DANH NHÂN TRIẾT HỌC
B. Russell - Nhà triết học, nhà nhân văn học kiệt xuất
của thế kỷ XX
B. Russell là nhà triết học, lôgíc học, toán học, xã hội
học và chính luận kiệt xuất của thế kỷ XX, người đoạt
giải thưởng Nobel về văn học. Ông là nhà tư tưởng
luôn khát khao tìm kiếm chân lý, cố gắng sử dụng
những thành tựu của các khoa học khác cho triết học.
Là một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng, ông luôn đưa
ra phản ứng mạnh mẽ và tham gia tích cực vào những
sự kiện xã hội diễn ra trên thế giới, hăng hái đấu tranh
chống lại chủ nghĩa quân phiệt, đấu tranh vì hòa bình
và quan hệ công bằng, bình đẳng giữa các quốc gia.
Cho đến nay, các tư liệu viết về B.Russell là rất nhiều và những tư tưởng triết học
của ông vẫn luôn là đề tài được nhiều học giả trên thế giới tiếp tục nghiên cứu(1).
B.Russell sinh ngày 18 tháng 03 năm 1872 trong một gia đình quý tộc Anh lâu
đời. Cha ông - Huân tước B.Emberti là một người cấp tiến, là học trò và bạn vong
niên của John Stuart - tác giả của Phân tích niềm tin tôn giáo. Mặc dù B.Russell là
người nối dõi dòng họ quý tộc cao quý, song ông lại buộc phải bước vào đời bằng
sức lực riêng của bản thân mình, trong khi anh trai ông lại nhận được quyền trở
thành nghị sĩ theo luật lệ nước Anh thời bấy giờ. Sau này, B.Russell đã trở thành
người phản đối chế độ bảo thủ hiện tồn ở nước Anh. Ông bắt đầu truyền bá những
tư tưởng về “xã hội Fabian” (một tổ chức cải cách ở Anh, được thành lập vào năm
1883 -1884 bởi một nhóm trí thức theo khuynh hướng bác bỏ đấu tranh giai cấp và
cách mạng, tuyên truyền cho bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã
hội theo con đường cải cách) và gia nhập Đảng Lao động, công khai vạch trần
những khiếm khuyết của chế độ xã hội tư sản.
hưởng của sự phát triển với tốc độ vũ bão của các khoa học nhằm khôi phục xu
hướng thực chứng ở thế kỷ XIX và xây dựng “triết học khoa học” trên cơ sở kết
hợp chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan. Từ 1898 đến
1920, sự tiến hóa triết học của B.Russell đã diễn ra trong khuôn khổ của trào lưu
triết học này. Trong Lược khảo triết học (1910), B.Russell đã đoạn tuyệt với “chủ
nghĩa duy tâm tuyệt đối” của F.Bredli, bác bỏ cái gọi là “lý thuyết quan hệ nội tại”
của F.Bredli nhằm bảo vệ “lý thuyết quan hệ ngoại tại” và thừa nhận chủ nghĩa đa
nguyên bản thể luận. Vào năm 1918, B.Russell đã thừa nhận lập trường chủ yếu
của ông là “chủ nghĩa duy thực”(3). Tuy nhiên, ông lại kết hợp những kết luận duy
thực mới của mình với các chủ đề khác nhằm phản ứng lại những vấn đề mới xuất
hiện trong lôgíc học và toán học thế kỷ XX và bắt tay vào việc xây dựng phương
pháp phân tích để nghiên cứu những vấn đề triết học. Khi đó, phương pháp phân
tích được F.Bacon và T.Hobbes đưa vào triết học đã mang một diện mạo mới do
các khái niệm lôgíc học và toán học quy định và do vậy, khi nói đến phân tích
trước hết có nghĩa là chuẩn xác hóa những định nghĩa nhờ chuyển hóa chúng.
