Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mở đầu
Xây dựng một các ngành kinh tế hợp lý, hiệu quả cao là vấn đề hết sức quan trọng
để nền kinh tế phát triển với tốc độ cao và bền vững.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phù hợp với
yêu cầu và bớc đi trong tiến trình hội nhập của nền kinh tế khu vực và thế giới là một
trong những nội dung cơ bản của đờng lối đổi mới nền kinh tế đất nớc do Đai hội lần thứ
VII, VIII và IX của Đảng đề ra. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2005 ở nớc ta có cơ cấu GDP
theo ngành là: tỷ trọng nông nghiệp khoảng 20-21%, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng
khoảng 40-41%, tỷ trọng các ngành dịch vụ khoảng 41-42%. Để đạt đợc mục tiêu đề ra
trên đây, góp phần thực hiện chủ trơng lớn của Đảng và Nhà nớc trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá; mỗi nhóm ngành phải đạt tốc độ tăng trởng: nông nghiệp
khoảng 4,3%, công nghiệp và xây dựng 10,8%, dịch vụ 6,2%; tăng trởng GDP bình quân
7,5%. Trong những năm qua cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, mang tính tự phát, cha thật
sự chủ động, còn nhiều bấp bênh, rủi ro; hiệu quả sản xuất thấp dẫn đến không đạt đợc kế
hoạch tăng trởng kinh tế đề ra. Nó là vấn đề bức xúc nhất hiện nay, đang là vấn đề trung
tâm trong các cuộc nghiên cứu,thảo luận của Quốc hội và Chính phủ.
Ngày nay, thế giới có những biến đổi sâu sắc, ngày càng nhiều những biến động khó
lờng, nhiều yếi tố tác động đến sự phát triển kinh tế. Đề án nghiên cứu theo phơng hớng
chuyển dịch cơ cấu ngành một cách chủ động, linh hoạt phù hợp với những biến động của
trong và ngoài nớc. Đề án nghiên cứu "kế hoạch hoá chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế thời kỳ 2001-2005 ở Việt Nam và các giải pháp
thực hiện".
Em xin chân thành cảm ơn GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng, TS Ngô Thắng Lợi đã nhiệt
tình giúp đỡ em nghiên cứu hoàn thành đề án này. mặc dù đã hết sức cố gắng trong qúa trình
nghiên cứu, nhng do trình độ, kinh nghiệm còn hạn chế và thời gian ngắn cha nghiên cứu đợc
sâu sắc vấn đề nên bài viết không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Mong đợc sự góp ý
của các thầy, các cô và bạn bè để em có thể hiểu sâu sắc hơn vấn đề.
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2001
- 1 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
quả cần xem xét từng loại cơ cấu cụ thể của nền kinh tế quốc dân.
2. Phân loại cơ cấu kinh tế
2.1. Cơ cấu ngành kinh tế
Trong bàI viết chú trọng nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế.
Cơ cấu ngành của nền kinh tế là tập hợp tất cả các ngành hình thành lên nền kinh tế
và các mối quan hệ tơng đối ổn định giữa chúng.
- 2 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Các chỉ tiêu đánh giá:
- Loại chỉ tiêu dịnh lợng thứ nhất:tỷ trọng các ngành so với tổng thể các ngành của
nền kinh tế.
- Chỉ tiêu định lợng thứ hai:Có thể mô tả đợc phần nào mối quan hệ tác động qua lại
giữa các ngành kinh tế, đó là các hệ số trong bảng can đối liên ngành (của hệ MPS) hay
bảng Vào- Ra (I/O)(của hệ SNA).
Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung của nền
kinh tế và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là
nét đặc trng của các nớc đang phát triển. Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia
ngời ta thờng phân tích theo 3 nhóm ngành (khu vực):
+ Nhóm ngành nông nghiệp: bao gồm các ngành nông, lâm, ng nghiệp.
+ Nhóm ngành công nghiệp:bao gồm các ngành công nghiệp và xây dựng.
+ Nhóm ngành dịch vụ: bao gồm các ngành thơng mại, bu điện, du lịch...
Trong công nghiệp cần chú ý đến các hệ số liên hệ phía thợng nguồn và các hệ số
liên hệ phía hạ nguồn.
* Các ngành công nghiệp thợng nguồn:là những ngành công nghiệp tạo nguyên
liệu và sản phẩm trung gian, đòi hỏi vốn đầu t cao và công nghệ cơ bản, công nghệ cao.
* Các ngành công nghiệp hạ nguồn:là những ngành công nghiệp sản xuất ra sản
phẩm cuối cùng cho tiêu dùng, thờng đòi hỏi vốn đầu t ít, sử dụng nhiều lao động, có thể
có quy mô sản xuất vừa và nhỏ.
