Vietnam Forestry University
Tiểu luận
Khí hậu ảnh hưởng tới kinh
tế - xã hội ở Việt Nam
Vietnam Forestry University 1 Nhóm sinh viên thực
hiện
Vietnam Forestry University
Mục Lục
Vietnam Forestry University 1
Tiểu luận 1
Khí hậu ảnh hưởng tới kinh tế - xã hội ở Việt Nam 1
Vietnam Forestry University 22 Nhóm sinh viên thực hiện 1
Mục Lục 2
Phần I: Đặt Vấn Đề: 3
Phần II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
I. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 5
1.1. Khái niệm 5
1.2. Nguyên nhân biến đổi khí hậu 5
1.3. Các biểu hiện của biến đổi khí hậu 6
1.4. Một số khái niệm của biến đổi khí hậu 6
1.4.1. Hiệu ứng nhà kính 6
1.4.1.1. Định nghĩa 7
1.4.2. Mưa Axit 7
1.4.3. Thủng tầng Ôzôn 8
1.4.4. Sa mạc hóa 9
II/ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN NÔNG NGHIỆP 10
2.1. Trên toàn cầu 10
2.2. Trên toàn quốc 10
2.2.1. Nông nghiệp 11
2.2.2. Lâm nghiệp 12
2.2.3. Thủy sản 14
– lâm nghiệp và sinh hoạt đã làm tăng các nồng độ khí gây “Hiệu Ứng
Nhà Kính” trong khí quyển, làm cho Trái Đất nóng lên, biến đổi hệ thống
khí hậu và ảnh hưởng tới môi trường toàn cầu.
Sự nóng lên của trái đất có thể sẽ nhấn chìm nhiều thành phố của các
quốc gia ven biển do mực nước biển dâng lên – hậu quả trực tiếp của sự
tan băng ở Bắc và Nam cực, có thể kể đến như Tuvalu, Đảo san hô vòng
Funafuti, Maldives (đã tổ chức cuộc họp nội các dưới biển nhằm nêu bật
nguy cơ mực nước biển tăng cao, đe dọa sự sống còn của đảo quốc này),
Kiribati …vv. (Dân trí) - Việt Nam cũng nằm trong số các quốc gia chịu
tác động nhiều nhất khi khí hậu thay đổi và mực nước biển dâng cao, ông
Nguyễn Thái Lai, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, phát biểu:
“Thay đổi khí hậu đã ảnh hưởng tới Việt Nam, làm cho thiên tai - đặc biệt
Vietnam Forestry University 3 Nhóm sinh viên thực
hiện
Vietnam Forestry University
là bão, lũ, lụt, hạn hán - ngày càng gia tăng về tần suất, thay đổi khí hậu
đã khiến hàng trăm người thiệt mạng và gây thiệt hại hàng chục triệu
USD cho Việt Nam mỗi năm” . Nước biển dâng còn kèm theo hiện tương
xâm nhập mặn vào sâu trong nội địa và sự nhiễm mặn của nước ngầm tác
động xấu đến nông nghiệp và tài nguyên nước ngọt. Không chỉ thế gần
đây người ta còn phát hiện ra >30 bệnh mới xuất hiện, tỷ lệ bệnh nhân, tỷ
lệ tử vong của nhiều bệnh truyền nhiễm gia tăng…vv.
Gần đây nhất Thảm họa kép động đất, sóng thần và một loạt những
dư trấn xảy ra tại Nhật Bản từ ngày 11.3 khiến cho nước này thiệt hại ước
tính lên đến 235 tỉ USD, tương đương 4% GDP, số người thiệt mạng
trong động đất, số người thiệt mạng trong động đất, sóng thần kinh hoàng
ngày 11.3 đã lên đến 8.450 người; 12.931 người khác mất tích (hãng tin
AFP dẫn báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết vào sáng ngày,
21.3). (TNO), phải chăng đây là sự “lên tiếng” của thiên nhiên bởi những
hành động phá hoại thiên nhiên của con người.
quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối rừng, các hệ sinh thái
biển, ven bờ và đất liền khác. Nhằm hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị
định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu
bao gồm: CO
2
, CH
4
, N
2
O, HFCs, PFCs và SF
6
.