Dưới ảnh hưởng của đơn tử luận Leibniz và hệ thống triết học của nhà triết học
theo chủ nghĩa duy thực mới - A.Meynong, B.Russell đã tiến hành lý giải thế giới
như một kết cấu lôgíc - toán học, trong đó có sự tồn tại độc lập của các mối quan
hệ mà cơ sở của chúng là những “sự kiện tản mạn” được ông hiểu là những tình
huống cảm tính không thể phân chia tiếp được nữa. Trong Những vấn đề của triết
học (1912), B.Russell tuyên bố rằng, việc thừa nhận sự tồn tại của những khách
thể vật lý là một “giả thuyết khoa học”, bởi chúng ta không bao giờ có thể chứng
minh được sự tồn tại của những sự vật khác ngoài bản thân chúng ta và kinh
nghiệm của chúng ta(4). Sau này, quan niệm như vậy về thế giới đã trở thành một
khuynh hướng đặc biệt, khi B.Russell triển khai những vấn đề của lôgíc toán.
Năm 1900, B.Russell đã tích cực tham gia vào Hội nghị toán học ở Paris. Tại đây,
ông đã làm quen với các công trình của nhà toán học người Italia - J.Peano và
những người thuộc trường phái này. Điều này đã khiến ông phải quan tâm đến
những công trình nghiên cứu sâu sắc hơn về sự luận chứng lôgíc học cho toán học
dựa trên cơ sở đó, cấm áp dụng các đặc trưng của một cấp độ này vào cấp độ khác.
Để đạt được mục đích này, năm 1908, B.Russell đã xây dựng lý thuyết phân cấp
các cấp độ khách thể của thao tác lôgíc và coi đó là cơ sở của hệ thống Principia
Mathematica. Sau đó, tư tưởng này của ông đã kích thích A.Tarssky nghiên cứu
một cách hết sức căn bản về khái niệm tính chân thực trong ngôn ngữ hình thức.
Chủ ý của B.Russell là quy toán học về lôgíc học, tức là xây dựng một hệ thống
lôgíc học toàn vẹn và không có nghịch lý, mà khi xuất phát từ một số những
“mệnh đề nguyên tử” sơ đẳng đã không thể thực hiện được. Theo ông, các nghịch
lý lôgíc bị loại bỏ bằng cái giá là đánh mất các lớp định đề chân thực, không
nghịch lý là điều rất quan trọng đối với toán học. Và, khi không thể chạy trốn khỏi
các tiền đề nằm ngoài lôgíc học, thất bại này còn gắn liền với quan niệm duy tâm
về toán học và lôgíc học. Từ quan niệm này, B.Russell đã lý giải các bộ môn khoa
học này như các khoa học “tiên nghiệm”, tức là hoàn toàn nằm ngoài kinh nghiệm
và không phụ thuộc vào cấu trúc của thế giới khách quan.
Với B.Russell, toán học và lôgíc học là những lĩnh vực độc lập của tồn tại, không
có quan hệ nào với thế giới kinh nghiệm và do vậy, chúng phù hợp với cả chủ
nghĩa duy thực mới lẫn chủ nghĩa thực chứng mới. Quan niệm này đã đưa ông đến
chỗ tách rời cái chung với cái riêng, cảm tính với lý tính, bởi theo ông, cái chung
có thực tại độc lập nên những tư tưởng này là phù hợp với quan niệm gắn liền chủ
nghĩa duy thực mới với quan niệm của Platon về khách thể toán học - lôgíc học.
Coi yếu tố cơ bản của thế giới là “những ý niệm của Platon” hay những khái niệm
chung tồn tại như một cái gì đó nằm ngoài thời gian, B.Russell đã khẳng định:
“Thế giới khái niệm chung, được mô tả như một thế giới tồn tại bất biến, chặt chẽ,
chính xác là cái hấp dẫn không chỉ đối với nhà toán học, với người sáng tạo ra các
hệ thống siêu hình học, mà còn đối với cả những ai yêu thích sự hoàn hảo hơn sự
sống”(8). Theo ông, thế giới khái niệm chung và quan hệ giữa chúng chỉ khả tri
đối với nhận thức “tiên nghiệm”, bởi nó đứng đối lập với thế giới tồn tại nhất thời,
được nghịch lý tồn tại của những đối tượng không tồn tại.
Tuy nhiên, những luận điểm ấy đã đưa Russell đến những sai lầm nghiêm trọng về
phương diện triết học. Khi chuyển “tồn tại” sang biểu tượng (quantum) của các
mệnh đề hiện sinh và thay thế vấn đề về tồn tại bằng vấn đề về sự “giả định” có
chung những dấu hiệu nằm trong mệnh đề mô tả, B.Russell đã tuyệt đối hóa một
cách sai lầm ý nghĩa của thao tác này, đã hòa tan các loại hình tồn tại khác nhau về
chất vào khái niệm “tồn tại nói chung” và chuyển dịch một cách sai trái tính không
có vị từ của “tồn tại nói chung” sang mọi loại hình ấy. Không chỉ thế, ông còn
đồng nhất mọi loại hình tồn tại với tồn tại trong ý thức của chủ thể có tư duy lôgíc.
Qua đó, vấn đề tồn tại đã được ông lý giải theo lối duy tâm chủ quan.
Trong Nhận thức của chúng ta về thế giới bên ngoài như những tác động của
phương pháp khoa học trong triết học, B.Russell đã cố gắng giải phóng hoàn toàn
khỏi khái niệm “khách thể vật chất”. Ông phân tích những dữ liệu cảm tính mà,
xét từ góc độ phân tích, được gọi là “dữ liệu tối hậu” về thế giới do tính không quy
giản được của chúng. Quan điểm “nguyên tử luận lôgíc” và “nhất nguyên luận
trung lập” của ông đã bắt đầu hình thành ở đây.
Lý thuyết “nguyên tử luận lôgíc” (“chủ nghĩa đa nguyên tuyệt đối”) được
B.Russell đưa ra trong các bài viết của hợp tuyển Chủ nghĩa thần bí và lôgíc học
(1917) và trong tập bài giảng Triết học của nguyên tử luận lôgíc (1918). Lý thuyết
này “thường xuyên len lách vào triết học thông qua việc nghiên cứu toán học một
cách có phê phán”(10). Cái đã có ảnh hưởng đáng kể đến việc hình thành quan
điểm đa nguyên luận này của B.Russell là Lược khảo lôgíc học - triết học của
L.Wittgenstein. Theo B. Russell, nhiệm vụ của nguyên tử luận lôgíc là sử dụng
những sự kiện tối giản để tạo ra một bức tranh khoa học về cấu trúc một cách phù
hợp với cấu trúc của ngôn ngữ lý tưởng về mặt lôgíc, giống như ngôn ngữ của
“Principia Mathematica”. Song, nguyên tử luận lôgíc lại hóa ra là một sự tư biện
trừu tượng và tất yếu dẫn đến chủ nghĩa duy ngã.
kinh nghiệm” và do vậy, không chỉ một vòng tròn luẩn quẩn đã xuất hiện trong
suy luận của ông, mà cả chủ nghĩa hiện tượng cũng xuất hiện.
Trong một tác phẩm lớn - Nhận thức của con người, lĩnh vực và giới hạn của nó
(1948) mà B.Russell đã giành tám năm để hoàn thành nó, dường như ông muốn
tổng kết quá trình hình thành và phát triển quan điểm nhận thức luận của mình.
Trong tác phẩm này, sắc thái của chủ nghĩa hoài nghi và thuyết bất khả tri lại nổi
bật lên. Nếu như, trong Phân tích vật chất, ông đã khẳng định “lập trường duy
nhất hợp lý trong các vấn đề về thế giới vật lý là ở thuyết bất khả tri hoàn toàn đối
với vạn vật”(14), thì trong tác phẩm này, ông đã đưa ra quan niệm về tính bất khả
tri của chân lý. Khi đặt vấn đề liệu chúng ta có hiểu biết chắc chắn về tính chân
thực của các kết luận khoa học hay không, ông cho rằng, “nhận thức chịu sự chi
phối quá lớn của những tiền đề sinh học và do vậy, là ảo tưởng lừa dối”(15). Điều
đó cho thấy B.Russell đã trở nên đặc biệt gần gũi với những quan điểm của Hume.
