Khảo biện văn thư ngoại giao của Trần Nhân Tông - Pdf 19

Khảo biện văn thư ngoại
giao của Trần Nhân Tông
Tổng hợp từ các cứ liệu trên đây, có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng
Quang Bính chính là Trần Thái Tông, Nhật Huyên là Trần Thánh Tông, còn Nhật
Tôn là Trần Nhân Tông (Trong các tên cũng đều có bộ “hỏa” hoặc bộ “nhật”). Như
vậy, các vua nhà Trần trong quan hệ với nhà Nguyên đều dùng tên riêng, “có tính
chất chuyên dụng”, cụ thể như sau:
Trần Thái Tông (Trần Cảnh) - lấy tên là Quang Bính.
Trần Thánh Tông (Trần Hoảng) - lấy tên là Nhật Huyên.
Trần Nhân Tông (Trần Khâm) - lấy tên là Nhật Tôn
(7)
.
Dùng “tên chuyên dụng” trong quan hệ ngoại giao của các vua Trần làm tiêu
chí để xác định tác giả các văn thư (tiêu chí thứ nhất), về danh nghĩa tác giả, các văn
thư 7, 8, 9, 10, 11, 12 (mang tên Nhật Huyên) đều là của vua Trần Thánh Tông.
Trong số 5 văn thư thuộc TCTTT chỉ có văn thưmang tên An Nam quốc tiến Vạn thọ
tụng tịnh biểu tấu có ghi tác giả là Nhật Tôn, vậy văn thư này là của Trần Nhân Tông
(Văn thư mang tên An Nam quốc tiến Vạn thọ tụng tịnh biểu tấu tương ứng với các
văn thư 18, 19, 20 trong Toàn tập Trần Nhân Tông).
Điều này chứng tỏ rằng nếu coi Nhật Huyên và Nhật Tôn là các tên khác của
Trần Nhân Tông, đồng thời dùng thời gian vua Trần Nhân Tông tại vị làm tiêu chí để
xác định tác giả các văn thư ngoại giao trong giai đoạn từ năm 1278 đến 1293 như tác

thông báo cho nhà Nguyên. Rõ ràng,Đối với nhà Nguyên, chỉ khi một vua
An Nam nào đó chết thì người kế vị mới bắt đầu có danh nghĩa chính thức trong quan
hệ ngoại giao.
Theo tiêu chí này (tiêu chí thứ hai), ta xác định được 4 văn thư còn lại
trong TCTTT (đều viết năm 1293, gửi Lương Tăng), tương ứng với các văn thư 14,
15, 16, 17 trong Toàn tập Trần Nhân Tông; cùng 3 văn thư khác trong ANCL, tương
ứng với các văn thư 13 (là tờ biểu gửi Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt), 21, 22 (niên đại
văn thư 22 đã trình bày ở đoạn trên) đều thuộc tác giả Trần Nhân Tông.
Như vậy, Trần Nhân Tông hiện còn 8 văn thư ngoại giao, tương ứng với 10
trong số 22 văn thư được Lê Mạnh Thát đưa ra trong Toàn tập Trần Nhân Tông (gồm
các văn thư thứ: 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22), 10 văn thư này thuộc về 2
nguồn: 7 văn thư (các văn thư 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20) thuộc TCTTT và 3 văn thư
(13, 21, 22) thuộc ANCL .
Vậy 12 văn thư còn lại trong Toàn tập Trần Nhân Tông thuộc về tác giả nào?
Các văn thư còn lại được viết từ năm 1278 đến năm 1289. Như đã chứng minh ở trên,
trong số này, có 6 văn thư viết từ năm 1286 đến 1289 (tương ứng với các văn thư 7,
8, 9, 10, 11, 12 trong Toàn tập) ghi rõ tên tác giả là Nhật Huyên. Vậy, theo tiêu chí
thứ nhất, chúng đều là của Trần Thánh Tông. Trần Thái Tông mất năm 1277, Trần
Thánh Tông mất năm 1290. Như vậy, theo tiêu chí thứ hai, tất cả 12 văn thư trong
khoảng thời gian từ 1278 đến 1289 đều thuộc tác giả Trần Thánh Tông. Hay nói cách
khác, các văn thư từ 1 đến 12 trong Toàn tập Trần Nhân Tông, chỉ cần dùng riêng
tiêu chí thứ hai cũng đủ để xác định tác giả của chúng là Trần Thánh Tông.
Riêng các văn thư từ 1 đến 6, do không ghi rõ tác giả, do vậy, để chắc chắn, ta
có thể kiểm tra lại. Sáu văn thư này về cơ bản đều nằm trong NS, riêng văn thư 2b
thuộc ANCL. Các văn thư thuộc NS phần lớn đều không toàn vẹn, thường chỉ là các
đoạn trích. Trước khi trích dẫn, NS đều ghi rõ tác giả. Trong trường hợp này, NS ghi
tác giả là Nhật Huyên, tức Trần Thánh Tông. Chẳng hạn văn thư thứ nhất, là thư viết
tháng Mười một nhuận, năm Chí Nguyên thứ 15 (1278), toàn văn như sau: “Nay hay
tin Quốc công hạ cố đến tệ quốc, dân vùng biên cảnh không ai không kinh sợ, chẳng
rõ là sứ giả người nước nào mà lại đến đây? Vậy xin hãy rút quân về để tiến theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status