CO
2
phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và
là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển. CO
2
cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán
thép…vv
Vietnam Forestry University 5 Nhóm sinh viên thực
hiện
Vietnam Forestry University
CH
4
sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai
lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than.
N
2
O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp.
HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy Ôzôn (ODS) và
trái đất được gọi là Hiệu ứng nhà kính.
Hiệu ứng nhà kính, dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi năng lượng
bức xạ của tia sáng mặt trời, xuyên qua các cửa sổ hoặc mái nhà bằng
kính, được hấp thụ và phân tán trở lại thành nhiệt lượng cho bầu không
gian bên trong, dẫn đến việc sưởi ấm toàn bộ không gian bên trong chứ
không phải chỉ ở những chỗ được chiếu sáng.
1.4.1.2. Nguyên nhân gây hiệu ứng nhà kính
Có nhiều khí gây hiệu ứng nhà kính, gồm CO
2
, CH
4
, CFC, SO
2
, hơi
nước vv Khi ánh sáng mặt trời chiếu vào Trái Đất, một phần được Trái
Đất hấp thu và một phần được phản xạ vào không gian. Các khí nhà kính
có tác dụng giữ lại nhiệt của mặt trời, không cho nó phản xạ đi.
Nếu các khí nhà kính tồn tại vừa phải thì chúng giúp cho nhiệt độ Trái
Đất không quá lạnh nhưng nếu chúng có quá nhiều trong khí quyển thì
kết quả là Trái Đất nóng lên. Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính của các
chất khí được xếp theo thứ tự sau: CO
2
=> CFC => CH
4
=> O
3
=>NO
2
1.4.2. Mưa Axit
1.4.2.1. Định nghĩa
2
và NO
2
, rất dễ hòa tan trong nước. Trong quá trình mưa, dưới tác
dụng của bức xạ môi trường, các oxid này sẽ phản ứng với hơi nước
trong khí quyển để hình thành các axit như H
2
SO
4
, axit Sunfur, axit
Nitric. Chúng lại rơi xuống mặt đất cùng với các hạt mưa hay lưu lại
trong khí quyển cùng mây trên trời. Chính các axit này đã làm cho nước
mưa có tính axit. Một vài quặng kim loại như đồng (Cu) chẳng hạn, có
chứa lưu huỳnh (S) và khí SO
2
được tạo thành khi người ta tìm cách khai
thác chúng. Khí SO
2
cũng có thể được thải ra từ hoạt động núi lửa. Khi
núi lửa hoạt động thường tung vào khí quyển H
2
S và SO
2
. Ngoài ra, khí
SO
2
cũng có thể được thải từ sự mục nát của các loài thực vật đã chết từ
lâu. Khí SO
2
có nguồn tự nhiên chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 1/10)
Một trong những thách thức lớn nhất mà nhân loại phải đối mặt là
hiện tượng sa mạc hóa (theo Tổng Thư ký Liên hợp quốc (LHQ) Ban Ki
Moon). Đây là một vấn đề toàn cầu đang tác động đến 1/3 trái đất và đe
dọa cuộc sống của 1,2 tỷ người trên hành tinh.
1.4.4.2. Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng sa mạc hóa.
Phần lớn là do tác động của con người từ khoảng 10.000 năm nay.
Việc lạm dụng đất đai trong các ngành chăn nuôi gia súc, canh tác ruộng
đất, phá rừng, đốt đồng, trữ nước, khoan giếng, biến đổi khí hậu toàn cầu
đã góp sức làm sa mạc hóa nhiều vùng trên trái đất.
Vietnam Forestry University 9 Nhóm sinh viên thực
hiện
Vietnam Forestry University
Hệ sinh thái ở vùng ven rất dễ bị dao động bởi sinh hoạt con người
như trong trường hợp chăn nuôi. Móng guốc của loài mục súc thường nện
chặt các tầng đất, làm giảm lượng nước thấm xuống các mạch nước
ngầm. Những lớp đất trên thì chóng khô, dễ bị gió mưa xói mòn. Con
người còn gây nên nạn đốn cây lấy củi cùng động tác của các loài gia súc
gặm cỏ làm hư lớp rễ thảo mộc vốn quyện lớp đất xuống. Đất vì đó dễ tơi
lên, chóng bị khô và biến thành bụi. Hiện tượng này diễn ra ở những vùng
ven sa mạc khi con người chuyển từ lối sống du mục sang lối sống ngụ
canh.
Hiện tượng trái đất ấm dần lên cũng là một trong những nguyên
nhân gây ra những đợt hạn hán đặc biệt nghiêm trọng, có thể phá hủy
nhiều thảm thực vật không thể phục hồi. Ước tính 10 – 20% đất khô trên
thế giới đã bị sa mạc hóa.
II/ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN NÔNG NGHIỆP
2.1. Trên toàn cầu
Do sự nóng lên của khí hậu toàn cầu nên các lớp băng tuyết sẽ bị
tan nhanh trong những thập niên tới. Trong thế kỷ XX, mực nước biển tại
khoảng 90% diện tích của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bị ngập
từ 4 - 5 tháng, vào mùa khô khoảng trên 70% diện tích bị xâm nhập mặn
với nồng độ lớn hơn 4g/l. Ước tính Việt Nam sẽ mất đi khoảng 2 triệu ha
đất trồng lúa trong tổng số 4 triệu ha hiện nay, đe dọa nghiêm trọng đến
an ninh lương thực Quốc gia và ảnh hưởng đến hàng chục triệu người
dân.
Biến đổi khí hậu làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loài sinh
vật, dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài và ngược lại làm xuất
hiện nguy cơ gia tăng các loài “thiên địch”. Trong thời gian 2 năm trở lại
đây, dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá ở ĐBSCL diễn ra ngày càng phức
tạp ảnh hưởng đến khả năng thâm canh tăng vụ và làm giảm sản lượng
lúa. Ở miền Bắc trong vụ Đông Xuân vừa qua sâu quấn lá nhỏ cũng đã
phát sinh thành dịch, thời cao điểm diện tích lúa bị hại đã lên đến
Vietnam Forestry University 11 Nhóm sinh viên thực
hiện
Vietnam Forestry University
400.000ha, gây thiệt hại đáng kể đến năng suất và làm tăng chi phí sản
xuất.
Biến đổi khí hậu có thể tác động đến thời vụ, làm thay đổi cấu trúc
mùa, quy hoạch vùng, kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnh, năng suất, sản lượng;
làm suy thoái tài nguyên đất, đa dạng sinh học bị đe dọa, suy giảm về số
lượng và chất lượng do ngập nước và do khô hạn, tăng thêm nguy cơ diệt
củng của động vật, làm biến mất các nguồn gen quý hiếm.
Một số loài nuôi có thể bị tác động làm giảm sức đề kháng do biên
độ dao động của nhiệt độ, độ ẩm và các yếu tố ngoại cảnh khác tăng lên.
Sự thay đổi các yếu tố khí hậu và thời tiết có thể làm nảy sinh một số
bệnh mới đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy cầm và phát triển thành
dịch hay đại dịch.
2.2.2. Lâm nghiệp
Việt Nam có đa dạng sinh học (ĐDSH) cao, các hệ sinh thái (HST)
Nước mặn lấn sâu vào nội địa, làm mất nơi sinh sống thích hợp của
một số loài thủy sản nước ngọt; Rừng ngập mặn hiện có bị thu hẹp ảnh
hưởng đến nơi cư trú của một số loài thủy sản; khả năng cố định chất hữu
cơ của HST rong biển giảm dẫn đến giảm nguồn cung cấp sản phẩm
quang hợp và chất dinh dưỡng cho sinh vật đáy. Do đó chất lượng môi
trường sống của nhiều loài thủy sản xấu đị.
Nhiệt độ tăng gây ra hiện tượng phân tầng nhiệt độ rõ rệt trong
thủy vực, ảnh hưởng đến quá trình sinh sống của sinh vật. Quá trình
quang hóa và phân hủy chất hữu cơ nhanh hơn ảnh hưởng đến nguồn thức
ăn của sinh vật. Các sinh vật tiêu tốn nhiều năng lượng hơn cho quá trình
hô hấp cũng như các hoạt động sống khác làm giảm năng suất và chất
lượng thủy sản. Suy thoái và phá hủy các rạn san hô, thay đổi các quá
trình sinh lý, sinh hóa diễn ra trong mối quan hệ cộng sinh giữa san hô và
tảo. Cường độ và lượng mưa lớn làm cho nồng độ muối giảm đi trong
một thời gian dài dẫn đến sinh vật nước lợ và ven bờ, đặc biệt là nhuyễn
thể hai vỏ (ngêu, sò ) bị chết hàng loạt do không chịu nỗi lượng muối
thay đổi.
Đối với nguồn lợi hải sản và nghề cá, nước biển dâng làm cho chế
độ thủy lý, thủy hóa và thủy sinh xấu đi. Kết quả là các quần xã hiện hữu
thay đổi cấu trúc và thành phần, trữ lượng giảm sút. Nhiệt độ tăng làm
cho nguồn hải sản, thủy sản phân tán. Các loài cá cận nhiệt đới có giá trị
kinh tế cao bị giảm đi hoặc mất hẳn. Cá ở các rạn san hô đa phần bị tiêu
diệt. Các loài thực vật nổi, mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn cho
động vật nổi, bị hủy diệt làm giảm mạnh động vật nổi. Do đó làm giảm
nguồn thức ăn cho động vật tầng giữa và tầng trên.
Vietnam Forestry University 14 Nhóm sinh viên thực
hiện
Vietnam Forestry University
2.2.4. Diêm nghiệp
Mực nước biển gia tăng làm cho diện tích và cơ sở hạ tầng sản xuất
hiện
Vietnam Forestry University
chuyển về phía cực, đồng thời cũng dịch chuyển lên cao hơn. Khi ấy các
loài thực vật, động vật nhiệt đới có thể phát triển ở các vĩ độ cao hơn
hoặc trên những vùng núi và cao nguyên cao hơn trước. Trái lại các loài
ưa lạnh bị thu hẹp lại hoặc phải di cư đi nơi khác. Không chỉ môi trường
sống, vườn tược cũng thay đổi dần đặc trưng vốn có của nó, như sâu bệnh
lạ xuất hiện nhiều hơn những mùa vụ gần đây; hoa nở không theo quy
luật chu kỳ nào cả, không đoán định cụ thể được thời điểm nó trổ hoa
Từ kịch bản BĐKH, đến năm 2050, nhiệt độ tại Nam Trung bộ và
Tây Nguyên tăng từ 0,8
0
C đến 1,0
0
C và đến năm 2100, tăng từ 1,7
0
C đến
2,2
0
C. Có thể nhận định, BĐKH sẽ gia tăng mạnh ở Nam Trung bộ và
Tây Nguyên với nhiều loại thiên tai khắc nghiệt hơn, là nguyên nhân
chính gây ra sự thay đổi hệ thống sinh thái trong khu vực.
III/ CHIẾN LƯỢC THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
3.1. Trên toàn quốc
Việt Nam là nước đang phát triển, phát thải khí gây hiệu ứng nhà
kính ở mức độ còn thấp nhưng lại phải hứng chịu nhiều tác động của
BĐKH. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (2007), Việt Nam là một
trong số các nước sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH và nước biển
dâng, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
bị ngập chìm nhiều nhất. Nếu mực nước biển dâng 1m sẽ có 10% dân số
Việt Nam mà không ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế trong dài hạn,
không gia tăng lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
Tuy nhiên, đây mới chỉ là những hoạt động mở đầu, chúng ta còn
phải thực hiện ngay những hành động cụ thể như quy hoạch và tiến hành
nâng cấp hệ thống đê biển, đê cửa sông bảo đảm chống được mức nước
triều tần suất 5% ứng với gió bão cấp 9 (năm 2015) và cấp 10 (năm 2020)
đối với các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Nam. Từng bước thực hiện
bốn nhân tố chính là vấn đề buôn bán lượng khí thải, hợp tác kỹ thuật,
giảm phá rừng, ứng phó với BĐKH nhằm đạt được những mục tiêu dài
Vietnam Forestry University 17 Nhóm sinh viên thực
hiện
Vietnam Forestry University
hạn để góp phần vào mục tiêu chung của toàn cầu. Dù còn nhiều thách
thức nhưng đến nay những chương trình, kế hoạch đã được triển khai,
nhất là công tác thông tin, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng và
đã tạo được nhiều giống cây trồng mới thích nghi với sự BĐKH. Cùng
với sự quan tâm và hợp tác của các tổ chức quốc tế, các Quốc gia trong
khu vực và thế giới, Việt Nam sẽ ứng phó và thích ứng thành công với
BĐKH, hạn chế thiên tai, phát triển bền vững.
3.2.Tại Tây Nguyên
“Tôi tin rằng chúng ta không thể quản trị được biến đổi khí hậu nhưng
chúng ta có thể thích ứng được với biến đổi khí hậu. Hiện nay, khi biến
đổi khí hậu đã trở thành vấn đề bức xúc thì thái độ thờ ơ và vô tư là
không thể chấp nhận được”.
PGS.TS Nguyễn Đình Hòe - Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường
Việt Nam
Chìa khóa cho các tỉnh Tây Nguyên nói riêng và các nước Đông
Nam Á nói chung là phải bảo vệ những cánh rừng nhiệt đới, siết chặt
công tác quản lý rừng, đầu tư trồng rừng cũng như các dự án trồng cây
xanh trên lãnh thổ của mình, các biện pháp quản lý hệ thống thủy lợi và
Ngôi nhà chung của mọi loài sinh vật đang bị đe dọa mà trách nhiệm
phục hồi nó thuộc về con người chúng ta. Những nỗ lực ngăn chặn các
khí thải nhà kính, hạn chế khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo
được, sử dụng những nhiên liệu không gây ô nhiễm môi trường, các nước
tham gia Hội nghị, cùng bàn bạc về vấn đề biến đổi khí hậu đã cho thấy
phần nào sự quyết tâm của chúng ta trong việc khắc phục hậu quả. Song
bên cạnh đó, đây không chỉ là vấn đề của những nhà lãnh đạo cấp cao mà
ngay đến một công dân bình thường cũng có thể góp phần vào việc bảo
vệ Trái Đất, bảo vệ ngôi nhà chung bằng những hành động đơn giản dễ
làm như tiết kiệm điện, tham gia trồng cây xanh, tự tìm hiểu và nâng cao
nhận thức của mình trong thời đại “ Biến đổi khí hậu toàn cầu”
Vietnam Forestry University 19 Nhóm sinh viên thực
hiện
Vietnam Forestry University
II – TÁC ĐỘNG CỦA BẢN THÂN ĐẾN MÔI TRƯỜNG:
1. Sử dụng lãng phí:
Nước:
Trong hoạt động tắm, giặt: Ở một số địa phương, người dân
sử dụng nước một cách phung phí, không hề tiết kiệm: dùng
xong không đóng, tắt vòi hay mở vòi thật to một cách không
cần thiết.
Sử dụng nước uống một cách phí phạm và sai mục đích.
Điện:
Sau khi dùng xong không đóng, tắt các thiết bị điện.
Dùng máy tính, máy nghe nhạc, rađio hoặc các thiết bị giải
trí bằng điện quá mức, thiếu giới hạn.
Thiếu kiến thức khi mua các thiết bị điện như bóng đèn, bàn
ủi, nồi cơm điện.
Dùng các thiết bị điện có công suất lớn vào giờ cao điểm,
làm tăng cường độ tiêu thụ điện lên trên mức bình thường,
Hợp tác quốc tế.
Định giá cho phát thải carbon
Chuyển nhu cầu sang các nguồn năng lượng carbon thấp.
Xây dưng các công cụ pháp lý.
Phục hồi của các hệ sinh thái:
Trồng rừng.
Bảo tồn các hệ sinh thái động thực vật.
Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật.
Phát triển kinh tế xã hội dựa trên các nguyên tắc bền vững.
Vietnam Forestry University 21 Nhóm sinh viên thực
hiện
Vietnam Forestry University
Tài Liệu Tham Khảo
http://tnmttuyenquang.gov.vn
http://vietbao.vn
http://nchmf.gov.vn
http://www.nea.gov.vn
http://thuvienkhoahoc.com
http://monre.gov.vn
http://tintuc.xalo.vn
Môi trường khí quyển_trang 67 – 69 (PGS.TS Đặng Đình Bạch – TS
Nguyễn Văn Hải)
Vietnam Forestry University 22 Nhóm sinh viên thực
hiện