Thực ra, B.Russell đã cố gắng thoát ra khỏi vũng lầy của sự hoài nghi tuyệt đối,
khi ông thừa nhận niềm tin là cái nằm ngoài kinh nghiệm và sự tồn tại của thế giới
bên ngoài. Theo ông, “nếu loại bỏ niềm tin như vậy sẽ không còn cơ sở nào để
thừa nhận khoa học trong khuôn khổ rộng lớn của nó, mà việc không thừa nhận
khoa học thì lại là điều không hợp lý”(16). Để khoa học trở nên hợp lý, B.Russell
đã đưa ra năm định đề nhận thức lý luận: “tính bất định giả danh của những hiện
tượng, tính độc lập của quan hệ nhân quả, tính liên tục về không - thời gian, định
đề cấu trúc và định đề ngoại tỷ”, mà theo ông, là cần thiết để minh biện cho những
khái quát bằng quy nạp trong khoa học và là những định đề mang tính tiên
nghiệm(17).
Sự phát triển triết học của tôi là công trình kết thúc quá trình hình thành và phát
triển tư tưởng triết học của B.Russell. Ở đây, ông đã một lần nữa cố gắng khắc
phục bất khả tri luận, nhưng lại thất bại. Luận chiến với các đại diện của chủ nghĩa
thực chứng lôgíc và trường phái “phân tích ngôn ngữ”, B.Russell đã chỉ rõ sự bất
đời mình và lên án chiến tranh hạt nhân.
Trong các tác phẩm được công bố sau thế chiến thứ hai - Quyền lực và cá nhân
(1949), Hy vọng trong thế giới thường biến (1957), B.Russell quan tâm nhiều đến
những vấn đề chiến tranh và hòa bình. Thái độ của ông đối với chiến tranh vẫn
mang tính chất yêu chuộng hòa bình và chứa đựng những mâu thuẫn trái ngược.
Đôi lúc ông còn khẳng định “chiến tranh từ xưa tới nay đều là động lực chủ yếu
của xã hội”(20). Nhưng, trong các tác phẩm được viết vào những năm 60 - Lương
tri và chiến tranh nguyên tử (1960), Con người có tương lai hay không (1961),
Chiến thắng vũ khí (1963), Tội phạm chiến tranh ở Việt Nam (1967), ông đã thể
hiện rõ là người tích cực chống lại chiến tranh. Ông viết: “Trước khi xuất hiện vũ
khí nguyên tử, tôi không phản đối chiến tranh, vì cho rằng chiến tranh có lúc là
cần thiết. Nhưng bây giờ, khi vũ khí hạt nhân xuất hiện, tôi chống lại chiến
tranh”(21).
Để cứu thoát loài người khỏi một cuộc chiến tranh mới, B.Russell đã đưa ra tư
tưởng thành lập một “nhà nước toàn cầu”. Tư tưởng này, về thực chất, mang tính
không tưởng; nó xuất hiện dựa trên hệ thống quan điểm đạo đức học của ông, đặc
biệt là căn cứ trên nguyên tắc về “mệnh lệnh tối cao”: hãy hành động như thế nào
đó để kích thích ở con người những khát vọng mang tính hài hòa lớn hơn những
khát vọng đối kháng. Xuất phát từ nguyên tắc này, trong Xã hội loài người xét từ
góc độ đạo đức và chính trị, ông đã xây dựng một hệ thống những luận cứ đạo đức
học nhằm bảo vệ hòa bình.
Vốn là một nhà nhân văn theo định hướng dân chủ, nhưng cho đến cuối đời,
B.Russell vẫn không khắc phục được những hạn chế trong quan niệm trừu tượng
về chủ nghĩa nhân văn, mặc dù trong những năm cuối đời, ông đã tổ chức những
hoạt động cụ thể nhằm chống lại chính sách hiếu chiến của Mỹ. Luôn tin tưởng
vào “những thiên kiến của người theo chủ nghĩa tự do thủ cựu”, song ông vẫn tỏ
thái độ hoài nghi đối với các quyền tự do mang tính hình thức ở phương Tây. Ông
và chủ nghĩa phát xít và trong những tác phẩm, tiểu luận khác, B.Russell luôn bác
bỏ học thuyết mácxít về tiến bộ xã hội. Ông nhấn mạnh: “Tôi không tin rằng có một
tất yếu biện chứng nào đó trong sự biến đổi lịch sử”(27). Vào trước những năm 20
của thế kỷ XX, B.Russell truyền bá tư tưởng chủ nghĩa xã hội Gilde với tư cách
phản đề của chủ nghĩa Mác, mặc dù ông cũng chống lại các tổ chức độc quyền lớn,
coi chúng là mối nguy hiểm đối với tự do tư sản.
Trong Các lý tưởng chính trị (1917), Các nguyên tắc tái thiết xã hội (1916),
Quyền lực (1938), Quyền lực và cá nhân (1949) và Động cơ hoạt động của con
người (1952), B.Russell đã dựa vào công trình của các nhà xã hội học và các nhà
triết học thế kỷ XIX - XX để phát triển quan điểm riêng của mình về vấn đề phát
triển xã hội. Theo ông, cơ sở ứng xử của con người cũng như của toàn bộ đời sống
xã hội là những bản năng, những dục vọng xác định. Trong Các nguyên tắc tái
thiết xã hội, ông quan niệm “triết học chính trị căn cứ trên định đề cho rằng xung
lượng có hiệu quả mong muốn hơn là mục đích có ý thức trong việc hình thành
cuộc sống con người”(28). Xung lượng này có hai loại: xung lượng tư hữu và
xung lượng “sáng tạo”. Nhà nước, chiến tranh và sở hữu tư nhân là những biểu
hiện chủ yếu của xung lượng tư hữu, còn giáo dục, hôn nhân, tôn giáo là sự hiện
thực hóa xung lượng “sáng tạo”. B.Russell đã mô tả toàn bộ lịch sử loài người như
kết quả biểu hiện và tác động của các xung lượng này. Theo ông, không phải
phương thức sản xuất và tái sản xuất ra phương tiện sinh hoạt của con người, mà
những bản năng khác nhau, trong đó có khát vọng thống trị, là cơ sở của tiến trình
lịch sử. Rằng, “khát vọng quyền lực và tình yêu quyền lực là các động cơ chủ yếu
của những chuyển biến đang diễn ra trong xã hội”(29). Trong Quyền lực,
B.Russell thậm chí còn tuyên bố rằng, “chỉ có tình yêu quyền lực là nguyên nhân
của những hoạt động quan trọng trong lĩnh vực xã hội và cho phép lý giải đúng
lịch sử cổ đại và lịch sử hiện đại”(30).
Sử dụng sự tương tự bề ngoài giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội,
B.Russell cố gắng chứng minh rằng, khái niệm cơ bản trong các khoa học nhân
Phân tích sự hình thành và phát triển của xã hội và vai trò của cá nhân trong xã
hội, B.Russell quan tâm nhiều đến vấn đề tự do cá nhân và lương tâm cá nhân, dân
chủ hóa văn hóa và giáo dục. Nhìn chung, những suy luận của ông về các vấn đề
này mang tính chất khai sáng và nhân văn. Điều này đã khiến một số nhà nghiên
cứu so sánh ông với Voltaire. Với toàn bộ ưu điểm của mình, các tác phẩm của
B.Russell vẫn có một hạn chế chung: không phân tích cụ thể con người bị áp bức
trong điều kiện xã hội hiện đại như là cái tạo ra cảm giác sợ hãi và bị đàn áp ở con
người phương Tây hiện đại, mặc dù bản thân ông lên tiếng chống lại trạng thái bị
áp bức và đàn áp một cách mãnh mẽ. Các tác phẩm viết về lĩnh vực tôn giáo: Bản
chất của tôn giáo (1912), Tôn giáo và giáo hội (1916), Tại sao tôi lại không phải là
tín đồ Kitô giáo? (1927), Tôn giáo có đóng góp hữu ích cho nền văn minh hay
không? (1930), v.v. đã làm cho B.Russell nổi tiếng thế giới không kém gì các tác
phẩm mà ông viết về lôgíc toán.
Trong những năm cuối đời, trái ngược với “đạo đức học duy cảm” mà B.Russell
từng là người ủng hộ vào những năm 30 - 40 của thế kỷ XX, ông đã cố gắng xây
dựng quan điểm đạo đức vị lợi mới, phù hợp với chế độ xã hội và coi đó là
“phương tiện để đạt tới phúc lợi chung”(34). Đây là một biến thể của “chủ nghĩa
xã hội dân chủ” nổi tiếng của các thành viên Công đảng. B.Russell đã không thể đi
xa hơn, bởi chủ nghĩa hoài nghi đã cản trở ông trở thành người vô thần, giống như
nó đã cản trở Hume cách đó 2 thế kỷ.
B.Russell đã cho chúng ta thấy hình ảnh phức tạp và mâu thuẫn của một nhà triết
học phương Tây kiệt xuất của thế kỷ XX. Con người ông là một sự hợp nhất
những ảo tưởng của chủ nghĩa tự do sơ khai trong chính trị và những sai lầm của
chủ nghĩa duy tâm trong nhận thức luận cùng với chủ nghĩa nhân văn khai sáng và
khát vọng xuất phát không phải từ các truyền thống lỗi thời, mà từ những thành
tựu của tri thức khoa học nói chung, của tri thức lôgíc toán hiện đại trong triết học.
Sự hợp nhất này đã làm phong phú thêm hệ vấn đề của triết học đương thời, mặc
dù nó không đem lại những kết quả hữu hiệu. B.Russell đã để lại dấu ấn không thể
(4) B.Russell. Philosophy Problem. L., 1914, p.17.
(5) B.Russell. My Philosophical Development. L., 1959, p.74.
(6) B.Russell. Introduction to Mathematical Philosophy. L., 1919, p.144.
(7) B.Russell, A.N.Whitehead. Principia Mathematica. L., 1925, p.VII.
(8) B.Russell. Ibid., p.74.
(9) B.Russell. Our Knowledge of the External World as a Field for Scientific
Method in Philosophy. L., 1915, p.239.
(10) B.Russell. Our Knowledge of the External World as a Field for Scientific
Method in Philosophy. L., 1915, p.4.
(11) B.Russell. The Analysis of Matter. N.Y., 1954, p.7.
(12) B.Russell. Our Knowledge of the External World as a Field for Scientific
Method in Philosophy. L., 1915, p.4.
(13) B.Russell. The Analysis of Mind. L., 1921, p.307.
(14) B.Russell. The Analysis of Matter. N.Y., 1954, p.27.
(15) B.Russell. “Human Knowledge: It Scope and Limits”. L., 1950, p.35.
(16) B.Russell. Ibid., p.261.
(17) B.Russell. Ibid., p.240.
(18) B.Russell. My Philosophical Development. L., 1959, p.230.
(19) The Autobiography of Bertrand Russell, Vol.2, 1914-1944. L., 1968, p.110.
(20) B.Russell. Authority and Individual. L., 1949, p.7.
(21) B.Russell. Ibid., p.10.
(22) The Autobiography of Russell, vol. 2, p.150.
(23) Trong các tác phẩm Các nguyên tắc tái kiến thiết xã hội - Principles of Social
Reconstruction - (1916), Các lý tưởng chính trị- Political Ideals - (1917), Hôn
nhân và luân lý – Marriage and Morals - (1929), B.Russell đã phê phán đạo đức
tư sản và nêu lên những tác động tai hại của nó đến con người.
(24) B.Russell. On Education, Especially in Early Childood. L., 1962, p.I.
(25) B.Russell’s Dictionary of Mind, Mater and Morals. N.Y., 1953, p.89.
(26) B.Russell. Ibid.,p.91.
(27) B.Russell. In Praise of Idleness. L., 1936, p.100.