Những ngành công nghiệp thợng nguồn và hạ nguồn nêu trên có mối quan hệ dọc
rất chặt chẽ. Trong một chuyên ngành nhất định có thể có một hình thức tổ chức khép kín
phân bố không gian lãnh thổ một cách hợp lý có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển
các ngành và thành phần kinh tế trên lãnh thổ.
II. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Khái niệm: Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho
phù hợp với môi trờng phát triển đợc coi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
* Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình chuyển cơ cấu ngành kinh tế từ dạng
này sang dạng khác phù hợp với trình độ phát triển của phân công lao động xã hội, sự
phát triển của lực lợng sản xuất và các nhu cầu về kinh tế-xã hội của đất nớc.
Chuyển dịch cơ cấu đem tính khách quan thông qua thông qua những nhận thức chủ
quan của con ngời, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu đã hình thành các khái niệm:
- Điều chỉnh cơ cấu:Đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu trên cơ sở thay đổi một số
mặt, một số yéu tố cơ cấu, làm cho nó thích ứng với điều kiện khách quan từng thời kỳ
không tạo ra sự thay đổi đột biến, tức thời.
- CảI tổ cơ cấu:Đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu cơ cấu trên cơ sở thay đổi một số
mặt bản chất so với thực trạng cơ cấu ban đầu, nhanh chóng tạo ra sự đột biến.
Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế nói riêng luôn thay đổi theo từng
thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành. Đó là sự thay đổi về số lợng các ngành hoặc
sự thay đổi tỷ lệ giữa các ngành do sự xuất hiện hoặc sự biến mất của một số ngành và và
sự tăng trởng giữa các yếu tố cấu thành là không đồng đều. Đây không chỉ đơn thuần là
sự thay đổi vị trí, mà còn là sự biến đổi cả về lợng và chất trong nội bộ cơ cấu. Việc
chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung của
chuyển dịch cơ cấu là cảI tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc cha phù hợp để xây dựng cơ cấu mới
tiên tiến, hoàn thhiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện
đại và phù hợp hơn.
2. Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế luôn luôn biến đổi cùng với qúa trình phát triển của nền kinh
tế. Mỗi thời kỳ, với những điều kiện cụ thể các ngành kinh tế tăng trởng với tốc độ khác
nhau dẫn đến cơ cấu ngành thay đổi. Các điều kiện này vừa có những tác động tích cực
này. Trong qúa trình phát triển, việc tăng cờng sử dụng máy móc và các phơng thức canh
tác mới đã tạo điều kiện cho nông dân nâng cao năng suất lao động. Kết quả là, để bảo
đảm lợng lơng thực, thực phẩm cần thiết cho xã hội thì không cần đến lợng lao động nh
cũ và do vậy, tỷ lệ của lực lợng lao động trong nông nghiệp giảm. Dựa vào số liệu thống
kê thu thập đợc, A. Fisher cho rằng tỷ lệ giảm này có thể giảm từ 80% đối với các ngành
chậm phát triển nhất xuóng 11-12 % ở các nớc công nghiệp phát triển và trong điều kiện
đặc biệt có thể xuống tới 5%. Ngợc lại, tỷ lệ lao động đợc thu hút vào khu vực thứ hai và
khu vực thứ ba ngày càng tăng do tính co giãn về nhu cầu sản phẩm của hai khu vực này
và khả năng hạn chế hơn của viẹc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt là đối với khu vực thứ
ba.
c. Vai trò của khoa học vai trò nghệ trong thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
Khoa học và công nghệ có vai trò đặc biệt quan trọng trong qúa trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà nền kinh tế thế giới đang chuyển từ
nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Sự phát triển của khoa học và công
nghệ không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triển của các ngành mà còn làm phân công lao
động xã hội trở nên sâu sắc và đa đến sự phân chia các ngành thành nhiều ngành nhỏ hơn,
xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới, từ đó làm thay đổi cơ cấu, vị trí giữa
các ngành, hay thúc đẩy các ngành chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng:
+ Các ngành sản xuất vật chất (nông nghiệp, công nghiệp)đều tăng lên về sản lợng
tuyệt đối, nhng về tỷ trọng trong GDP so với các ngành sản xuất phi vật chất (dịch vụ) lại
giảm tơng đối.
- 5 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Cơ cấu kinh tế trong, nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hớng ngày càng tăng
mạnh quy mô sản xuất ở các ngành có hàm lợng kỹ thuật, công nghệ cao.
d. Xu thế kinh tế thế giới
* Xu thế hoà bình hợp tác
Nhìn tổng quát, có thể dự báo xu thế hoà bình hợp tác phát triển trên thế giới và khu
vực tiếp tục gia tăng đi đôi với những cọ sát đấu tranh, cạnh tranh ngày càng gay gắt, có
thể có những bùng nổ khó lờng. Các nớc lớn, các trung tâm phát triển lớn đang và sẽ
Với t các là loạI lý thuyết chủ yếu nghiên cứu các con đờng hay các mô hình phát
triển kinh tế của các nớc chạm phát triển hiện đang nỗ lực tiến hành công nghiệp hoá, các
lý thuyết phát triển trực tiếp hoặc gián tiếp đều bàn tới một trong những nội dung cơ bản
nhất của công nghiệp hoá là chuyển dịch cơ cấu ngành. Song, do bản thân thế giới chậm
phát triển bao gồm nhiều quốc gia với các đặc đIểm đặc thù khác nhau, do xuất phát từ
các quan điểm và các góc độ nghiên cứu khác nhau nên cách giảI quyết vấn đề chuyển
dịch cơ cấu ngành trong qúa trình công nghiệp hoá của các loạI lý thuyết phát triển cũng
rất khác nhau. Có thể thấy đIều này qua một số lý thuyết phát triển chủ yếu sau.
- 6 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
a. Lý thuyết phân kỳ phát triển kinh tế
T tởng cơ bản của ngời chủ xởng lý thuyết này Walt Rostow cho rằng, qúa trình
phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào cũng đều trảI qua 5 giai đoạn tuần tự nh sau:
1/ Xã hội truyền thống: Với đặc trng là nông nghiệp giữ vai trò thống trị trong đời
sống kinh tế, năng suất lao động thấp và xã hội kém linh hoạt.
2/ Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: Với những thay đổi quan trọng là trong xã hội đã
xuất hiện tầng lớp chủ xí nghiệp có khả năng đổi mới, kết cấu hạ tầng sản xuất, nhất là
giao thông đã phát triển. Bắt đầu hình thành những khu vực đầu tầu có tác động lôI kéo
nền kinh tế phát triển.
3/ Giai đoạn cất cánh: với những dấu hiệu quan trọng nh tỷ lệ đầu t so với thu nhập
quốc dân đạt mức 10%, xuất hiện những ngành công nghiệp chế biến có tốc độ tăng trởng
cao, có những chuyển biến mạnh mẽ trong thể chế xã hoọi, thuận lợi cho sự phát triển của
khu vực sản xuất hiện đai và kinh tế đối ngoại.
4/ Giai đoạn chuyển tới sự chín muồi kinh tế là giai đoạn mà tỷ lệ đầu t trên thu
nhập quốc dân đạt mức cao(từ 10-20%) và xuất hiện nhiều cực tăng trởng mới.
5/ Kỷ nguyên tiêu dùng hàng loạt:là giai đoạn kinh tế phát triển cao, sản xuất đa
dạng hoá, thị trờng linh hoạt và có hiện tợng suy giảm nhịp độ tăng trởng.
Theo lý thuyết phân kỳ phát triển này hầu hết các nớc đang phát triển đang tiến
hànhcông nghiệp hoá hiện nay nằm ở giai đoạn 2và 3, tuỳ theo mức độ phát triển của từng
nớc. NgoàI những dấu hiệu kinh tế - xã hội khác, về mặt cơ cấu,phải bắt đầu hình thành
đối với các quốc gia chậm phát triển đang mong muốn đẩy mạnh quá trình công nghiệp
hoá. Trên thực tế, chính sách công nghiệp hoá và cơ cấu kinh tế ở nhiều quốc gia chậm
phát triển từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II đến thời gian gần đây đã ít nhiều chịu ảnh
hởng của lý thuyết này.
Lý thuyết kinh tế nhị nguyên còn đợc nhiều nhà kinh tế(J. Fei, G.Raní, Haris,
Todaro,...)tiếp tục nghiên cứu và phân tích. Luận đIểm phát triển của họ là khả năng phát
triểnvà thu nạp lao động của khu vực công nghiệp hiẹen đại. Khu vực này có nhiều khả
năng lựa chọn kỹ thuật, trong đó có những loạI kỹ thuật có hệ số sử dụng lao động cao,
nên về nguyên tắc, có thể thu hút đợc lao động d thừa từ khu vực nông nghiệp truyền
thống. Nhng việc di chuyển lao động đợc giả định là do sự chênh lẹch về mức thu nhập
của lao động từ hai khu vực kinh tế trên quyết định. Có nghĩa là, khu vực công nghiệp
hiện đại chỉ có thể thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp trong trờng hợp đang có nạn
nhân mãn khi nó có mức lơng cao hơn mức thu nhập khi họ còn ở nông thôn. Nhng khả
năng duy trì sự chênh lệch này sẽ cạn dần cho đến khi nguồn lao động d thừa ở nông thôn
không còn nữa. Đến lúc đó, việc tiếp tục di chuyển lao động từ nông nghiệp sang công
nghiệp sẽ làm cho sản lợng nông nghiệp giảm đi, khiến cho giá cả hành hoá nông phẩm
tiêu dùng tăng lên, kéo theo mức tăng lơng tơng ứng trong khu vực sản xuát công nghiệp.
Chính sự tăng lơng của khu vực sản xuất công nghiệp sẽđặt ra giới hạn về mức cầu tăng
thêm về lao động của bản thân nó. Nh vậy mặc dù về mặt kỹ thuật- công nghệ khu vực
công nghiệp hiện đại có thể có khả năng thu dụng không hạn chế nhân lực, nhng về mặt
thu nhập và độ co dãn cung cầu nhân lực của hai khu vực thì sức thu nạp lao động từ khu
vực nông nghiệp của công nghiệp là có hạn.
Một hớng phát triển khác dựa trên lý thuyết nhị nguyên là phân tích khả năng di
chuyển lao động từ nông thôn ra khu vực công nghiệp- thành thị. Quá trình dịch chuyển
lao động chỉ trôi chảy khi tổng cung về lao động từ nông nghiệp phù hợp với tổng
cầu ở khu vực công nghiệp. Sự di chuyển này không chỉ phụ thuộc vào sự chênh lệch thu
nhập mà còn phụ thuộc vào sác xuất tìm đợc việc làm đối với những ngời lao động nông
nghiệp. Khi đa thêm yếu tố sác xuất tìm đợc việc làm vào phân tích, ngời ta thấy xuất
hiện các tình huống làm yếu đi khả năng di chuyển lao động giữa hai khu vực nh sau:
- Sự năng động của bản thân khu vực công nghiệp:Về mặt này, so với nền công
- Sự phát triển cân đối giữa các ngành nh vạy giúp tránh đợc ảnh hởng tiêu cực của
những biến động của thị trờng thế giới và hạn chế mức độ phụ thuộc vào các nền kinh tế
khác, tiết kiệm nguồn ngoại tệ vốn rất khan hiếm và thiếu hụt.
- Một nền kinh tế dựa trên cơ cấu cân đối hoàn chỉnh nh vậy chính là nền tảng
vững chắc đảm bảo sự độc lập chính trị của các nớc thuộc thế giới thứ ba chống lại chủ
nghĩa thực dân.
Lý cuốicùng tỏ ra rất hấp dẫn đối với nhiều quốc gia chậm phát triển mới giành đợc
độc lập về chính trị những năm sau Đại chiến thế giới lần thứ hai. Vì thế, mô hình phát
triển theo cơ cấu cân đối khép kín-mô hình công nghiệp hoá hớng nội hay thay thế
nhập khẩu đã trở thành trào lu phổ biến thời kỳ đó.
Tuy nhiên, thực tế đã dần dần cho thấy những yếu đIểm rất lớn của mô hình lý
thuyết này. ở đây có hai vấn đề cần đặc biệt cần đợc xem xét là:
- Thứ nhất, việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối, hoàn chỉnh đã đa nền kinh tế
đến chỗ khép kín và khu biệt với thế giới bên ngoài. Điều này chẳng những ngợc với xu
hớng chung của tất thảy mọi nền kinh tế trong điều kiện hiện đại là khu vực háo và toàn
cầu hoá, mà trong lúc ngăn ngừa những ứac động tieu cực cua thị trờng thế giới, đã bỏ
qua những ảnh hởng tích cực do bên ngoài đem lại.
- Thứ hai, các nền kinh tế chậm phát triển không đủ khả năng về nhân tài, vật lực để
có thể thực hiện đợc những mục tiêu cơ cấu đặt ra ban đầu.
Cả hai yếu tố này đều góp phần làm cho sự chuyển dịch cơ cấu ngành theo hớng
công nghiệp hoá gặp khó khăn, bởi lẽ cách tiếp cận trên đã làm phân tán các nguồn lực
phát triển rất có hạn của các quốc gia, khiến cho ngay cả việc sửa chữa lại di sản cơ cấu
kinh tế què quặt của thời kỳ thuộc địa cũ cũng bị trở ngại. Chính vì thế, chỉ sau một thời
kỳ tăng trởng, các nền kinh tế theo đuổi mô hình cơ cấu cân đối này đã nhanh chóng rơi
vào tình trạng thiểu năng.
d. Lý thuyết phát triển cơ cấu ngành cân đối hay các cực tăng tr ởng
Ngợc lại với quan điểm phát triển nền kinh tế theo một cơ cấu cân đối khép kín nêu
trên, lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối (A.Hirschman, F.Perrons,
G.Destanne de Bernis...)cho rằng không thể và không nhất thiết phải đảm bảo tăng trởng
bền vững cách duy trì cơ cấu cân đối liên ngành đối với mọi quốc gia, với những luận cứ
Kaname Akamatsu đã đa ra những kiến giảivề quá trình đuổi kịp các nớc tiên tiến nhất
của các nớc kém phát triển hơn. Trong những ý tởng về sự đuổi kịp này, vấn đề cơ cấu
ngành có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Xét trên góc độ phát triển của toàn bộ nền công
nghiệp, từng phân ngành hay thậm chí từng lọai sản phẩm riêng biệt, qúa trình đuổi
kịpvề mặt kinh tế và kỹ thuật của chúng đợc chia thành 4 giai đoạn sau:
Giai đoạn1:Các nớc kém phát triển nhập hàng công nghiệp chế biến từ các nớc phát
triển hơn và xuất khẩu một số sản phẩm thủ công đặc biệt.Giai doạn này xảy ra sự phân
biệt hay phân công lao động quốc tế ngay trong lòng các nớc kém phát triển-chuyên sản
xuất một số sản phẩm thủ công đặc biệt để bán và nhập khẩu hàng tiêu dùng công nghiệp
khác từ các nớc công nghiệp phát triển.
Giai đoạn 2:Các nớc chậm phát triển nhập sản phẩm đầu t từ các nớc công nghiệp
phát triển để tự chế tạo lấy hàng hoá công nghiệp tiêu dùng trớc đây vẫn phảI nhập. Đây
là giai đoạn các nớc kém phát triển bắt đầu tích luỹ t bản (vốn) và phỏng theo (bắt chớc)
công nghệ chế tạo từ các nớc công nghiệp phát triển. Ngoài việc nâng cấp và mở rộng một
số ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, nhìn toàn cục giai đoạn 2 mang dáng dấp
của mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đối với nhiều ngành sản xuất công
nghiệp hàng tiêu dùng.Vì thế, những ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thay thế
nhập khẩu phát triển mạnh trong giai đoạn này. Song, những điều chỉnh cơ cấu kinh tế vĩ
mô lại đợc giành u tiên cho các ngành công nghiệp trợ giúp (kết cấu hạ tầng kinh tế)cho
những công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phát triển nh điện, nớc và giao thông vận tải.
- 10 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Giai đoạn 3:là giai đoạn mà những sản phẩm công nghiệp thay thế nhập ở giai đoạn
2 đã có thể trở thành sản phẩm xuất khẩu. Những sản phẩm đầu t trớc đây phải nhập giờ
đây đã có thể dần dần thay thế bằng nguồn khai thác và sản xuất ở trong nớc. Nh vậy,
khoảng cách kỹ thuật giữa các nớc đi sau các nớc công nghiệp phát triển (trớc hết là trong
lĩnh vực chế tạo hàng tiêu dùng) không còn xa cách bao nhiêu. Vì vậy mà số lợng và quy
mô mặt hàng xuất khẩu ngày càng mở rộng. Cơ cấu công nghiệp đã trở nên đa dạng hơn
cho chỗ có nhiều khả năng hơn về kỹ thuật đế lựa chọn và lợi dụng các lợi thế so sánh so
với trớc đây.
những nớc không thành công, cơ cấu có tình trạng không liên kết bên trong. G.Grellet
nhận xét Tình trạng không liên kết bên trong ấy thê hiện một ma trận về giao lu liên
ngành công nghiệp và một ma trận về giao lu liên vùng hầu nh hoàn toàn trống rỗng.
Nh vậy, kinh tế học của sự phát triểnđã đặt vấn đề cơ cấu và một trong những vị
trí cơ bản trong lý thuyết của mình để xem xét, đánh giá và phân loại các dạng thức phát
triển và thoái triển ở các nớc thuộc thế giới thứ ba. Việc đề cao vấn đề cơ cấu đợc xem là
một trong những thành công trong lý thuyết phát triển kinh tế hiện đại. Bởi nó khắc phục
đợc sự phiến diện trong nhìn nhận vấn đề kinh tế của các nớc chậm phát triển khi chỉ
xoay quanh chỉ tiêu tăng trởng kinh tế -tức là mức độ tăng lên củ GNP và GNP đầu ngời.
- 11 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Việc quan tâm đến vấn đề cơ cấu kinh tế thông qua việc chỉ ra tính chất không liên
kết bên trong ở một số nền kinh tế chậm phát triển nào đó mang hàm ý về một giải pháp
mang tính nguyên tắc:phải xây dựng một cơ cấu kinh tế có sự liên kết, thúc đẩy, lôi kéo
lẫn nhau trong qúa trình phát triển. Một cơ cấu nh vậy vừ là điều kiện cho sự phát triển
hay công nghiệp hoá, đồng thời lại vừa là kết quả, là một chỉ số để xem xét mức độ thành
công của công nghiệp hoá và phát triển.
4- Kinh tế học phát triển cho rằng hình thức chuyển dịch cơ cấu ngành của các nớc
chậm phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá diễn ra rất đa dạng. Việc nghiên cứu trắc
nghiệm kết hợp với so sánh lý thuyết đã cho phép mô tả một bức tranh nhiều mầu sắc về
về qúa trình chuyển dịch cơ cấu của các nớc chậm phát triển thuộc các khu vực khác
nhau. Chính vì vậy, ngày càng có nhiều ngời cho rằng không có một khuôn mẫu chung
duy nhất nào có thể áp dụng thành công cho mọ quốc gia. Việc công nghiệp hoá bắt đầu
từ đâu:công nghiệp, nông nghiệp hay dịch vụ vẫn đang còn là vấn đề tranh cãi.
5- Việc thừa nhận tính đa dạng của các hình thức chuyển dịch cơ cấu trong qúa trình
công nghiệp hoá của các nớc đang phát triển hiện đang để lại một khoảng trống mà ngời
ta cho rằng sứ mệnh đặc biệt trong việc giải quyết vấn đề đó trao vào tay các chính phủ.
Trong các lý thuyết kinh tế, vai trò can thiệp của nhà nớc đợc xem là một trong những yếu
tố quyết định sự phát triển kinh tế.
Khái niệm về mức độ hợp lýtrong cơ cấu ngành kinh tế giữa các quốc gia là một
dung của thời kỳ này là sản xuất trong nớc bắt đầu đối mặt với cạnh tranh từ nớc ngoài
nh là hệ quả tất nhiên của qúa trình bành trớng xuất khẩu sản phẩm (đối với nớc ngoài là
du nhập sản phẩm, sản xuất thay thế nhập khẩu và bắt dầu xuất khẩu). Cuộc cạnh tranh
này tạo ra một số bất lợi thế cho qúa trình sản xuất trong nớc.Đó là bất lợi thế về thị trờng
về chi phí sản xuất. Việc tiếp tục sản xuất sản phẩm (mở rộng công suất hay duy trì mức
cũ, thậm chí thu hẹp) trở nên kém hiệu quả. Trong một quãng thời gian dài, sự lựa chọn
không thể tránh khỏi là chuyển sang một loại sản phẩm mới khác. Để bảo đảm hiệu qua
và u thế cạnh tranh, đất nớc phảI thực hiện bớc chuyển đó và vì thế không thể không nhập
khẩu trở lại loại sản phẩm trớc đây nó đã từng xuất khẩu.
Năm giai đoạn trên hình thành nên chu kỳ sống của sản phẩm. Nó xác định tính chất
yếu về kinh tế và kỹ thuật cho sự tồn tại của một ngành, một sản phẩm. Đây chính là
khuôn khổ lý thuyết tổng quát về qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên phạm vi thế
giới. Trong phạm vi một nớc đIều này cũng đúng khi xét trong quan hệ giữa các ngành và
công ty. Khi quan sát qúa trình này, ngời ta thấy qúa trình di chuyển cơ cấu là liên tục và
mang tính khách quan. Khái niệm liên tục ở đây hàm nghĩa một sự dợt đuổi thật sự về sản
phẩm và công nghệ-kỹ thuật giữa các nớc. Trong cuộc dợt đuổi này xuất hiện hai khả
năng cho những nớc đi sau. Đó là:Thứ nhất, rút ngắn khoảng thời gian của mỗi thời kỳ
trong toàn bộ chu kỳ. Thứ hai, có thể bỏ qua nhiều loại sản phẩm để chuyển nhanh sang
loại sản phẩm mới.
3.4. Các mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới
a. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mô hình h ớng nội
Với mục tiêu là phát huy tính chủ động của chính phủ trong quản lý kinh tế, bảo
đảm và duy trì sự phát triển của các ngành sản xuất truyền thống của dân tộc, nhiều nớc
trên thế giới đã thực hiện chính sách chuyển dịch cơ cấu cơ cấu kinh tế theo mô hình h-
ớng nội.
Mô hình hớng nội là chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế có xu hớng hớng nội, có
chiến lợc đóng cửa nhiều hơn. Nó khuyến khích theo hớng sản xuất cho thị trờng trong n-
ớc, nhấn mạnh việc thay thế nhập khẩu, tự túc về lơng thực, có thể cả các mặt hàng phi
mậu dịch.
Ban đầu chính phủ các nớc đang phát triển nhiều khi cũng lựa chọn các chính sách
nguồn thu thích hợp mà không cần tới sự bảo hộ mạnh mẽ.
Sau khi hoàn thành những giai đoạn ban đầu của việc thay thế nhập khẩu, các nớc
đang phát triển thờng chuyển sang các chính sách hớng ngoại đối với các ngành chế tạo
máy. Cách tốt nhất là quan tâm đến việc cung cấp các đầu vào cho nhà xuất khẩu trong
khi cơ sở hạ tầng cha đáp ứng đầy đủ. Tài quản lý của chính phủ ở đây là sự lựa chọn
sáng suốt sự thay thế nhập khẩu có hiệu quả và đẩy mạnh xuất khẩu. Xây dựng một chính
sách thơng mại quốc tế cho phù hợp với nền kinh tế đang phát triển, nhằm phục vụ tốt
nhất các mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội củ mỗi quốc gia.
Chuyển dịch cơ cấu theo mô hình hớng ngoại rất có ý nghĩa đối với thuế quan và các
hình thức khác của chính sách bảo hộ mậu dịch, chính sách tỷ giá hối đoái và quản lý vĩ
mô trong nớc. Vấn đề mở cửa có liên quan đến nhập khẩu và xuất khẩu hoặc tài khoản
vãng lai trong cán cân thanh toán. Việc quyết định hớng ngoại cho dù ở mức độ nào thì
cũng có nhiều tác động quan trọng đến các mặt của đời sống kinh tế. Nó sẽ ảnh hởng tới
việc phân bố sản xuất giữa các mặt hàng trao đổi đợc xuất hoặc nhập khẩu; tăng cờng sử
dụng nguồn lực và tới sự phân phối thu nhập thông qua những tác động đối với thị trờng
nhân tố sản xuất và thị trờng sản phẩm; tới cơ cấu và tốc độ công nghiệp hoá; tới việc
phân bổ đất đai và các nguồn lực khác giữa cây lơng thực và cây phục vụ xuất khẩu, v.v...
Ưu đIểm của sự mở cửa là nó thúc đẩy qúa trình đổi mới và tăng năng suất lao động
nhanh, tạo ra khả năng thích nghi của nền kinh tế; tác động tốt đến qúa trình phát triển
dài hạn, có tác dụng tốt đối với sự tăng trởng của GDP.
Tuy nhiên, chiến lợc kinh tế mở của sẽ mang lại cho chính phủ nớc đó ít có khả
năng hành động theo ý mình hơn; có tác dụng xấu tới công nghệ trong nớc do dựa vào t
liệu sản xuất và công nghệ nhập khẩu, đặc biệt đối với các nớc nhỏ có thu nhập thấp mà
nền kinh tế của họ ở vào vị thế không thuận lợi. Việc thực hiện chính sách thuế nhập khẩu
thấp ở giai đoạn đầu có thể đem lại ảnh hởng xấu là tăng giá cả tiêu dùng và một số ngành
sản xuất thay thế nhập khẩu. Ngoài ra, khi các điều kiện quốc tế trở nên không thuận lợi
thì rủi ro có thể xảy ra, đem lại không ít hậu quả xấu cho nền kinh tế-xã hội trong nớc.
c. Chuyển dịch cơ cấu theo mô hình hỗn hợp
Mô hình hớng về xuất khẩu lấy thị trờng nớc ngoài làm trọng tâm phát triển công
nghiệp. Điều đó mang lại những lợi ích thiết thực, song cũng đòi hỏi những điều kiện rất
đồ đIện,sản phẩm dệt và các hàng công nghiệp khác, góp phần đáng kể tăng trởng kinh tế.
Sau những năm 1981-1982 (suy thoáI kinh tế trên khắp thế giới), các mặt hàng xuất
khẩu truyền thống của Malaixia bị giảm giá, làm giảm thu nhập và đầu t. Nhà nớc
Malaixia đã tìm cách kích thích nền kinh tế và đẩy nhanh tăng trởng công nghiệp bằng
việc đầu t vào một số cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng. Chi tiêu Chính phủ tăng bằng
cách đI vay nợ nớc ngoàI để mua cổ phàn của các công ty nớc ngoàI với mụch đích có
đIều kiện kiểm soát các công ty lớn của nớc ngoàI. Do vậy mà nợ nớc ngoài của Malaixia
tính đến năm 1984 đã tăng tới 15 tỷ USD. Năm 1985-1986, do ảnh hởng có giá dầu mỏ và
dầu cọ trên thế giới giảm nhanh, sản lợng GNP theo đầu ngời giảm xuống còn 1600 USD
bình quân đầu ngời, thâm hụt lớn trong ngân sách nhà nớc. Chính phủ đã phảI thy đổi
một số chính sách nh bãI bỏ một vàI mục tiêu và chi tiêu và tăng trởng trong kế hoạch lần
thứ 5 (1986-1990), chú trọng hơn về khu vực t nhân, t nhân hoá một số công ty quốc
doanh và của chính phủ; Công ty vận tảI biển quốc gia và hàng không quốc gia đợc bấn
một phần cho các nhà đầu t thông qua thị trờng chứng khoán.
Nền kinh tế Malaixia bắt đầu phục hồi từ năm 1987 liên tục đến năm 1989 nhờ sự
cảI thiện về giá cả hàng hoá và tăng trởng trong sản xuất công nghiệp. GDP thực tế tăng
4,7%năm 1987, 9,5%năm 1988 và 7,7 %năm 1989.Hàng xuất khẩu chiếm hơn 3//4 tăng
trởng, dẫn tới cán cân thanh toán d thừa, đầu t nớc ngoài tăng lên, nợ nớc ngoài giảm.
Vốn là nớc có nguồn lực đất đai dồi dào, lực lợng lao động có học vấn tốt và môI trờng
chính trị ổn định, tiết kiệm trong nớc mạnh tạo đủ vốn cho đầu t, ngoai ra với chính sách
thu hút đầu t nớc ngoài, khả năng tăng trởng của Malaixia là có triển vọng tiếp tục và
- 15 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thịnh vợng. Tuy nhiên, chính phủ Malaixia vẫn luôn phảI có những chính sách phù hợp để
đề phòng những tổn thơng do biến động từ bên ngoàI.
* ĐàI Loan
Giai đoạn thứ nhất (1953-1964). Giai đoạn này tơng ứng với 3 kế hoạch 4 năm phát
triển kinh tế của Đài Loan:1953-1956, 1957-1960, 1961-1964.
Mục tiêu chiến lợc của Đài Loan giai đoạn này là phát triển công nghiệp nhằm đáp
ứng nhu cầu cơ bản của nhân dân nh ăn, mặc,ở đI lạI, học tập, giảI trí...Do vậy đối với
để thúc đẩy xuất khẩu, cả công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng của ĐàI Loan ở giai
đoạn này đã có bớc phát triển mạnh mẽ, đạt mức tăng trởng bình quân hàng năm là
18,5%. ĐIều quan trọng hơn là tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng lên đáng kể, đạt
41,3% trong khi nông nghiệp đã giảm tơng đối, chỉ còn 15,5%. Sự phát triển nhanh chóng
của công nghiệp đã góp phần thúc đẩy sự tăng trởng kinh tế nhanh của ĐàI Loan. GDP
của ĐàI Loan giai đoạn này luôn luôn tăng trung bình là 10,1%/năm.
- Giai đoạn thứ 3(1974-1990). Giai đoạn này ĐàI loan tiếp tục công cuộc CNH song
có bớc đIều chỉnh quan trọng về cơ cấu ngành nghề, trong đó u tiên hàng đầu là tập trung
- 16 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ph¸t triÓn c¸c ngµnh c«ng nghiÖp cã hµm lîng vèn vµ kü thuËt cao, tuy vÉn duy tr× chÝnh
s¸ch ph¸t triÓn c¸c ngµnh c«ng nghiÖp nhÑ híng ra xuÊt khÈu.
- 17 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ch ơng II
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
I. Những phơng hớng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
trong thời kỳ 1996-2000
Nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu
Tập trung sức cho mục tiêu phát triển, đạt tốc độ tăng trởng kinh tế bình quân hàng
năm 9-10%; dến năm 2000, GDP bình quân đầu ngời gấp đôI năm 1990.
Phát triển toàn diện nông, lâm, ng nghiệp, gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm,
thuỷ sản và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn theo hớng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá.
Tốc độ tăng gía trị sản xuất nông, lâm, ng nghiệp bình quân hàng năm 4-4,5%. Phát triển
các ngành công nghiệp chú trọng trớc hết công nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu
dùng và hàng xuất khẩu; xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng về dầu khí,
than, xi măng, cơ khí, đIện tử, thép, phân bón, hoá chất, một số cơ sở công nghiệp quốc
phòng. Tốc độ tăng gía trị sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm 14-15%.
Phát triển các ngành dịch vụ, tập trung vào các lĩnh vực vận tảI, thông tin liên lạc,
thơng mại, du lịch, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, công nghệ, pháp lý...Tốc độ tăng gía