Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
Đề tài:
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ VẤN ĐỀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Họ tên: HỒ THU CẨM LINH
Lớp: 16 K35
Mssv: 31091020500
Giáo viên hướng dẫn: Thầy Huỳnh Văn Thịnh
Môn: Kinh Tế Vĩ Mô.
Mục Lục
Lời mở đầu.
1. Tăng trưởng kinh tế.
1.1. Các khái niệm
1.2. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế
1.3. Phân loại.
1.4. Các nhân tố tăng trưởng kinh tế.
1.5. Lợi ích và thiệt hại của tăng trưởng kinh tế.
2. Vấn đề tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
2.1. Thực trạng.
2.2. Chất lượng tăng trưởng ngày càng được cải thiện.
2.3. Những hạn chế về chất lượng tăng trưởng ở Việt Nam.
2.4. Giải pháp và phương hướng tăng trưởng của Việt nam
3. Tổng kết
Tài liệu tham khảo.
2
Lời mở đầu
Tăng trưởng kinh tế là một loại mục tiêu có tính chất dài hạn. Tất cả các nước đều mong
muốn đạt được tốc độ tăng trưởng cao. Nhưng tăng trưởng cao bằng cách nào là một vấn đề cần phải
quan tâm. Tăng trưởng nhanh nhưng kém bền vững hay tăng trưởng ổn định? Điều này còn phụ
thuộc vào hoàn cảnh của mỗi nước. Nhưng có một vấn đề mà tất cả các quốc gia muốn tăng trưởng
0
GDPt
( ) 1
t
t t
GDP
−
−
1.2. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế
Lý thuyết tăng trưởng của Adam Smith (1723-1790)
Adam Smith được coi là người khai sinh của khoa học kinh tế. Ông đã đưa ra học thuyết “giá
trị lao động”: lao động là nguồn gốc tạo ra của cải cho đất nước chứ không phải đất đai và tiền bạc.
Đáng chú ý là học thuyết “bàn tay vô hình”: “mọi cá nhân không có ý định thúc đẩy lợi ích
công cộng mà chỉ nhằm vào lợi ích riêng của mình, và ở đây cũng như trong nhiều trường hợp khác,
người đó được một bàn tay vô hình dẫn dắc để phục vụ một mục đích không nằm trong ý định của
mình”. Theo lý thuyết này thì thu nhập được phân phôi theo nguyên tắc “ai có gì được nấy”: tư bản
có vốn thì được lợi nhuận, địa chủ có đất đai thì thu được địa tô, công nhân có sức lao động thì nhận
được tiền công.
Theo Adam Smith, chính lao động được sử dụng trong những công việc có ích và hiệu quả là
nguồn gốc tạo ra giá trị cho xã hội. Nhưng số công nhân “hữu ích và hiệu quả” và năng suất của họ
phụ thuộc vào lượng tư bản tích luỹ. Ông coi sự gia tăng tư bản là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh
tế.
Lý thuyết tăng trưởng của David Ricardo (1772-1823)
“Các nguyên tắc của kinh tế chính trị học và thuế khoá” ra đời năm 1817 là điểm đánh dấu sự
ra đời của trường phái kinh tế cổ điển.
Những quan điểm cơ bản của ông về tăng trưởng: nông nghiệp là ngành quan trọng nhất, do
đó các yếu tố cơ bản của tăng trưởng là đất đai, lao động và vốn. Trong từng ngành và trình độ kỹ
thuật nhất định thì các yếu tố kết hợp theo một tỷ lệ cố định (đường đẳng lượng).Đất đai là giới hạn
của tăng trưởng: Tăng trưởng là kết quả của tích luỹ, tích luỹ là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ
thuộc vào chi phí sản xuất lương thực và chi phí này phụ thuộc vào đất đai.
cầu.
Alfred Marshall (1842-1924)
Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là “Các nguyên lý của kinh tế học” xuất bản năm 1890. Đây
là mốc đánh dấu sự ra đời của trường phái tân cổ điển (lý thuyết trọng cung).
Quan điểm tân cổ điển có điểm giống với các nhà kinh tế cổ điển, đó là đều cho rằng trong
điều kiện thị trường cạnh tranh, khi nền kinh tế có biến động thì sự linh hoạt về giá cả và tiền công là
nhân tố cơ bản khôi phục nền kinh tế về vị trí sản lượng tiềm năng với việc sử dụng hết nguồn lao
động. Cả hai quan điểm cũng cho rằng Chính phủ không có vai trò quan trọng trong việc điều tiết
nền kinh tế.
Nhưng quan điểm kinh tế tân cổ điển có những điểm mới đó là cho rằng sản xuất trong một
tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất định về lao động và vốn, cho rằng vốn và lao động có
thể thay thế cho nhau, và trong quá trình sản xuất có thể có nhiều cách kết hợp giữa các yếu tố đầu
vào. Đồng thời nhà kinh tế tân cổ điển cho rằng tiến bộ khoa học kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc
đẩy sự phát triển kinh tế.
Quan điểm của Keynes về tăng trưởng kinh tế
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp đã diễn ra thường
xuyên, nghiêm trọng. Cuộc khủng hoảng này đã chứng tỏ các học thuyết của các trường phái cổ điển
và tân cổ điển là thiếu xác thực, lý thuyết “bàn tay vô hình” của Adam Smith tỏ ra kém hiệu quả.
Việc này dẫn đến một học thuyết mới phù hợp hơn ra đời. Năm 1936, sự ra đời của tác phẩm “Lý
thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của John Maynard Keynes (1883-1946) đánh dấu sự ra
đời của học thuyết kinh tế mới.
Keynes cho rằng có hai đường tổng cung: đường tổng cung dài hạn AS-LR phản ánh mức sản
lượng tiềm năng, và đường tổng cung ngắn hạn AS-SR phản ánh khả năng thực tế. Cân bằng của nền
kinh tế không nhất thiết ở mức sản lượng tiềm năng, mà thường cân bằng dưới mức sản lượng tiềm
năng. Keynes cũng đánh giá cao vai trò của tiêu dùng trong việc xác định sản lượng. Theo ông, thu
nhập của các cá nhân được sử dụng cho tiêu dùng và tích luỹ. Nhưng xu hướng chung là khi mức thu
nhập tăng thì xu hướng tiêu dùng trung bình sẽ giảm, xu hướng tiết kiệm trung bình tăng. Việc giảm
xu hướng tiêu dùng sẽ làm cho cầu tiêu dùng giảm. Keynes cho rằng đây chính là một trong những
nguyên nhân cơ bản dẫn dến sự trì trệ trong hoạt động kinh tế.
Mặt khác, Keynes cũng cho rằng đầu tư đóng vai trò quyết định đến qui mô việc làm, khối
Các nhà kinh tế học hiện đại ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp, trong đó thị
trường trực tiếp xác định những vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế, nhà nước tham gia điều tiết có
mức độ nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường. Thực chất nền kinh tế hỗn hợp là sự xích
lại gần nhau của học thuyết kinh tế tân cổ điển và học thuyết kinh tế của Keynes
Những ý tưởng này được trình bày trong tác phẩm “Kinh tế học” (1948) của Paul Samuelson.
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại đồng ý với quan điểm của Tân cổ điển về tỷ lệ lao
đông và vốn, chọn hàm sản xuất dạng Cobb-Douglas để thể hiện tác động của các yếu tố đến tăng
trưởng; thống nhất với quan điểm của Harrod – Domar về vai trò của vốn. Kinh tế học hiện đại quan
niệm về sự cân bằng kinh tế theo mô hình của Keynes: sự cân bằng của nền kinh tế thường dưới mức
tiềm năng, trong điều kiện hoạt động bình thường của nền kinh tế có lạm phát và thất nghiệp.
Theo lý thuyết này thì vai trò của Chính phủ ngày càng được coi trọng. Việc mở rộng kinh tế
thị trường đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước, không chỉ vì thị trường có những khuyết tật,
mà còn vì xã hội đặt ra mục tiêu mà thị trường dù có hoạt động tốt cũng không thể đáp ứng được.
Theo Samuelson, trong nền kinh tế hiện đại, Chính phủ có bốn chức năng cơ bản: thiết lập khuôn
khổ pháp luật; xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô; tác động vào việc phân bổ tài nguyên để
cải thiện hiệu quả kinh tế; thiết lập các chương trình tác động tới việc phân phối thu nhập.
Quan điểm về nền kinh tế tri thức và tăng trưởng kinh tế:
Định nghĩa và đặc trưng của nền kinh tế tri thức cho đến thời điểm này vẫn chưa có ý kiến
thống nhất. "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế ngày càng phụ thuộc trực tiếp vào việc sản xuất phân
phối và sử dụng tri thức và thông tin" (OECD 1996). Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình
Dương (APEC) định nghĩa: "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất, phân
phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra của cải và
việc làm trong tất cả các ngành kinh tế” (APEC 2000).
1.3. Phân loại các dạng tăng trưởng.
6
1.3.1. Tăng trưởng theo kiểu “bong bóng xà phòng”
Đây là dạng tăng trưởng nhanh nhưng kém bền vững. Dạng tăng trưởng này có những đặc
điểm cơ bản: Có khát vọng tăng trưởng nhanh, dẫn đến đầu tư ồ ạt. Đầu tư này bao gồm đầu tư bằng
vốn vay dài hạn, vốn vay ngắn hạn và trung hạn. Điều này dẫ đến hậu quả là khủng hoảng tài chính
và kết cục là sự suy thoái kinh tế. Vay nợ nước ngoài lớn nhưng sử dụng vốn kém hiệu quả (ví dụ
trưởng kinh tế quan trọng, còn các nước nghèo thì quan niệm rằng lực lượng lao động quá dư thừa là
một gánh nặng của nền kinh tế.
Trình độ chuyên môn và kỹ năng của người lao động phụ thuộc vào trình độ giáo dục, sử
dụng lao động có đúng chuyên môn và việc làm có đúng chuyên môn hay không.
Nguồn tài nguyên thiên nhiên: là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển, những tài
nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồn nước. Tài nguyên
thiên nhiên có vai trò quan trọng đển phát triển kinh tế, có những nước được thiên nhiên ưu đãi một
trữ lượng dầu mỏ lớn có thể đạt được mức thu nhập cao gần như hoàn toàn dựa vào đó (Ả rập Xê út).
Tuy nhiên, việc sở hữu nguồn tài nguyên phong phú không quyết định một quốc gia có thu nhập cao.
Nhật Bản là một ví dụ điển hình. Đây là một nước gần như không có tài nguyên thiên nhiên nhưng
nhờ tập trung sản xuất các sản phẩm có hàm lượng lao động, tư bản và công nghệ cao nên vẫn có nền
kinh tế đứng thứ hai thế giới về quy mô.
Tư bản (vốn): là một trong những nhân tố sản xuất, là khối lượng nhà xưởng, máy
móc, thiết bị…để sản xuất ra các loại hàng hoá khác. Để có được tư bản phải thực hiện đầu tư, điều
7
này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển dài hạn. Thực tế cho thấy những nước có tỷ lệ đầu tư trên
GDP cao thường có sự tăng trưởng cao hơn và bền vững. Khi vốn tăng cùng với tỷ lệ lao động, tức
lượng vốn bình quân trên mỗi lao động không đổi, ta nói nền kinh tế đang được đầu tư theo chiều
rộng. Khi vốn tăng nhanh hơn lao động, làm cho lượng vốn bình quân trên lao động tăng lên, ta nói
nền kinh tế được đầu tư theo chiều sâu. Đầu tư theo chiều sâu thường làm tăng năng suất lao động và
do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn.
Công nghệ: công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể
tạo ra sản lượng cao hơn, tức là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn. Công nghệ phát triển ngày càng
nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới… có
những bước tiến nhanh góp phần gia tăng hiệu quả sản xuất.
1.5. Lợi ích và thiệt hại của tăng trưởng.
Các biểu hiện điển hình về kinh tế trong sự tăng trưởng là giá cả tăng do đó lạm phát tăng;
đầu tư tăng; lãi suất ngân hàng tăng; sự chu chuyển của vốn tăng; và xuất hiện những biến động bất
thường về mức độ chi tiêu, tích luỹ và đầu tư.
Khi nền kinh tế tăng trưởng cao và liên tục trong nhiều năm sẽ tạo nên tâm lý lạc quan, từ đó
trưởng là 4,7%/năm; năm 1992 – 1997 tăng trưởng tới 8,7%/năm mà đỉnh cao là năm 1995 với GDP
tăng 9,5%; năm 1998 – 2001 lại hạ xuống còn khoảng 6%/năm và năm 2002 – 2005 phục hồi trên
7,6%/năm.
8
Những năm gần đây, tăng trưởng kinh tế của nước ta có xu hướng giảm nhưng theo dự kiến
của Chính phủ thì tăng trưởng kinh tế vào năm 2010 có xu hướng tăng lên.
Các chỉ số về GDP theo tỷ giá dựa theo số liệu từ CIA và các báo Việt Nam.
Năm
GDP theo tỷ giá
(tỷ USD)
GDP tỷ giá theo đầu người
(USD)
Tăng trưởng
2007 71,4 823 8,5%
2008 89,83 1024 6,2%
2009 92,84 1040 5,3%
2010 6,5%*
(*) - Dự kiến của Chính phủ Việt Nam
2.2. Chất lượng tăng trưởng kinh tế ngày càng được cải thiện.
Chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ngày càng cải thiện, điều này được thể hiện rõ
qua thu nhập bình quân theo đầu người ngày càng tăng. Trước thời kỳ đổi mới, hầu hết dân số nước
ta đều sống bằng nghề nông, nước ta bị coi là một nước nghèo nàn lạc hậu, với thu nhập bình quân
đầu người rất thấp. Nhưng khi có đường lối đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, thu nhập của người
dân đã tăng lên nhờ có nhiều cơ hội việc làm hơn. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở
Việt Nam trong giai đoạn 1990 – 2002 đạt trung bình 5,2%. Đến năm 2007, thu nhập bình quân đầu
người của nước ta đã tăng khoảng 2,8 lần so với năm 1995. (Năm 2007 đạt 843USD/năm). Và theo
thống kê sơ bộ của tổng cục thống kê năm 2009 thu nhập bình quân đầu người của nước ta đã đạt
1064 USD/năm.
Chất lượng tăng trưởng kinh tế còn được thể hiện rõ qua tỷ lệ nghèo đói có xu hướng giảm
mạnh. Như đã nói từ trước, trước thời kỳ đổi mới, nước ta là một nước nghèo đói; nhưng đến năm
chủ yếu là dựa vào thị trường, để cho giá cả tự điều tiết, tôn trọng quan hệ cung cầu, khuyến khích
kinh tế tư nhân, hình thành hàng loạt các thị trường, Việt Nam đã có Luật Đầu tư nước ngoài từ
năm 1987, Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty (năm 1991). Hiến pháp sửa đổi năm 1992 đã
bảo đảm sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường và khu vực đầu tư nước ngoài. Sau đó, hàng loạt đạo luật quan trọng được ban hành để vận
hành nền kinh tế thị trường như Luật Đất đai, Luật Thuế, Luật Môi trường, Luật Lao động… và các
nghị định khác của Chính phủ nhằm cụ thể hoá việc thực hiện luật và thực hiện các chương trình
phát triển kinh tế - xã hội.
2.3. Những hạn chế về chất lượng tăng trưởng ở Việt Nam.
So với các nước trong khu vực, Việt Nam đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng
rất cao. Cùng với tăng trưởng kinh tế cao, chất lượng tăng trưởng kinh tế cũng đang được cải thiện.
Tuy nhiên, theo nhiều đánh giá trong nước và quốc tế, mặc dù Việt Nam đạt được những kết quả
tăng trưởng cao, nhưng đó là những kết quả tăng trưởng theo chiều rộng chứ chưa có sức bật tăng
trưởng theo chiều sâu. Việt Nam vẫn đang ở trong ranh giới của những nước kém phát triển theo tiêu
chuẩn của Liên hợp quốc.
Ông Trần Xuân Giá, cựu Bộ trưởng Kế Hoạch Đầu tư tỏ ý quan ngại: “Chúng ta không thể
tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy các khuyết điểm của
nền kinh tế được nữa.”. “Nếu không, càng tăng trưởng, có thể chúng ta sẽ càng nghèo đi.”
Chất lượng tăng trưởng của nước ta vẫn chưa được cao, có nhiều cơ sở cho thấy điều đáng
ngại này.
Trước hết, đó chính là tình trạng sử dụng các yếu tố đầu vào cho tăng trưởng kinh tế với hiệu
quả còn chưa cao. Như đã đề cập, tăng trưởng của Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếu nghiêng về chiều
rộng hơn là chiều sâu. Điều này có nghĩa là tỷ trọng tác động của hai nhân tố vốn và lao động gấp
nhiều lần tác động của khoa học – công nghệ tới tăng trưởng. Nhưng khi xét về mặt chiều rộng, ta lại
thấy rõ, yếu tố chủ yếu góp vào tăng trưởng GDP là vốn. Việt Nam là một nước đang phát triển nên
yếu tố vốn này còn hạn hẹp, đang phải vay rất nhiều (vừa vay, vừa trả vốn với lãi suất mà ngân sách
phải trả hàng năm chiếm gần 15% tổng chi ngân sách). Trong khi yếu tố vốn thiếu hụt, đáng lẽ yếu tố
này phải được sử dụng một cách hiệu quả nhất. Nhưng thực tế không cho thấy điều đó. Theo ý kiến
của đại biểu Quốc hội, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản và đầu tư công nói chung ước tính có
thể lên tới 30-40%. Trong 2 năm 2002-2003, thanh tra chuyên ngành xây dựng đã tổ chức thanh tra
Mặc dù nước ta đã đạt nhiều thành công trong công tác chống đói nghèo, nhưng tỷ lệ đói
nghèo ở những vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên và duyên hải Bắc Trung Bộ vẫn còn cao. Tỷ lệ
nghèo đói ngày càng giảm nhưng chênh lệch giàu nghèo lại có xu hướng tăng. Điều này thể hiện, sự
tăng trưởng của nước ta vẫn còn nhiều yếu kém khó có thể khắc phục được.
Những khuyết điểm trong chất lượng tăng trưởng còn thể hiện trong yếu tố môi trường.Tăng
trưởng kinh tế tăng nhanh nhưng song song với tăng trưởng Việt Nam phải đối mặt với vấn nạn môi
trường. Tài nguyên thiên nhiên chưa được khai thác hiệu quả, môi trường ngày càng bị ô nhiễm trầm
trọng. Việt Nam hao phí năng lượng gấp hai lần thế giới. Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng
cho hay, tình trạng lãng phí năng lượng ở nước ta rất lớn. Hiệu suất sử dụng nguồn năng lượng trong
các nhà máy điện đốt than, dầu chỉ đạt 28-32%, thấp hơn so với các nước phát triển 10%; hiệu suất
các lò hơi công nghiệp chỉ đạt khoảng 60%, thấp hơn mức trung bình của thế giới chừng 20%. Môi
trường nước ta ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng do việc tăng trưởng, phát triển kinh tế nhưng
chưa chú trọng đúng mức đến việc bảo vệ môi trường. Theo báo cáo giám sát của Uỷ ban khoa học,
công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỉ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập
trung ở một số địa phương rất thấp. Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nước thải
tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí. Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm,
điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác.
Nhìn tổng quan thì tốc độ tăng trưởng của Việt Nam vẫn chưa ổn định. Kinh nghiệm của
cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Đông Á và Đông Nam Á năm 1997-1998 cho thấy, khả năng
miễn nhiễm rủi ro và phục hồi của nền kinh tế Việt Nam không cao. Cụ thể là mặc dù Việt Nam
không chịu ảnh hưởng nhiều như những nước khác (một phần là do vào thời điểm 1997, mức độ hội
nhập kinh tế của Việt Nam còn hạn chế), nhưng tốc độ phục hồi của nền kinh tế lại rất chậm chạp.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của một số nước Đông Á và Đông Nam Á 1996 – 2000 (%)
1996 1997 1998 1999 2000
Hàn Quốc 6,75 5,01 -6,69 10,89 8,81
Thái Lan 5,88 -1,45 -10,77 4,22 4,31
Malaysia 10,00 7,32 -7,36 6,08 8,30
Indonexia 7,64 4,70 -13,13 0,85 4,77
Philippines 5,85 5,19 -0,58 3,40 4,01
Trung Quốc 9,59 8,84 7,80 7,05 7,94
phẩm đang có lợi thế cạnh tranh và xác định các ngành, sản phẩm được ưu tiên phát triển trong giai
đoạn mới.
2.4.2. Giải pháp của chính phủ nhằm đảm bảo tăng trưởng bền vững.
Ngày 6/4/2010, Chính phủ ban hành Nghị quyết 18/NQ-CP về 6 giải pháp nhằm bảo đảm ổn
định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5% trong năm
2010. Cụ thể các giải pháp là:
Thứ nhất, phải tập trung kiềm chế lạm phát. Nghị quyết nêu rõ ngân hàng phải “tiếp tục điều
hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trong; bảo đảm tốc tộ tăng trưởng tín dụng khoảng
25% và tổng phương tiện thanh toán khoảng 20%”. (Nguồn: 18/NQ-CP). Bên cạnh đó, phải chỉ đạo
hướng dẫn các ngân hàng thương mại thực hiện cho vay theo cơ chế lãi suất theo Nghị quyết của
Quốc hội.
Bộ Công thương phải rà soát, đánh giá tình hình cung - cầu các mặt hàng phục vụ sản xuất và
đời sống, trước hết là các mặt hàng thiết yếu. Phối hợp với các Bộ, cơ quan và Uỷ ban nhân dân các
tỉnh, thành phố nhằm chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, bảo đảm hàng hoá đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng. Theo dõi sát diễn biến thị trường trong và ngoài nước để kịp thời áp dụng các giải pháp
điều tiết, bình ổn thị trường. Ngoài ra, phải thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý điều hành giá
theo đúng Pháp lệnh Giá.
Thứ hai, phải thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán. Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam phải linh hoạt điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối trong mối quan hệ với lãi
suất tiền Việt Nam và ngoại tệ, chỉ số giá tiêu dùng,… nhằm góp phần khuyến khích xuất khẩu, hạn
chế nhập siêu, huy động các nguồn ngoại tệ,… tạo điều kiện để tăng dự trữ ngoại hối. Đồng thời chỉ
đạo các ngân hàng thương mại cho vay theo hướng tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu.
Về phía bộ Công thương và các bộ khác phải tổ chức triển khai các biện pháp đẩy mạnh xuất
khẩu, kiểm soát nhập siêu để đảm bảo tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 6% và tỷ lệ nhập
12
siêu khoảng 20% trong năm 2010. Đồng thời phải mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp tăng lượng hàng hoá xuất khẩu.
Thứ ba, bảo đảm nguồn lực thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết của
Quốc hội khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh, phấn đấu tăng thu, tiết kiệm chi và giảm bội
chi ngân sách nhà nước. Ưu tiên nguồn lực để thực hiện các dự án đầu tư trọng điểm và các chính
ấy. Nhưng ta cần phải xác định một điều là “tăng nhanh GNP bình quân đầu người, tăng nhanh sự
giàu có của quốc gia chưa phải là tất cả!” (Kinh tế vĩ mô_ Nhà xuất bản thống kê 1996).
13
Tài liệu tham khảo
TS. Nguyễn Như Ý và ThS. Trần Thị Bích Dung (2009). Giáo trình “Kinh tế vĩ mô”. Nhà xuất bản
thống kê.
Dương Tấn Diệp (1996). “Kinh tế vĩ mô”. Nhà xuất bản thống kê.
ThS. Võ Tất Thắng. “Mô hình tăng trưởng kinh tế”.
TS. Nguyễn Trần Quế. Viện Kinh Tế và Chính Trị Thế Giới. “Nền kinh tế tri thức khái niệm, tiêu chí
phản ánh và nhận dạng phát triển ở nước ta”.
Công Trí. (22/09/2010). “Ổn định kinh tế vĩ mô tạo đà tăng trưởng”. Được lấy về từ:
http://baodientu.chinhphu.vn/Home/On-dinh-kinh-te-vi-mo-tao-da-tang-truong/20109/36604.vgp
Lưu Ngọc Trịnh – Trần Đức Vui (Viện Kinh tế và Chính trị thế giới). (7/9/2008). “Chất lượng tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam hiện nay”. Từ: http://www.agenda21.monre.gov.vn/default.aspx?
tabid=340&ItemID=5396
Trích Nobel Lectures, Economic Sciences 1981 – 1990. “Lý thuyết về sự tăng trưởng và các lý
thuyết sau đó”.Từ: http://www.quantri.com.vn/diendan/showthread.php?t=687
Đan Thanh. (16/08/2010). ““Đột phá “ tăng trưởng”. Được lấy từ:
http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=80342&ChannelID=3
ThS. Cao Ngọc Thành – KS. Trần Thị Mẫm. “Các quan điểm và lý thuyết cơ bản về tăng trưởng
kinh tế nói chung và đối với thành phố Hồ Chí Minh”. Được lấy từ:
http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/Noisan/32009/ngocthanh3.htm
Bách khao toàn thư mở Wikipedia. “Tăng trưởng kinh tế”. Được lấy từ:
http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C4%83ng_tr%C6%B0%E1%BB%9Fng_kinh_t%E1%BA%BF
P.Thảo. “Thu nhập trên 1000 USD/người, Việt Nam vẫn ở ngưỡng nghèo”. Lấy từ:
http://dantri.com.vn/c20/s20-300424/thu-nhap-tren-1000-usdnguoi-viet-nam-van-o-nguong-
ngheo.htm
Trang tin điện tử Quốc hội Việt Nam. (23/09/2010). “Kinh tế Việt Nam năm 2010 và triển vọng năm
2011”. Lấy từ: http://www.na.gov.vn/htx/Vietnamese/default.asp?Newid=42379#tCcBq8sLcpwa
TTXVN (18/09/2010). “Việt Nam ấn tượng trong tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo”. Được lấy từ: