VĂN THƯ NGOẠI GIAO TRẦN NHÂN TÔNG
5
Cô từ sau khi cha mất đi, đã ăn chay, tụng kinh, phóng sanh vật mạng, còn lo
không đủ để báo ơn cha trong muôn một. Huống nữa là có việc bỏ tù hay giết hại
tướng tá của thiên triều, để lụy tới cha mình ở dưới đất sao. Tướng công tuy đem
điều đó ra dặn dò, cô vẫn không đợi nói hết.
Còn việc xâm lược biên giới, lời đó càng không đáng tin. Kinh Thi nói: “Khắp
dưới gầm trời đâu chẳng đất vua.
Đem hết bờ cõi đâu chẳng tôi vua”. Tiểu quốc tuy nằm ở một xó, cũng là đất bề tôi
của đại quốc. Mấy năm gần đây mới gặp binh họa, trăm họ tử vong, ruộng đất bỏ
phế. Tướng công đã tận mắt thấy rồi. Nay đất của tệ ấp mười nhà thì chín nhà đã
trống. Thế chưa đủ sao? Sao rảnh mà đi lấy thêm chỗ khác ư. Nay đem việc tiểu
quốc thành sự đại quốc, chỉ biết lo sợ, còn e không giữ được, sao dám sanh lòng
kiêu căng ấy ư. Gần đây, thiên sứ qua lại nhiều lần, tới đến tiểu quốc. Việc đón
đưa ở Lục châu, tiểu quốc sợ tội xâm vượt biên giới, nên luôn tránh đi, chỉ dừng ở
Khâu Ôn mà thôi. Lời cô không tin, thì còn có các thiên sứ. Hiện nay, lời tướng
công có bảo phải trả lại biên giới. Lời nói ra làm thần rất sợ hãi. Cô vốn không có
ý xâm lược biên giới, mà lại dám có lời trả lại biên giới ư? Như tướng công đã
bảo, thì cô cũng sẽ răn ước đám dân biên giới chớ sinh sự bậy, để thể hiện lòng
thành thờ trời của cô.
Vật là để tỏ lòng thành. Tả truyện có việc dâng rau cần. Kinh Thi có rau khe suối
bãi bờ, rau tần, rau tảo, đồ nơm, đồ sọt, nước huỳnh, nước lạo, có thể dâng quỷ
thần, có thể đãi vương công,1 Ấy là bởi tại lòng thành, chứ không phải tại vật. Cô
ở xó bên ngoài đất viêm hoang, xa cách mặt trời. Thế mà sở dĩ tỏ rõ lòng thành
của mình, ấy là tại ở thổ sản mà thôi. Nay tướng công cho đó là hư dối, không đủ
để thể hiện lòng thành thờ vua thì cô sắp lấy gì để gửi tấm lòng mình ư? Có chỗ để
gửi tấm lòng thành của mình mà còn không thể khỏi tội lệ. Nữa là không có chỗ
mà gửi lòng thành thì tội lệ đó sẽ như thế nào.
Trộm nghĩ, thân cô đã không thể đến triều, mà con của cô lại không thể vào chầu.
Cả nước kinh hoàng, chẳng biết làm gì, chỉ có đem hết tâm lực của mình, gửi lấy
Nguyên nước An Nam dâng bài ca Vạn thọ cùng biểu và tấu.
Trời ban cho vua.
Vua ban xuống dân.
Thần chúc thánh thọ
Ức vạn năm xuân.
Tờ biểu ngày 4 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293).
Ngày lành tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30, bề tôi nước An Nam là Trần Nhật Tôn
trăm vái, dâng lời của bề tôi Nhật Tôn:
Kính nghĩ, tuổi vua ức vạn, sánh tám ngàn năm xuân thu mới tới, đất Hạ đôi ba,
ngang với năm trăm dặm đất miền hoang ngoài cõi. Khắp trời mừng vui, từ xưa
chưa nghe tới. Bề tôi Nhật Tôn thật mừng, thật vui, cúi đầu, cúi đầu kính nghĩ
Hiến Thiên Thuật Đạo Nhân Văn Nghĩa Vũ Đại Quang Hiếu hoàng đế bệ hạ thông
minh sánh trời, trí dũng thiên phú, vì một giận mà yên thiên hạ, đem năm phước
ban tới thứ dân, lấy trọn bốn phương, là việc từ Hán Đường chưa từng có. Thế mà
không bỏ sót tiểu quốc, đem tấm lòng Nghiêu Thuấn ra dùng, có bắt thì có tha,
được danh tất được thọ.
Bề tôi Nhật Tôn, đất nam ngồi giếng, mặt bắc ngóng sao, ba mươi năm chăm
chăm khuyển mã, một tấc lòng rực rỡ trời cao, cúi bày gương vàng, luống mong
cửa khuyết xem soi, xa dâng chén ngọc, sâu trông cửa ngọc đóng cất.
Bề tôi Nhật Tôn kính cẩn trai giới tắm gội, tự chính mình soạn viết bài tụng vạn
thọ một chương, viết vào sách vàng, để vào hòm vàng, sai bồi thần Đào Tử Kỳ,
đem biểu mừng ca để tâu. Bề tôi Trần Nhật Tôn đâu dám nhìn trời trông thánh,
cảm kích thiết tha, khôn xiết hãi hùng, thật vui thật mừng, cúi đầu cúi đầu kính
nói.
Ngày mùng 4 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30, bề tôi nước An Nam Trần Nhật
Tôn dâng biểu.
Tờ tâu ngày 4 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30 (l293).
Bề tôi nước An Nam là Trần Nhật Tôn kính cẩn quên chết cúi đầu trăm vái dâng
lời:
chức cũng như cũ, trên để tỏ hết lòng thành thờ vua, dưới để hoàn thành chí
nguyện tiên tổ. Há chỉ vi thần một thân được bảo toàn, tạm kéo dài được hơi tàn,
mà cũng để cho sinh linh một phương cùng hưởng đức lớn hiếu sinh của trời đất,
chăm chăm tốc thành khuyển mã. Thần, Nhật Tôn, tự bảo dù ngàn sống muôn
chết, thân nát xương tan cũng không đủ báo đền ơn vua trong muôn một. Thần,
Nhật Tôn, đâu dám cầu trời khấn thánh, khôn xiết quên chết, kính cẩn tâu bày.
Ngày mùng 4 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293). Bề tôi nước An Nam Trần
Nhật Tôn tâu.