Lê Thánh Tông - vị vua hiền tài, nhà văn hóa lớn của
dân tộc
Lê Thánh Tông là miếu hiệu của Lê Tư Thành, con thứ tư, cũng là con út của
vua Lê Thái Tông. Ông còn có tên là Hạo, hiệu là Thiên Nam Động chủ, sinh ngày
27/ 7/ 1442, tại nhà ông ngoại ở mạn tây nam Quốc Tử Giám, nay là khu đất chùa
Huy Văn, Hà Nội. Sau khi Nhân Tông bị hãm hại rồi Nghi Dân bị lật đổ, ông được
lên ngôi lúc mới 18 tuổi Lê Thánh Tông làm vua 38 năm với hai niên hiệu Quang
Thuận (1460 - 1469) và Hồng Đức (1470 - 1497), là bậc vua anh hùng, tài lược, dù
Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không hơn được (Toàn thư).
Là vị vua thứ năm của triều Lê, là con thứ 4 của vua Lê Thái Tông và bà Tiệp
dư Ngô Thị Ngọc Dao. Vốn bà Tiệp Dư có mang Tư Thành bị bà phi Nguyễn Thị
Anh mưu hại. Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ đã cứu giúp và đưa đi lánh
nạn, sinh ra ông ở chùa Huy Văn (quận Đống Đa, Hà Nội). Thuở nhỏ Tư Thành
sống ngoài cung, 4 tuổi được bà Nguyễn Thị Anh (lúc ấy là nhiếp chính cho vua
Lê Thánh Tông) đón về phong vương, cho học hành cùng các thân vương. Cuối
năm 1459, Nghi Dân cùng phe đảng giết chết mẹ con Nhân Tông đoạt ngôi vua.
Giữa năm 1960, triều thần làm chính biến phế Nghi Dân lập Tư Thành. Ông lên
ngôi năm 38 tuổi, đặt niên hiệu là Quang Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-
1497). Sử gia đời sau coi Thánh Tông là vị vua “tư trời cao siêu, anh minh quyết
đoán, có hùng tài đại lược” (Vũ Quỳnh). Lê Thánh Tông là người yêu thơ văn, ông
đã đề xướng các cuộc xướng họa cung đình, triệu tập 28 văn thần tạo thành tao
đàn nhị thập bát tú. Ông là một nhà vua anh minh, có nhiều cuộc cải cách cả về
chính trị lẫn văn hóa đánh dấu một giai đoạn phát triển rực rỡ của đất nước.
Là người yêu dân yêu nước thiết tha, khi ở ngôi, Thánh Tông tỏ ra là nhà tổ
chức vô cùng tài giỏi, có tinh thần cải cách táo bạo và một ý chí tự cường dân tộc
hết sức mạnh mẽ. Hành chính nước Đại Việt với 5 đạo từ thời Lê Thái Tổ, Thánh
Tông chia thành 15 đạo, rồi đổi thành thừa tuyên. Dưới thừa tuyên là phủ, huyện,
châu, tổng, xã. Hệ thống quan lại cũng được đặt lại từ trung ương xuống địa
phương, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Nhờ vậy, sự quản lý lãnh
thổ chặt chẽ, biên cương được bảo vệ vững chắc. Trình độ quản lý đất nước đạt
cao luật Hồng Đức, coi nó là hệ thống luật tiến bộ với nhiều sự tương đương về
chức năng so với những quan niệm luật pháp Tây phương cận hiện đại
Thời kỳ Lê Thánh Tông trị vì, xã hội phát triển mọi mặt, đất nước đạt tới đỉnh
cao cường thịnh, để lại một dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc với những giá trị
văn hóa xã hội vô cùng lớn: Hồng Đức thiên hạ bản đồ, Hồng Đức hình luật,
Thiên Nam dư hạ tập, Hồng Đức quốc âm thi tập Một việc có ý nghĩa lịch sử,
ông làm năm 1464, là rửa oan cho Nguyễn Trãi, cho sưu tầm thơ văn Nguyễn Trãi
để lưu lại hậu thế, và Lê Thánh Tông như đã tạc bia cho Nguyễn Trãi bằng câu
thơ: Ức Trai tâm thượng quang khê tảo (Tâm hồn Ức Trai rực rỡ văn chương). Có
thể nói, Thánh Tông đã có công lao tạo lập cho thời đại ông một nền văn hóa với
diện mạo riêng, khẳng định bước phát triển mới của lịch sử văn hóa dân tộc. Nền
giáo dục khoa cử nước ta thịnh đạt đặc biệt và vai trò của trí thức được đề cao
chưa có thời nào được như thời Lê Thánh Tông. Ngoài Hàn Lâm viện, Quốc Sử
viện, Nhà Thái học, Quốc Tử Giám là các cơ quan văn hóa giáo dục lớn của đất
nước, Thánh Tông còn cho xây Kho bí thư để chứa sách, và lập Hội Tao đàn do
ông làm Tao Đàn nguyên súy, vừa sáng tác văn thơ, vừa nghiên cứu, phê bình.
Những trước tác của Hội Tao đàn được ghi chép trong bộ sách đồ sộ Thiên Nam
dư hạp tập, và trong các sách Quỳnh uyển cửu ca, Minh lương cẩm tú, Hồng Đức
quốc âm thi tập Trong đó, không chỉ ghi chép thơ văn, mà còn ghi chép về lý
luận phê bình văn học, về lịch sử, kinh tế, quan chế, địa lý Thánh Tông là người
dẫn đầu phong trào lạ lùng cả về nghệ thuật thể hiện, cả về tư tưởng triết học.
Thánh Tông di thảo là dấu mốc quan trọng ghi nhận bước trưởng thành của truyện
ký nước ta viết bằng chức Hán, ra đời trước cả tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn
Dữ (thế kỷ XVI).
Về thơ, Lê Thánh Tông là một thi sĩ mang tầm vóc thời đại. Thơ ông là tiếng
nói của một nhân cách lớn, một nhà tư tưởng lớn, một trái tim chứa đựng bát ngát
núi sông và tràn đầy tự hào dân tộc: Nắng ấm nghìn trượng tỏa trên ngọn cờ…
Phóng hết tầm mắt nhìn núi sông muôn dặm (Bài Buổi sớm từ sông Cấm đi tuần
về phía đông). Và bài Qua sông Bạch Đằng vừa hào sảng vừa có chiều sâu lịch sử: