị trí rất quan trọng trong quá trình sản xuất

Do vậy bên cạnh việc khai thác NVL đáp ứng cho sản xuất,chế tạo sản
phẩm, nhà kinh tế phải tìm mọi biện pháp sử dụng NVL hợp lý và tiết kiệm.
Muốn vậy cần phải tăng cờng công tác quản lý NVL.Yêu cầu của quản lý
nguyên vật liệu là phải chặt chẽ ở tất cả các khâu , từ khâu thu mua, bảo quản,
sử đụng cho đến khâu dự trữ.
+ Khâu thu mua: NVL tồn tại dới dạng tài sản dự trữ thờng xuyên biến
động. Muốn quản lý tốt, doanh nghiệp phải quan tâm cả về khối lợng, chất lợng,
quy cách ,chủng loại, giá mua, chi phí thu mua (địa điểm thu mua, phơng tiện
vận chuyển), tính ổn định của nguồn hàng.Thời gian thu mua cũng phải đợc lập
cho phù hợp với kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp.
+ Khâu bảo quản: việc tổ chức hệ thống kho tàng, bến bãi, trang bị đầy đủ
các phơng tiện cân đo, thực hiện đúng chế độ bảo quản đối với từng loại vật liệu
tránh h hỏng, mất mát, hao hụt, đảm bảo an toàn là một trong các yêu cầu của
công tác quản lý đối với nguyên vật liệu.
+ Khâu sử dụng: sử dụng vật liệu hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở định mức dự
toán chi phí nhằm hạ thấp mức tiêu hao vật liệu trong giá thành sản phẩm, tăng
nguồn tích luỹ cho doanh nghiệp. Do vậy trong khâu này cần thực hiện tốt việc
nghi chép, phản ánh tình hình nhập và xuất dùng NVL trong hoạt động sản xuất
kinh doanh.
+ Khâu dự trữ: đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định đợc định mức dự trữ tối
đa, tối thiểu cho từng loại vật liệu, nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh
doanh đợc diễn ra một cách bình thờng không bị ngừng trệ hoặc gián đoạn do
việc cung ứng, thu mua không kịp thời hoặc tránh tình trạng ứ đọng vốn do dự
trữ quá nhiều NVL.
Quản lý chặt chẽ NVL từ khâu thu mua tới khâu bảo quản, sử dụng và dự
trữ là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý tài sản ở
doanh nghiệp.
3
1.3 Vai trò, sự cần thiết và nhiệm vụ của công tác kế
toán nguyên vật liệu

tích số liệu trên các sổ, báo cáo kế toán để có thể đa ra các quyết định cho phù
hợp. Tuy nhiên máy tính và tin học chỉ là phơng tiện trợ giúp cho kế toán viên
trong xử lý và cung cấp thông tin kế toán, chúng không thể thay thế hoàn toàn
con ngời,do đó doanh nghiệp luôn phải đặt lên hàng đầu việc đào tạo đội ngũ
nhân viên kế toán có chuyên môn nghiệp vụ tốt và tổ chức công tác kế toán máy
vẫn phải tuân thủ theo các nội dung vàyêu cầu của tổ chức công tác kế toán
trong điều kiên thủ công.
1.3.2. Nhiệm vụ của công tác kế toán nguyên vật liệu
Để thực hiện chức năng giám đốc và là công cụ quản lý kinh tế, xuất phát
từ vị trí của kế toán trong quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp, Nhà nớc đã
xác định nhiệm vụ của kế toán NVL nh sau:
1. Thực hiện đánh giá, phân loại NVL phù hợp với nguyên tắc, yêu cầu
quản lý thống nhất của nhà nớc, yêu cầu quản trị của doanh nghiệp.
2. Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình nhập- xuất-
tồn kho vật liệu cả về hiện vật và giá trị.Tính toán đúng đắn trị giá vốn thực tế
NVL nhập xuất kho nhằm cung cấp thông tin kịp thời, phục vụ yêu cầu quản lý
doanh nghiệp.
3. áp dụng đúng đắn các phơng pháp hạch toán vật liệu, hớng dẫn, kiểm tra các
bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán ban đầu về NVL, mở
các sổ (thẻ) kế toán chi tiết để theo dõi NVL.
4. Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng NVL. Phát
hiện kịp thời, ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp xử lý vật liệu thừa, thiếu, ứ
đọng, kém phẩm chất. Tính toán, xác định chính xác số lợng và giá trị vật liệu
thực tế đa vào sử dụng và đã tiêu hao trong quá trình sản xuất.
5. Tham gia kiểm kê, đánh giá lại vật liệu theo chế độ nhà nớc qui định,
lập các báo cáo về vật liệu phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý, tiến hành phân
tích kinh tế tình hình thu mua bảo quản dự trữ và sử dụng vật liệu.
Nh vậy kế toán vật liệu là công cụ phục vụ quản lý vật liệu. Thông qua việc tính
toán, ghi chép, phân loại, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế liên quan đến vật liệu bằng
5

6
cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào các công trình xây dựng cơ bản )
-Vật liệu khác: Là các loại vật liệu loại ra trong quá trình sản xuất, chế tạo
sản phẩm nh: gỗ, sắt, thép vụn hoặc phế liệu thu hồi trong quá trình thanh lý tài
sản cố định.
Việc phân chia nh trên chỉ mang tính tơng đối bởi vì có loại nguyên vật
liệu đối với doành nghiệp này là nguyên vật liệu chính nhng đối với doanh
nghiệp khác lại là vật liệu phụ.
*Ngoài cách phân loại nh trên thì căn cứ vào mục đích, công dụng của
NVL cũng nh nội dung phản ánh chi phí NVL trên các tài khoản kế toán, doanh
nghiệp có thể chia nh sau:
+ Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất chế tạo sản phẩm.
+ Nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác: ví dụ nguyên vật liệu phục
vụ quản lý ở các phân xởng, tổ, đội sản xuất hoặc cho nhu cầu bán hàng hay
quản lý doanh nghiệp...
* Nếu căn cứ vào nguồn hình thành, có thể chia NVL thành các loại: NVL
nhập do mua ngoài, do tự gia công chế biến, do nhận góp vốn liên doanh, do
nhận biếu tặng...
1. 4.2. Đánh giá nguyên vật liệu.
1.4.2.1. Nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu:
Đánh giá NVL là dùng thớc đo tiền tệ để biểu hiện giá trị của chúng theo
những nguyên tắc nhất định, đảm bảo yêu cầu chân thực, thống nhất.
Trong kế toán các nguyên tắc chi phối đến việc đánh giá NVL đó là:
nguyên tắc giá gốc, nguyên tắc nhất quán, nguyên tắc thận trọng.
* Nguyên tắc giá gốc: theo nguyên tắc khi nhập kho NVL phải đợc đánh giá
theo giá thực tế (bao gồm cả giá mua và toàn bộ chi phí mua) và khi xuất kho cũng
phải xác định giá vốn thực tế theo đúng phơng pháp quy định.
* Nguyên tắc nhất quán: nguyên tắc này đòi hỏi các phơng pháp tính giá
mà doanh nghiệp đang áp dụng phải đợc sử dụng thống nhất trong một thời gian
dài ( ít nhất là trong một kỳ kế toán).

mua, hàng mua
bị trả lại
Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ thì giá mua
ghi trên hoá đơn là giá cha có thuế GTGT.
Đối với những hoá đơn có tính đặc thù nh: tem th, vé tàu... thì giá cha có
thuế đợc tính chuyển theo công thức sau:
Giá cha có thuế GTGT =
Tổng giá thanh toán
1 + % thuế suất GTGT
Những cơ sơ kinh doanh nộp thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp trên
GTGT và cơ sở kinh doanh không thuộc đối tợng chịu thuế GTGT thì giá mua
ghi trên hoá đơn là tổng giá thanh toán (bao gồm cả thuế GTGT đầu vào).
Chi phí thu mua bao gồm: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí thuê kho
bãi, chi phí bảo hiểm...
+Đối với NVL nhập kho do tự gia công chế biến thì trị giá vốn thực tế của
vật liệu nhập kho sẽ bằng trị giá vốn thực tế của vật liệu xuất kho cộng với các
8
chi phí gia công chế biến.
+ Đối với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến: trị giá vốn thực tế của
nguyên vật liệu nhập kho bằng trị giá vốn thực tế của NVL xuất ngoài gia công
cộng với số tiền phải trả cho bên gia công, cộng với chi phí vận chuyển, bốc dỡ
NVL đến nơi gia công và chi phí vận chuyển từ nơi gia công về.
+ Đối với NVL nhập kho do nhận góp vốn liên doanh: giá thực tế vật liệu
nhập kho là giá do hội đồng liên doanh thống nhất đánh giá.
+ NVL nhập kho do nhận biếu tặng, phế liệu thu hồi đợc trong quá trình
sản xuất kinh doanh: giá thực tế nhập kho là già ớc tính (tính theo giá thị trờng
của sản phẩm cùng loại hoặc tơng đơng).
* Nguyên vật liệu xuất kho:
Do vật liệu nhập từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều lần khác nhau nên giá
thực tế mỗi lần nhập khác nhau, vì vậy khi xuất kho doanh nghiệp phải xác định

Trị giá thực tế tồn
kho sau lần xuất trớc
+ Trị giá thực tế nhập kho từ sau lần
xuất trớc đến trớc lần xuất kho
Số lợng vật t tồn kho
sau lần xuất trớc
+ Số lợng vật t nhập từ sau lần xuất tr-
ớc đến lần xuất sau
- Ưu điểm: kế toán không phải đợi đến cuối tháng mới tính toán đợc mà
có thể tính ngay đợc trị giá thực tế vật liệu của từng lần xuất kho. Đảm bảo việc
theo dõi, phản ánh sự biến động của NVL một cách thờng xuyên, kịp thời.
- Nhợc điểm: công việc tính toán nhiều và phức tạp hơn.
-Điều kiện áp dụng: sử dụng thích hợp với đơn vị đã áp dụng kế toán máy.
Ph ơng pháp 2 : phơng pháp nhập trớc xuất trớc (FIFO)
Phơng pháp này, giả định rằng lô hàng nào nhập trớc sẽ đợc xuất trớc, do
đó ta phải xác định đợc trị giá thực tế nhập kho của từng lần nhập. Giá thực tế
của vật liệu mua trớc sẽ đợc dùng làm giá để tính giá thực tế của NVL xuất trớc
và do vậy giá của nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của nguyên
vật liệu nhập kho của các lần nhập sau cùng.
Ph ơng pháp 3: phơng pháp nhập sau xuất trớc(LIFO).
Theo phơng pháp này ta cũng phải xác định đợc đơn giá thực tế của từng
lần nhập kho với giả định rằng những lô hàng nào nhập sau cùng thì sẽ đợc xuất
đầu tiên. Ta dùng đơn giá của lần nhập sau cùng để tính cho những lần xuất đầu
tiên. Trị giá thực tế của vật liệu tồn kho cuối kỳ là trị giá thực tế của vật liệu
thuộc các lần nhập đầu tiên trong kỳ.
Ph ơng pháp 4: Tính theo giá thực tế đích danh
Theo phơng pháp này thì khi tính trị giá vốn xuất kho của bất kỳ lô hàng
nào ta phải lấy đơn giá thực tế nhập kho trớc đây của chính lô hàng đó. Giá vốn
thực tế của hàng hiện còn trong kho đợc tính bằng số lợng của từng lô hàng hiện
còn nhân với đơn giá nhập kho của chính lô hàng đó.

- Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho ( mẫu 02-BH)
11
Ngoài các chứng từ bắt buộc sử dụng thống nhất theo quy định, các doanh
nghiệp có thể sử dụng các chứng từ kế toán hớng dẫn nh :
- Phiếu xuất vật t theo hạn mức (mẫu 04-VT)
- Biên bản kiểm nghiệm (mẫu 05-VT)
- Phiếu báo vật t còn lại cuối kỳ (mẫu 07-VT)
Và một số chứng từ khác tuỳ thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể của
từng doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực, thành phần kinh tế khác nhau.
1.4.3.2 Phơng pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu:
Trong doanh nghiệp công việc quản lý nguyên vật liệu do nhiều bộ phận tham
gia, nhng việc quản lý tình hình nhập -xuất và tồn kho NVL lại chủ yếu do bộ phận
kho và phòng kế toán của doanh nghiệp thực hiện. Công việc hạch toán chi tiết
nguyên vật liệu có thể đợc thực hiện theo các phơng pháp sau:
- Phơng pháp ghi thẻ song song.
- Phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển.
- Phơng pháp sổ số d.
*Phơng pháp ghi thẻ song song:
- Nguyên tắc hạch toán: ở kho ghi chép cả về mặt số lợng, phòng kế toán
ghi chép cả về số lợng và giá trị từng thứ nguyên vật liệu .
+ Trình tự ghi chép tại kho : Việc ghi chép tình hình nhập xuất tồn kho do thủ
ghi trên thẻ kho và chỉ ghi theo chỉ tiêu số lợng. Hàng ngày thủ kho căn cứ vào các
chứng từ nhập - xuất NVL (thủ kho phải kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng
từ), ghi số thực nhập, thực xuất, vào thẻ kho có liên quan, cuối ngày tính ra số tồn
kho và ghi vào thẻ kho.Thủ kho phải thờng xuyên đối chiếu số tồn trên thẻ kho với
số tồn thực tế của NVL ở trong kho. Định kỳ, sau khi ghi thẻ kho, thủ kho phải gửi (
hoặc kế toán xuống nhận) các chứng từ đã đợc phân loại theo từng thứ vật liệu lên
cho phòng kế toán.
+ Tại phòng kế toán: phòng kế toán mở sổ kế toán chi tiết cho từng danh
điểm nguyên vật liệu tơng ứng với thẻ kho của từng kho để ghi chép tình hình

(sổ số d do kế toán mở cho từng kho).
+ ở phòng kế toán: kế toán mở sổ số d theo từng kho dùng cho cả năm để
ghi sổ số tồn kho của từng thứ, nhóm, loại vào cuối tháng theo chỉ tiêu giá trị.
Sổ số d có hai cột: cột số lợng do thủ kho ghi, cột số tiền do kế toán ghi. Mỗi lần
nhận đợc các chứng từ nhập - xuất từ thủ kho, kế toán phải phân loại để ghi vào
bảng kê nhập, bảng kê xuất riêng theo từng thứ nguyên vật liệu sau đó cộng lại lấy
số liệu ghi vào bảng tổng hợp nhập- xuất- tồn và chỉ ghi về giá trị.
Cuối tháng khi nhận sổ số d do thủ kho gửi lên, kế toán căn cứ vào số tồn
14
Chứng từ nhập
Thẻ kho
Sổ (thẻ) kế toán chi tiết
NVL
Bảng kê tổng hợp
N - X - T NVL
Chứng từ xuất
kho về số lợng mà thủ kho đã ghi ở sổ số d và đơn giá để tính ra số tồn kho của
từng nhóm, thứ nguyên vật liệu theo chỉ tiêu giá trị để ghi vào cột số tiền ở sổ
số d. Việc kiểm tra đối chiếu đợc tiến hành vào cuối tháng, căn cứ vào cột số
tiền tồn kho cuối tháng trên sổ số d để đối chiếu với cột số tiền tồn kho trên
bảng kê tổng hợp nhập - xuất - tồn.
- Ưu điểm: giảm bớt khối lợng ghi sổ kế toán do kế toán chỉ ghi chỉ tiêu thành
tiền, công việc đợc dàn đều trong tháng. Hơn nữa, với phơng pháp này kế toán thực
hiện đợc việc kiểm tra thờng xuyên đối với ghi chép của thủ kho trên thẻ kho và
kiểm tra thờng xuyên đối với việc bảo quản trong kho của thủ kho.
- Nhợc điểm: do kế toán chỉ ghi chép về mặt giá trị, vì vậy để có thông tin
về tình hình nhập, xuất, hiện còn của từng thứ NVL nào đó thì phải căn cứ vào
số liệu trên thẻ kho, điều này dễ dẫn đến phát sinh sai sót, nhầm lẫn, khi kiểm
tra đối chiếu là rất khó khăn.
- Điều kiện áp dụng: áp dụng đối với các doanh nghiệp đã xác định đợc hệ

- Nhợc điểm: việc ghi sổ vẫn trùng lắp. Việc đối chiếu kiểm tra giữa kho
và phòng kế toán chỉ tiến hành vào cuối tháng nên hạn chế tác dụng kiểm tra
trong công tác quản lý. Để lập báo cáo nhanh hàng tồn kho cần phải dựa vào số
liệu trên thẻ kho.
- Điều kiện áp dụng: Thích hợp với các doanh nghiệp có khối lợng nghiệp vụ
nhập, xuất không nhiều, không bố trí riêng nhân viên kế toán chi tiết NVL, do vậy
không có điều kiện ghi chép, theo dõi kế toán tình hình nhập xuất hàng ngày.
Sơ đồ tổng quát
16
Phiếu giao nhận
chứng từ nhập
Chứng từ nhập
Bảng kê nhập
Thẻ kho Sổ đối chiếu luân chuyển
Chứng từ xuất Bảng kê xuấtPhiếu giao nhận
chứng từ xuất
1.4.4 Tổ chức kế toán NVL trong điều kiện kế toán máy.
1.4.4.1 Nguyên tắc:
Khi tổ chức công tác kế toán nói chung và công tác kế toán NVL trong
điều kiện ứng dụng phần mềm tin học nhất thiết phải quán triệt và tuân thủ các
nguyên tắc sau:
- Đảm bảo phù hợp chế độ, thể lệ quản lý kinh tế tài chính nói chung và
các nguyên tắc chế độ kế toán hiện hành nói riêng.
- Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng máy vi
tính phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm, tính chất, mục đích hoạt động, quy mô
và phạm vi hoạt động của đơn vị.
- Đảm bảo phù hợp với yêu cầu và trình độ quản lý, kế toán của đơn vị.
- Đảm bảo tính đồng bộ và tự động hoá cao, trong đó phải tính đến độ tin
cậy, an toàn và bảo mật trong công tác kế toán.
- Tổ chức trang bị đồng bộ về cơ sở vật chất, song phải đảm bảo nguyên

nhau nên để thuận tiện cho công tác quản lý, theo dõi các đối tợng này thì bên
cạnh việc xây dựng các danh mục tơng ứng, đơn vị cần tổ chức mã hoá.
Mã hoá là cách thức để thực hiện việc phân loại, gắn ký hiệu, xếp lớp các
đối tợng cần quản lý. Thông qua mã hoá, sẽ cho phép nhận diện, tìm kiếm một
cách nhanh chóng, không nhầm lẫn các đối tợng trong quá trình xử lý thông tin
tự động, mặt khác cho phép tăng tốc độ xử lý thông tin, tăng độ chính xác, giảm
thời gian nhập liệu và tiết kiệm bộ nhớ. Nguyên tắc chung của việc mã hoá các
đối tợng là phải đầy đủ, đồng bộ, có hệ thống, đảm bảo tính thống nhất, nhất
quán và phù hợp với chế độ kế toán hiện hành, phần mềm kế toán. Việc xác
định các đối tợng cần mã hoá là hoàn toàn tuỳ thuộc vào yêu cầu quản trị doanh
nghiệp. Thông thờng trong công tác kế toán NVL, những đối tợng chủ yếu sau
cần phải đợc mã hoá:
- Danh mục tài khoản ( TK 152,111,331,621...)
- Danh mục chứng từ: Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho...
- Danh mục vật t, sản phẩm hàng hoá.
- Danh mục khách hàng (nhà cung cấp).
- Danh mục kho hàng.
18
- Danh mục khoản mục chi phí...
* Khai báo, cài đặt:
Sau khi đã mã hoá cho các đối tợng, doanh nghiệp phải khai báo cài đặt
thông tin đặc thù liên quan đến các đối tợng này. Ví dụ liên quan đến vật liệu sản
phẩm hàng hoá ta có thể khai báo về: kho, tên, mã, đơn vị tính, tài khoản hàng tồn
kho, tài khoản chi phí...,liên quan đến danh mục tài khoản ta phải khai báo tên tài
khoản, số hiệu tài khoản, loại tiền, tài khoản mẹ... Thông qua việc cài đặt những
thông số này thì khi làm việc với đối tợng nào, máy sẽ tự động hiện lên các thông
số cài đặt, khai báo liên quan đến đối tợng đó (do đã ngầm định).
1.4.3.3 Nội dung tổ chức kế toán NVL trên máy vi tính:
* Chứng từ kế toán:
Tổ chức chứng từ kế toán là khâu đầu tiên của công tác kế toán nhằm cung

giá vật liệu tồn kho có thể tính trên cơ sở số liệu trên sổ kế toán ở bất kỳ thời
điểm nào trong kỳ, đồng thời đảm bảo thực hiện đợc chức năng giám đốc một
cách thờng xuyên, liên tục đối với nguyên vật liệu của doanh nghiệp.
Kế toán sử dụng TK 152 là tài khoản chủ yếu để phản ánh số liệu có và
tình hình biến động của nguyên vật liệu. TK 152 có thể mở thành các TK cấp
2,3 để kế toán chi tiết theo từng nhóm, loại, thứ nguyên vật liệu tuỳ thuộc vào
yêu cầu quản lý của doanh nghiệp:
TK 1521 - nguyên vật liệu chính.
TK 1522 - vật liệu phụ.
TK 1523 - nhiên liệu.
TK 1524 - phụ tùng thay thế.
TK 1525 - thiết bị xdcb.
TK 1528 - vật liệu khác.
Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản khác nh: TK 331, 133, 111,
112, 141, 621, 627... Các tài khoản này cũng có thể đợc mở chi tiết tuỳ thuộc
vào lựa chọn của từng doanh nghiệp.
- Phơng pháp kiểm kê định kỳ không theo dõi một cách thờng xuyên, liên tục
tình hình biến động của hàng tồn kho. Việc xác định giá vốn thực tế vật liệu xuất
dùng không căn cứ vào chứng từ xuất kho mà căn cứ vào giá vốn thực tế vật liệu
20
tồn kho đầu kỳ, nhập trong kỳ và kết quả kiểm kê cuối kỳ theo công thức:
Giá vốn thực
tế của nvl
xuất dùng
=
Giá vốn thực
tế nvl tồn
đầu kỳ
+
Giá vốn thực

cầu quản lý của doanh nghiệp mà có thể mở thêm một số loại báo cáo và sổ
sách kế toán quản trị chi tiết khác nh: báo cáo chi tiết theo khoản mục, báo cáo
chi tiết về một tài khoản, tiểu khoản theo nhiều yếu tố nh ngoại tệ, số lợng...
22
Chơng 2
Thực trạng tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu ở
công ty gốm xây dựng Xuân Hoà
2.1. Đặc điểm chung của công ty gốm xây dựng Xuân
Hoà
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Tháng 10- 1978 theo quyết định số 98/BXD-TCLĐ ngày 12- 01-1978 ba
nhà máy gạch Bá Hiến, nhà máy gạch Xuân Hoà, nhà máy gạch Cầu Xây
đã sát nhập thành nhà máy gạch Xuân Hoà- tiền thân của Công ty gốm xây
dựng Xuân Hoà.
Tháng 8-1994 theo quyết định số 481- BXD/TCLĐ nhà máy đã đổi tên
thành công ty gốm xây dựng Xuân Hoà. Công ty đợc thành lập lại vào ngày 20-
11-1995 theo quyết định số 911-BXD/TCLĐ và là thành viên của Tổng công ty
thuỷ tinh và gốm xây dựng.
Trụ sở của công ty: xã Minh trí, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
Các giai đoạn phát triển của công ty:
- Thời kỳ từ 1978 đến 1992: Từ sau khi xáp nhập ba xí nghiệp gạch Xuân Hoà,
Bá Hiến, Cầu Xây nhà máy hoạt động trong cơ chế bao cấp, hàng hoá sản xuất
và tiêu thụ hàng năm là do Bộ xây dựng và Liên Hiệp các xí nghiệp gạch gói
sành sứ xây dựng giao kế hoạch. Tất cả các loại vật t nh than, củi, điện đều sử
dụng theo kế hoạch của nhà nớc, riêng đất là loại nguyên liệu có sẵn tại công ty
và đã đợc nhà nớc giao cho vùng nguyên liệu để sản xuất. Trong thời kỳ bao
cấp sản phẩm sản xuất chủ yếu là gạch đặc 220x105x60, ngói 22 viên/m
2

gạch men lát nền 220x220x15.

Với hơn 20 năm tồn tại công ty đã không ngừng lớn mạnh, điều này có thể
đợc minh chứng qua một số chỉ tiêu từ năm 2003 đến nay:
STT Chỉ tiêu ĐVT 2003 2004 2005
1 Giá trị TSL trđ 28.780 39.909 78.100
2 Các khoản nộp Nhà nớc trđ 2.435 4.596 4.701
3 Lãi thực hiện trđ 2.854 4.320 4.500
4 Thu nhập BQ 1 ngời nđ/ng/th 918 1.222 1.350
24
Các mặt hàng chủ yếu hiện công ty đang sản xuất và cung cấp trên thị tr-
ờng có thể kể đến là: Gạch R60: 220x100x60, R220: 220x220x105, R150:
150x200x150, các sản phẩm mỏng có giá trị kinh tế cao: Gạch rỗng 4 lỗ:
220x220x50, gạch lát nền: 200x200x15, gạch lá dừa: 200x200x50, ngói lợp
22viên/m
2
.
2.1.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và quy trình công nghệ của
công ty.
2.1.2.1. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh:
Hiện nay công ty có 2 nhà máy sản xuất chính đó là Nhà máy gạch Xuân
Hoà và Nhà máy gạch Côtt Bình Dơng đang trong quá trình xây dựng. Nhà máy
nằm trên thị trấn Xuân Hoà, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh phúc. Đây là xởng có
năng lực sản xuất lớn nhất của công ty đợc trang bị 2 lò nung sấy Tuynel. Phân
xởng có nhiệm vụ sản xuất các sản phẩm nh gạch lát nền 200x200x15,
300x300x15,250x250x15,gạch Blốc có độ rỗng lớn 200 x 200 x 90, gạch xây
hai lỗ, gạch 6 lỗ, gạch men rỗng
Nhà máy Cotto Bình Dơng (thuộc khu sản xuất Tân Đông Hiệp, huyện Dĩ
An,Tỉnh Bình Dơng) công xuất hoạt động 1 triệu m
2
/năm. Nhà máy này sẽ
chuyên sản xuất các loại gạch: gạch lát nền, gạch ốp, gạch thẻ...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status