Tài liệu ôn tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh - Pdf 20

1

Câu 1: Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
- Giá trị truyền thống dân tộc:
 Truyền thống yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh dựng nước, giữ nước
 Truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái
 Truyền thống lạc quan yêu đời, cần cù, dũng cảm, ham học hỏi
- Tinh hoa văn hóa nhân loại:
 Tư tưởng văn hóa phương Đông:
Về tư tưởng và văn hóa phương Đông, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những mặt tích cực của
Nho giáo về triết lý hành động, nhân nghĩa, ước vọng về một xã hội bình trị, hòa mục, thế
giới đại đồng; về một triết lý nhân sinh, tu thân, tề gia; đề cao văn hóa trung hiếu "dân vi quý,
xã tắc thứ chi, quân vi khinh".
Về Phật giáo, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn; coi
trọng tinh thần bình đẳng, chống phân biệt đẳng cấp, chăm lo điều thiện,
Về chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh tìm thấy những điều thích hợp
với điều kiện nước ta, đó là “dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc”.
 Tư tưởng văn hóa phương Tây:
Về tư tưởng và văn hóa phương Tây, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu tiếp thu tư tưởng văn
hóa dân chủ và cách mạng của cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ.
Về tư tưởng dân chủ của cách mạng Pháp, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng của các nhà
khai sáng: Vônte , Rútxô, Môngtexkiơ. Đặc biệt, Người chịu ảnh hưởng sâu sắc về tư tưởng
tự do, bình đẳng của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của Đại cách mạng
Pháp.
Về tư tưởng dân chủ của cách mạng Mỹ, Người đã tiếp thu giá trị về quyền sống, quyền
tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập năm 1776, quyền của nhân dân
kiểm soát chính phủ.
- Chủ nghĩa Mác-Lênin:
Chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí
Minh.
 Thực tiễn trong gần 10 năm đi tìm đường cứu nước, nhất là sau khi đọc Sơ thảo lần

tham dự Đại hội Tua, đứng về phía Quốc tế cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản
Pháp. Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh đã có sự chuyển biến vượt bậc về tư tưởng; từ giác ngộ
chủ nghĩa dân tộc tiến lên giác ngộ chủ nghĩa Mác- Lênin, từ một chiến sĩ chống thực dân
phát triển thành một chiến sĩ cộng sản Việt Nam. Đây là một bước chuyển biến cơ bản về tư
tưởng cứu nước của Hồ Chí Minh: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản".
1921-1930: Hình thành tư tưởng HCM về con đường cách mạng Việt Nam
Hồ Chí Minh đã có thời kỳ hoạt động thực tiễn và lý luận sôi nổi, phong phú ở Pháp
(1921-1923), ở Liên Xô (1923-1924), ở Trung Quốc (1924-1927), ở Thái Lan (1928-1929)
Trong thời gian này, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã hình thành cơ bản.
Hồ Chí Minh đã kết hợp nghiên cứu xây dựng lý luận, kết hợp với tuyên truyền tư tưởng giải
phóng dân tộc và vận động tổ chức quần chúng đấu tranh, xây dựng tổ chức cách mạng,
chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Những tác phẩm như Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường Kách mệnh (1927) và
những bài viết của Hồ Chí Minh trong thời kỳ này đã thể hiện những quan điểm lớn và độc
đáo, sáng tạo về con đường cách mạng Việt Nam.
3

Cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh trong những năm
20 của thế kỷ XX được truyền bá vào Việt Nam, làm cho phong trào dân tộc và giai cấp ở
nước ta trở thành một phong trào tự giác, dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
ngày 3-2-1930, thông qua Cương lĩnh đầu tiên của Đảng.
1930-1945: Kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt Nam, tiến tới giành thắng
lợi đầu tiên cho cách mạng Việt Nam
Trên cơ sở tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam đã hình thành về cơ bản, trong
mấy năm đầu của những năm 1930, Hồ Chí Minh đã kiên trì giữ vững quan điểm cách mạng
của mình, vượt qua khuynh hướng “tả” đang chi phối Quốc tế Cộng sản, dẫn đến thắng lợi
của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời.
Tuyên ngôn độc lập do Hồ Chí Minh trịnh trọng công bố trước quốc dân đồng bào và toàn
thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước của dân, do dân, vì

tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân tộc độc lập.
Trong những bài Đông Dương và nhiều bài khác, Người lên án mạnh mẽ chế độ cai trị hà
khắc, sự bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương trên các lĩnh vực chính tri, kinh tế,
văn hóa, giáo dục. Người chỉ về sự đối kháng giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế
quốc thực dân là mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa, đó là mâu thuẫn không thể điều hòa được.
Người viết: “ Để che đậy xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân
luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: bác
ái, bình đẳng ”
- Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc
 Từ khảo sát thất bại PTYN VN cuối TK XIX đầu XX
 Khảo sát tính ko triệt để của CMTS Mỹ, CMTS Pháp, khảo sát thắng lợi của CMT10
Nga.
 Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Hồ Chí Minh viết: “làm tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng”, để đi tới xã hội cộng sản. Con đường đó kết hợp cả
nội dung dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, chính là con đường độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội.
 Con đường đó phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở thuộc địa. Đó cũng là nét độc
đáo, khác biệt với con đường phát triển của các dân tộc đã phát triển lên CNTB ở phương
Tây.
b. Độc lập tự do, nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa
- Cách tiếp cận từ quyền con người
Hồ Chí Minh rất trân trọng quyền con người. Người đã tìm hiểu và tiếp nhận những nhân
tố về quyền con người được nêu trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ, Tuyên ngôn
nhân quyền và dân quyền 1791 của cách mạng Pháp : quyền bình đẳng, quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Người khẳng định: “ Đó là những lẽ phải không ai
chối cải được”.
- Nội dung của độc lập dân tộc
 Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã gửi tới Hội nghị Véc-Xây bản yêu sách tám điểm, đòi
các quyền tự do. dân chủ cho nhân dân Việt Nam.
 Tháng 5/1941, Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị lần thứ VIII của Ban Chấp hành Trung

 Khẳng định vai trò của giai cấp công nhân và quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng
CSVN
 Chủ trương đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh công nông và trí thức dưới sự
lãnh đạo của Đảng
 Sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để chống lại bạo lực phản cách mạng của
kẻ thù…
b. Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết, độc lập dân tộc gắn liền với Chủ
nghĩa xã hội
- Năm 1920, ngay khi quyết định phương hướng giải phóng dân tộc theo con đường
cách mạng vô sản, ở Hồ Chí Minh đã có sự gắn bó hữu cơ: giữa dân tộc và giai cấp; dân tộc
và quốc tế, độc lập dân tộc và CNXH
- Theo Người, chỉ có xóa bỏ tận gốc tình trạng áp bức, bóc lột, thiết lập một nhà nước
thực sự của dân, do dân, và vì dân, mới đảm bảo cho người lao động quyền làm chủ, giữa độc
6

lập dân tộc với tự do và hạnh phúc của con người. Vì vậy, sau khi giành độc lập, phải tiến lên
xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người được sung sướng tự do.
c. Giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấp
GPDT khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân là nền tảng để giải phóng giai cấp, vì thế
lợi ích giai cấp phải phục tùng lợi ích dân tộc.
d. Đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng độc lập của các dân
tộc khác
Là một chiến sĩ quốc tế chân chính, Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh cho độc lập của
dân tộc Việt Nam, mà còn đấu tranh cho tất cả các dân tộc bị áp bức. Người đề ra khẩu hiệu:
“Giúp bạn là tự giúp mình” và chủ trương phải bằng thắng lợi của cách mạng mỗi nước mà
đóng góp vào thắng lợi chung của cách mạng thế giới.
Câu 3: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
1. Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc
a. Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng ở thuộc địa
Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc phân loại ba loại cách mạng:

- Con đường của Phan Bội Châu chẳng khác gì “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”
- Con đường của Phan Châu Trinh chẳng khác gì “xin giặc rủ lòng thương”
- Con đường Hoàng Hoa Thám tuy có thực tế nhưng mang cốt cách phong kiến
Vì vậy dù rất khâm phục, nhưng Hồ Chí Minh không tán thành mà quyết tâm đi tìm một
con đường mới
HCM cho rằng CMTS là một cuộc cách mạng không triệt để.
Bằng sự nhạy cảm từ thực tiễn, HCM sớm hoài nghi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái”
và “văn hóa khai sáng” của CNTB.
Người nhận xét về CMTS Pháp:“Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là
cách mệnh tư bản, cách mệnh chưa đến nơi. Tiếng là Cộng hòa và Dân chủ, kỳ thực, trong
thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Chính vì nhận ra bản chất của
CMTB là “không triệt để” nên HCM đã không lựa chọn con đường này
Khi tiếp cận CMT10 Nga, HCM thấy: đây không chỉ là cách mạng tư sản, mà còn là cách
mạng giải phóng dân tộc. Từ đó, Người tin theo Lênin và QT III, vì đã “bênh vực cho các
dân tộc bị áp bức”
Khi tiếp cận lý luận của Lênin, Người tìm thấy con đường mới để giải phóng dân tộc là
“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường
CMVS”
3. Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng Sản lãnh
đạo
a. Cách mạng trước hết phải có Đảng
Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người khẳng định: “Đảng có vững cách mệnh mới
thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.
b. Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất
Đầu năm 1930, Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một chính đảng của giai cấp
công nhân và dân tộc Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác- Lênin “làm cốt”, có tổ chức chặt chẽ, kỷ
luật nghiêm minh và mật thiết liên lạc với quần chúng
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập đã quy tụ được lực lượng và sức
mạnh của cả dân tộc Việt Nam. Nhờ đó, Đảng đã nắm ngọn cờ lãnh đạo duy nhất đối với
cách mạng Việt Nam và trở thành nhân tố hàng đầu đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng

thực hiện được bằng sự nổ lực tự giải phóng.
Vận dụng quan điểm của C. Mác: “Sự giải phóng của giai cấp công nhân phải là sự
nghiệp của bản thân giai cấp công nhân”, Người đi đến luận điểm “Công cuộc giải phóng anh
em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”.
Người chủ trương phát huy nỗ lực chủ quan của dân tộc, tránh tư tưởng bị động, trông
chờ vào sự giúp đỡ bên ngoài. Tháng 8-1945, khi thời cơ cách mạng xuất hiện, Người kêu
gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy, đem sức ta mà giải phóng cho ta”.
b. Quan hệ giữa cách mạng thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc
Theo Hồ Chí minh, giữa cách mạng GPDT ở thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính
quốc có mối quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ
9

nghĩa đế quốc. Đó là mối quan hệ bình đẳng chứ không phải là quan hệ lệ thuộc, hoặc chính,
phụ.
Nhận thức đúng vai trò của cách mạng thuộc địa và sức mạnh dân tộc, Nguyễn Ái Quốc
cho rằng cách mạng GPDT ở thuộc địa có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở
chính quốc.
Đây là một luận điểm sáng tạo, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, một cống hiến rất
quan trọng của Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin đã được thắng
lợi của phong trào cách mạng GPDT chứng minh là đúng.
6. Cách mạng giải phóng dân tộc phải tiến hành bằng bạo lực cách mạng
a. Tính tất yếu của bạo lực cách mạng
Các thế lực đế quốc sử dụng bạo lực để xâm lược và thống trị thuộc địa, đàn áp dã man
các phong trào yêu nước, vì thế, con đường để giành và giữ độc lập dân tộc chỉ có thể là con
đường cách mạng bạo lực.
Hồ Chí Minh vạch rõ tính tất yếu của bạo lực cách mạng: Trong cuộc đấu tranh gian khổ
chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản
cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền.
Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, coi sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp
của

độ sức mạnh chủ quan, tránh tư tưởng bị động, trông chờ vào sự giúp đỡ bên ngoài. Mặc dù
rất coi trọng sự giúp đỡ của quốc tế, nhưng Hồ Chí Minh luôn đề cao sức mạnh bên trong,
phát huy đến mức cao nhất mọi nổ lực của dân tộc, đề cao tinh thần độc lập, tự chủ.
 Tư tưởng HCM về CM GPDT đã được thực tiễn VN chứng minh chưa ? Cho ví dụ
- CMT8-1945
- Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975
 Có bạo lực cách mạng
 Liên minh công-nông
 Đảng lãnh đạo
 Dòng chảy của cách mạng thế giới
 Ý nghĩa học tập:
- Khẳng định vai trò to lớn của HCM trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
o Dân ta “1 cổ, 2 tròng, 3 tầng áp bức”, phong trào đấu tranh yêu nước thất bại. HCM đặt nền
móng  thành công
- Nhận thức đúng và khơi dậy được sức mạnh dân tộc nguồn động lực mạnh mẽ để
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
o Việt Nam “rừng vàng, biển bạc”, nguồn nhân lực, chất xám thừa (thừa thầy, thiếu thợ), chính
sách hướng nghiệp chưa được quan tâm đúng mức
o Cần thay đổi quan điểm xã hội, chính sách tiền lương, chính sách GD-ĐT
o Cơ sở vật chất
o Tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước
- Quán triệt tư tưởng HCM, nhận thức và giải quyết vấn đề để dân tộc trên quan
điểm giai cấp
o Giai cấp lao động xã hội là giai cấp công nhân (do điều kiện khách quan)
o Giữ vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng
o Giải quyết vấn đề dân tộc bằng sự đoàn kết liên minh công – nông
o Khi cần thiết có thể sử dụng bạo lực cách mạng
11

- Chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các

nông không chỉ trong mỗi một dân tộc mà cần gắn với đại đoàn kết quốc tế, với các nước khác trên thế giới.
- Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào cách mạng
Việt Nam và thế giới
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp xâm lược nhiều phong trào yêu nước xuất hiện như:
Cần Vương, Văn Thân, Yên Thế, Đông Du, Duy Tân… các phong trào này đều thất bại, từ đó HCM rút ra 2
bài học: cần phải có lực lượng lãnh đạo mới đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, để đánh thắng được kẻ thù
mạnh thì cần phải quy tụ được sức mạnh của cả dân tộc. HCM viết: “Tôi muốn đi ra ngoài xem nước Pháp
và các nước khác. Sauk hi xem họ làm thế nào tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”.
12

Hồ Chí Minh đã nghiên cứu những bài học của cuộc Cách mạng Tháng Mười. Những bài học về huy
động, tập hợp lực lượng quần chúng công nông đông đảo để giành và giữ chính quyền cách mạng, để xây
dựng chế độ xã hội chủ nghĩa đã giúp Hồ Chí Minh thấy rõ tầm quan trọng của việc đoàn kết, tập hợp lực
lượng cách mạng, trước hết là công nông.
Đối với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến Trung
Quốc và ấn Độ là hai nước có thể đem lại cho Việt Nam nhiều bài học rất bổ ích về tập hợp các lực lượng
yêu nước tiến bộ để tiến hành cách mạng.
2. Vai trò của đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng
a. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của
cách mạng
Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản nhất quán và lâu dài, xuyên
suốt tiến trình cách mạng.
Đại đoàn kết dân tộc phải luôn nhận thức là vấn đề sống còn, quyết định thành bại của
cách mạng.
Chính sách Mặt trận của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra để thực hiện đại đoàn
kết dân tộc. Nhờ tư tưởng nhất quán và chính sách Mặt trận đúng đắn, Đảng ta và Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công khối đại đoàn kết dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam
giành được nhiều thắng lợi to lớn.
b. Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng của dân tộc
Đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của một giai đoạn cách mạng. nhấn

nước tràn đầy, vì độ lượng của nó hẹp nhỏ”.
“Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài…Ta đoàn kết để đấu
tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà”
4. Nguyên tắc cơ bản của đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng HCM
- Hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhất
- Nguyên tắc xây dựng và hoạt động của Mặt trận dân tộc thống nhất:
 Mặt trận phải được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí, đặt dưới sự lãnh đạo
của Đảng.
 Khối đại đoàn kết trong Mặt trận phải hoạt động trên cơ sở đảm bảo lợi ích tối cao của dân
tộc, quyền lợi cơ bản của các tầng lớp nhân dân.
 Mặt trận phải hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, đảm bảo đoàn kết ngày càng
rộng rãi và bền vững.
 Mặt trận là khối đoàn kết chặt chẽ lâu dài, đoàn kết thật sự, chân thành, thân ái, giúp đỡ nhau
cùng tiến bộ.
5. Sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại
 Sức mạnh dân tộc = đại đoàn kết dân tộc
 Sức mạnh thời đại = đại đoàn kết quốc tế
 SMDT: truyền thống cách mạng, chủ nghĩa yêu nước, khối đại đoàn kết dân tộc, vị trí địa
lý…
 SMTĐ: sự giúp đỡ của giai cấp công nhân trên thế giới, khoa học công nghệ…
 Phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo ra sức mạnh tổng hợp,
cùng với nhân thế giới đấu tranh đánh bại kẻ thù xâm lược nói chung và CNĐQ nói riêng.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải biết tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, tận dụng tối đa
sức mạnh của thời đại. Ngày nay, sức mạnh của thời đại tập trung ở cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ, xu thế toàn cầu hóa. Chúng ta phải tranh thủ tối đa các cơ hội do xu thế đó tạo ra để nâng
cao hiệu quả hợp tác quốc tế; phải có cơ chế, chính sách đúng để thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm
14

quản lý và công nghệ hiện đại, thực hiện kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại theo tư
tưởng Hồ Chí Minh.

nhân đạo, nhân văn Mác-xít
- Bao trùm lên tất cả là Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ văn hóa.Quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng là một quá trình xây dựng văn hóa,kết tinh, kế thừa,
phát triển những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp, tinh hoa văn hóa thế giới, truyền thống
với hiện đại, dân tộc và quốc tế.
15

3. Đặc trưng của CNXH ở Việt Nam
a. Quan niệm của HCM về đặc trưng của CNXH ở VN
Cách diễn đạt của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội được biểu đạt bằng ngôn ngữ của cuộc
sống nhân dân Việt Nam, rất mộc mạc, bình dị, dễ hiểu:
Thứ nhất, Hồ Chí Minh có quan điểm tổng quát khi coi chủ nghĩa xã hội như là một
chế độ xã hội bao gồm các mặt rất phong phú, hoàn chỉnh, trong đó con người được phát
triển tự do.
Thứ hai, quan niệm về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trên một số mặt như chính trị, kinh
tế, văn hóa…Với cách diễn đạt như thế, ta không nên tuyệt đối hóa từng mặt hoặc tách riêng
về từng mặt của nó mà cần đặt trong một tổng thể chung.
Về kinh tế: “CNXH là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng…làm của chung:
Về mặt chính trị: CNXH là “Một xã hội không có chế độ bóc lột người, một xã hội bình
đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, ai
làm ít thì hưởng ít, không làm không hưởng”
Về vai trò nhân dân: CNXH “đó là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự
lãnh đạo của Đảng”
Về mục tiêu: CNXH là “Làm sao cho dân giàu nước mạnh”, “Làm cho Tổ quốc mạnh,
đồng bào sung sướng”, “Là nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”.
CNXH là “trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi
người có công ăn, việc làm, được ấm no và sống cuộc đời hạnh phúc”
Thứ ba , Hồ Chí Minh quan niệm về chủ nghĩa xã hội bằng cách nhấn mạnh mục tiêu và
lợi ích của Tổ quốc, nhân dân là “làm sao cho dân giàu, nước mạnh”, “là nhằm nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân”, là “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được

dân và chuyên chính với kẻ thù của nhân dân-thiểu số phản động chống lại lợi ích nhân dân,
chống lại chế độ XHCN; nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội của
quần chúng, của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Mục tiêu kinh tế: Theo Hồ Chí Minh, nền kinh tế mà chúng ta xây dựng là nền kinh tế
XHCN với công nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến, cách bóc lột theo CNTB
được bỏ dần, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện, kết hợp các loại lợi
ích kinh tế. Người đặc biệt nhấn mạnh tới chế độ khoán-một trong những hình thức của sự
kết hợp lợi ích kinh tế.
- Mục tiêu văn hóa-xã hội:
 Theo Hồ Chí Minh, văn hóa là một mục tiêu cơ bản của cách mạng XHCN, văn hóa
thể hiện trong mọi sinh hoạt tinh thần của xã hội.
 Về bản chất của nền văn hóa, Người khẳng định “phải xã hội chủ nghĩa về nội dung”.
Phương châm xây dựng nền văn hóa mới là: dân tộc, khoa học, đại chúng; trong khi đáp ứng
được mặt giải trí thì không được xem nhẹ nâng cao tri thức của quần chúng; văn hóa gắn liền
với lao động sản xuất.
 Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ của cách mạng XHCN là đào tạo con người.
Bởi vì, mục tiêu cao nhất, động lực quyết định nhất công cuộc xây dựng chính là con người.
Người cho rằng: “Muốn có con người XHCN, phải có tư tưởng XHCN”, tư tưởng XHCN ở
mỗi con người là kết quả của việc học tập, vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, nâng
cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.
 Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng. Người cũng
rất quan tâm đến mặt tài năng, luôn tạo điều kiện để mỗi người rèn luyện tài năng, đem tài
năng cống hiến xã hội.
17

b. Động lực
- Phát huy các nguồn động lực về vật chất và tinh thần
 Động lực bên trong: con người giữ vị trí, vai trò quyết định được phát huy trên 2
phương diện: cộng đồng, cá nhân.
 Động lực bên ngoài: Sứ mạnh thời đại, đoàn kết quốc tế

- Tổng kết các kiểu Nhà nước trong thực tiễn
- Nghiên cứu các bộ luật của Nhà nước phong kiến nói về vấn đề Nhà nước
2. Thế nào là Nhà nước của dân, do dân và vì dân
18

a. Nhà nước của dân:
Theo HCM, Nhà nước của dân có nghĩa là:
- Trong Nhà nước thì “dân là chủ”, “dân làm chủ”
- Dân có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo luật
pháp
- Những người trong bộ máy Nhà nước chỉ là thừa quyền của dân, là “công bộc” của
dân
- Nhà nước phải hoàn thành các thiết chế, cơ chế, để nhân dân thực hiện được quyền dân
chủ, quyền làm chủ của mình
Tuy nhiên, trên thực tế nhiều “vị đại diện” đã nhầm lẫn “sự ủy quyền” của dân thành
“quyền lực của cá nhân”, vì thế mới có chuyện lộng quyền, của quyền, nhũng nhiều dân…
Hiến pháp năm 1946 có ghi: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả có
quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt giống nòi, gái
trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo…”.
Điều 32: “Việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân giải quyết”.
Hiện nay, Nhà nước ta đã thực sự làm được điều này, đó là mọi việc quan trọng điều đưa
ra Quốc hội – cơ quan quyền lực đại diện cho nhân dân.
b. Nhà nước do dân:
- Nhân dân lập ra Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp theo chế độ bầu cử phổ thông
đầu phiếu, trực tiếp, bỏ phiếu kín. Hoạt động của các cơ quan Nhà nước theo ủy quyền; bảo
đảm chế độ toàn dân phúc quyết.
- Quan niệm về chức vụ cán bộ Nhà nước, kể cả chức vụ Chủ tịch nước của bản thân
mình, là bởi dân ủy thác cho.
- Nhân dân có quyền kiểm soát, giám sát và bãi miễn các đại biểu.
c. Nhà nước vì dân:

- Để đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân phải:
- Mở rộng dân chủ trên tất cả các lĩnh vực
- Tăng cường pháp chế XHCN
- Hiến pháp và pháp luật phải thể chế dân chủ quyền làm chủ của nhân dân
- Đảm bảo mọi người dân bình đẳng trước pháp luật
- Xây dựng và thực hiện nguyên tắc dân chủ trong cộng đồng dân cư (quy tắc đó không được
trái pháp luật)
- Cần thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở đã được Chính phủ ban hành
b. Kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước
Để xây dựng Nhà nước vững mạnh đòi hỏi:
- Phải cải cách, xây dựng, kiện toàn bộ máy hành chính Nhà nước
- Đảm bảo nền hành chính dân chủ trong sạch, vững mạnh
- Kiên quyết khắc phục quan lieu, cửa quyền, phiền hà, tham nhũng…
- Cần tinh giản bộ máy Nhà nước, nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực của cán bộ công chức
Trong điều hiện hiện nay cần chú ý:
- Tiếp tục cải cách hành chính
- Đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong việc giải quyết khiếu kiện của công dân
- Tiêu chuẩn hóa, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ công chức
- Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức vừa có đức, vừa có tài, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức phải dân chủ tiến hành thường xuyên, đảm
bảo chất lượng
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tư pháp phải dân chủ, đổi mới, nâng cao chất lượng
20

c. Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Trong giai đoạn hiện nay, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là trách nhiệm cực
kỳ quan trọng của Đảng cầm quyền. Yêu cầu đó thể hiện ở 2 nội dung sau:
Một là, Đảng lãnh đạo để Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, vừa đảm bảo
sự lãnh đạo của Đảng vừa phát huy vai trò quản lý của Nhà nước
Hai là, tiếp tự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.Cụ thể là:

- “Đảng cầm quyền” là Đảng mục đích và lý tưởng hướng đến lợi ích của nhân dân
21

 Đem lại lợi ích cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động, dân tộc và sự tiến bộ của
xã hội.
 Mục đích, lý tưởng của Đảng cầm quyền không thay đổi trong suốt quá trình lãnh đạo.
- “Đảng cầm quyền” là Đảng vừa lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân
dân
Theo HCM, bản chất của “Đảng cầm quyền” là vừa lãnh đạo nhân dân, vừa làm “đầy tớ”
của nhân dân. Đây là quan điểm mới phản ánh sự vận dụng sáng tạo lý luận của CN Mác-
Lênin về ĐCS
- Khi xác định “Đảng lãnh đạo” HCM khẳng định: vai trò lãnh đạo duy nhất, toàn diện
của Đảng đối với toàn xã hội, khi đã có chính quyền.
- Khi xác định “Đảng lãnh đạo” HCM đòi hỏi ĐCS:
 Phải trí tuệ, bản lĩnh, có tầm nhìn xa trông rộng, có đường lối, cương lĩnh đúng đắn
 Phải lãnh đạo bằng cương lĩnh, đường lối, bằng thuyết phục, bằng tấm gương của
Đảng viên…từ đó làm cho dân tin vào Đảng, ủng hộ Đảng.
 Phải lãnh đạo toàn diện, chi li, phải chăm lo đến mọi mặt đời sống nhân dân
 Đảng lãnh đạo về “dân làm chủ”
- Theo HCM, vai trò lãnh đạo của Đảng chỉ được quần chúng thừa nhận khi:
o ĐCS có đường lối, chính sách đúng đắn
o ĐCS thể hiện được năng lực lãnh đạo
o Đảng viên thật sự mẫu mực về đạo đức
- Khi xác định “Đảng là đầy tớ” của nhân dân, HCM nhắc nhở Đảng viên:
- Phải hết lòng trung thành với nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu phấn
đấu
- Phải lắng nghe dân, chịu sự chỉ bảo của dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
- Phải làm sao để bao nhiêu quyền lực đều ở nơi dân, bao nhiêu lợi ích đều là vì dân
- Phải làm cho dân là chủ thể của mọi cơ cấu quyền lực
- Phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giỏi, phẩm chất đạo đức tốt…

đoán chuyên quyền, dựa dẫm tập thể, không dám quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm.
- Nguyên tắc 3: Tự phê và phê bình
Theo Hồ Chí Minh , tự phê bình và phê bình phải tiến hành thường xuyên như rửa mặt
hàng ngày; phải thẳng thắn, chân thành, trung thực, không nể nang, không giấu giếm và cũng
không thêm bớt khuyết điểm, phải có tình thương yêu lẫn nhau.
- Nguyên tắc 4: Kỷ luật nghiêm minh và tự giác
Sức mạnh của một tồ chức cộng sản và của mỗi người đảng viên bắt nguồn từ ý thức tổ
chức kỷ luật nghiêm minh, tự giác. Tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng đòi hỏi tất cả tổ chức
Đảng, mọi đảng viên phải bình đẳng trước Điều lệ Đảng, trước pháp luật của Nhà nước, mọi
quyết định của Đảng, uy tín của Đảng bắt nguồn tự sự gương mẫu của mỗi đảng viên tự giác
tuân thủ kỷ luật của Đảng.
- Nguyên tắc 5: Đoàn kết thống nhất trong Đảng
Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng phải dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
cương lĩnh, Điều lệ Đảng, đường lối của Đảng, phải thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng,
nghiêm chỉnh phê bình và tự phê bình, chống chủ nghĩa cá nhân, phải sống có nghĩa, có tình.
5. Xây dựng ĐCS VN trong sạch vững mạnh
a. Xây dựng Đảng – quy luật tồn tại và phát triển của Đảng
Theo HCM, tất yếu xây dựng Đảng xuất phát từ căn cứ:
23

Một là, sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo phát triển liên tục, gồm nhiều thời kỳ,
nhiều giai đoạn với nhiều mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể
Trước mỗi bước chuyển của cách mạng, mục tiêu, nhiệm vụ thường khó khăn, phức tạp
hơn. Vì vậy, phải tự chỉnh đốn, đổi mới để Đảng luôn ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ,
làm tròn trách nhiệm của Đảng với giai cấp, dân tộc
Hai là, Đảng là bộ phận của dân tộc, Đảng viên sống trong xã hội chịu tác động của quan
hệ xã hội, nên việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng là tạo sức “đề kháng” nhằm ngăn chặn cái xấu
“thẩm thấu” vào người Đảng viên
Ba là, xây dựng, chỉnh đốn để giữ được giá trị tốt đẹp của Đảng viên, phẩm chất đạo đức
cách mạng, để Đảng xứng đáng là đại biểu cho trí tuệ, danh dự của dân tộc, hoàn thành sứ

 Xây dựng đường lối chính trị đúng đắn, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH,
vững vàng trước mọi biến động, tập trung giành thắng lợi từng bước.
 Cứng rắn về chiến lược, mềm dẻo về sách lược, linh hoạt về biện pháp đấu tranh để tập
hợp lực lượng.
- Về tư tưởng:
 ĐCS phải luôn xác định tư tưởng cách mạng tiến công, cách mạng triệt để, chống mọi
biểu hiện cơ hội, xét lại, giáo điều, bảo thủ.
 ĐCS phải biết làm giàu trí tuệ của Đảng…
- Về tổ chức:
 Phải xây dựng ĐCS thành tổ chức chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, trọng chất
lượng hơn số lượng.
 Thường xuyên nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.
- Về đạo đức, lối sống:
 Phải làm cho cán bộ Đảng viên.
 Coi trọng tu dưỡng đạo đức: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
 Phải gắn bó máu thịt với dân, dám xả thân vì sự nghiệp vì sự nghiệp cách mạng.
 Phải không ngừng học tập và làm theo tấm gương HCM.
 Hiện nay ở Việt Nam chỉ có 1 Đảng duy nhất đó là Đảng Cộng Sản Việt Nam, việc tồn tại 1 chính
Đảng duy nhất đó đó là do yếu tố khách quan:
- Lực lượng phản cách mạng lợi dụng.
- Vai trò của Đảng đã được thừa nhận.
- Thực tế cách mạng các nước đã minh chứng (Đông Âu, Liên Xô đa Đảng  sụp đổ).
Câu 8: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức người Việt Nam trong thời đại
mới
1. Đạo đức mà HCM đề cập là đạo đức gì ? Nó khác với đạo đức trước đây như thế
nào ?
Đạo đức Bác Hồ đề cập là đạo đức cách mạng. Khác với trước đây là đạo đức phong kiến
phục vụ giai cấp thống trị, đạo đức mới là đạo đức cách mạng, phấn đấu vì nhân dân, vì nước
2. Các chuẩn mực đạo đức của người VN ở thời đại mới theo tư tưởng HCM ?
Chuẩn mực đạo đức nào là cơ bản nhất ? Tại sao ?

có bốn mùa,thiếu một mùa thì không thàng trời, đất có bốn phương, thiếu một phương thì
không thành đất.
“CHÍ CÔNG VÔ TƯ”: là ham làm những việc ích quốc, lợi dân không ham địa vị,
không mà công danh, vinh hoa phú quý. Người chí công vô tư thì lòng dạ thảnh thơi, đầu óc
mới tỉnh táo, sáng suốt. Có chí công vô tư mới nêu cao được chủ nghĩa tập thể, từ bỏ được
chủ nghĩa cá nhân.
Cần kiệm liêm chí, chí công vô tư có quan hệ mật thiết với nhau. Cần kiệm liêm chính sẽ
đẫn đến chí công vô tư. Ngược lại chí công vô tư một lòng vì nước, vì dân thì nhất định sẽ
thực hiện được cần kiệm liêm chính.
c. Lòng yêu nước, yêu thương con người, sống có tình nghĩa

Trích đoạn Chức năng của văn hóa: Theo Hồ Chí Minh, văn hóa có 3 chức năng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status