Chương 1: Lý luận chung về lạm phát và tăng trưởng kinh tế - Pdf 20

MỤC LỤC
Chương 1 . Lý luận chung về lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
1.1. Lạm phát và nguyên nhân gây ra lạm phát.
1.1.1. Lạm phát.
1.1.2. Nguyên nhân gây ra lạm phát.
1.2. Tăng trưởng kinh tế và các công cụ phản ánh.
1.2.1. Tăng trưởng kinh tế.
1.2.2. Các công cụ phản ánh.
1.3. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
Chương 2 . Thực trạng lạm phát và mối quan hệ giữa lạm phát và
tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
2.1. Thực trạng lạm phát ở Việt Nam thời gian qua.
2.1.1. Các nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam thời gian
qua.
2.1.2. Các tác động của lạm phát.
2.2. Mối quan hệ giữa lạm phát và tằng trưởng kinh tế.
Chương 3. Giải pháp kiểm soát lạm phát ở Việt Nam hiện nay.
3.1. Định hướng về lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.
3.2. Giải pháp kiểm soát lạm phát ở Việt Nam hiện nay.
3.2.1. Giải pháp tình thế.
3.2.2. Giải pháp chiến lược.
3.2.3. Giải pháp chủ yếu kiểm soát lạm phát ở Việt Nam .
3.3. Lạm phát và vấn đề xử lý lạm phát của một số nước trên thế giới,
học tập và áp dụng vào Việt Nam.
LỜI NÓI ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát là hai vấn đề cơ bản và lớn trong kinh tế
vĩ mô. Sự tác động qua lại của tăng trưởng kinh tế và lạm phát hết sức phức tạp
và không phải lúc nào cũng tuân theo những qui tắc kinh tế .
Lạm phát là một vấn đề không phải xa lạ và là một đặc diểm của nền kinh
tế hàng hoá và ở mỗi thời kì kinh tế với các mức tăng trưởng kinh té khác nhau
sẽ có những mức lạm phát phù hợp.

dài”. Ông cho rằng lạm phát luôn và bao giờ cũng là một hiện tượng tiền tệ”. Ý
kiến đó của ông đã được đa số các nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ và phái
Keynes tán thành.
1.1.1.2 Phân loại lạm phát:
1.1.1.2.1 Căn cứ vào mức độ lạm phát:
• Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, chỉ số lạm phát dưới
10%. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối. Trong thời kỳ
này, nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của người dân ổn định. Sự ổn
định đó được biểu hiện là giá cả tăng chậm, lãi suất tiền gửi và tiền vay không
tăng cao, không xảy ra tình trạng mua bán và tích trữ hàng hóa với số lượng
lớn…Có thể nói lạm phát vừa phải tạo tâm lý yên tâm cho người lao động chỉ
trông chờ vào thu nhập. Trong thời gian này các hãng kinh doanh có khoản thu
nhập ổn định, ít rủi ro.
• Lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với 2 hoặc 3 con số một
năm. Ở mức phi mã lạm phát làm cho giá cả tăng lên nhanh chóng, gây biến
động lớn về kinh tế. lúc này người dân tích trữ hàng hóa, vàng bạc và không
bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất thông thường. Loại này khi đã trở nên
vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng.
• Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm phát
phi mã, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng kinh khủng, giá cả tăng rất nhanh, tiền
lương thực tế giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, các yếu tố thị trường
biến dạng và hoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn.
1.1.1.1.2 Căn cứ vào định tính::
• Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng :
* Lạm phát cân bằng : Tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người lao
động ,tăng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp .Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao
động và dến nền kinh tế nói chung.
* Lạm phát không cân bằng :Tăng không tương ứng với thu nhập của người
lao động.Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra .

không những làm suy giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính mà còn
tác động trực tiếp đến đời sống chính trị ,văn hoá,xã hội và sinh hoạt bình
thường của người dân.Bằng chứng là cuộc khủng hoảng ở Đức xảy ra dữ dội
vào những năm đầu thế kỷ,ở các nước phát triển những năm 70 và mới đây là
ở Nga.Đặc biệt là hậu quả lạm phát rất trầm trọng ở các nước đang phát triển
với nền kinh tế chưa đủ sức hạn chế có hiệu quả sự lây lan của lạm
phát Những điều đó đòi hỏi mỗi quốc gia không chỉ riêng nước ta cần có
chính sách chống lạm phát để hạn chế bớt những thiệt hại do hiện tượng này
gây ra cho nền kinh tế.Vấn đề đặt ra một cách cấp thiết cần phải giải quyết khi
nghiên cứu lạm phát là lý giải xác đáng lạm phát xảy ra và diễn biến như thế
nào? và cần có những biện pháp gì để chống lạm phát.Nếu giải quyết tốt vấn
đề đó thì chúng ta mới có cơ sở vững chắc hợp logic để tiến tới thành công
trong việc phát triển kinh tế .
Ngày nay khi đánh giá trình độ tăng trưởng của nền kinh tế của một quốc
gia một trong những tiêu chuẩn đầu tiên người ta xét đến đó là tỉ lệ lạm phát
như thế nào?Điều đó cũng nói lên một phần mối quan hệ chặt chẽ giữa lạm
phát và tăng trưởng.Nếu tỉ lệ lạm phát đang ở mức thấp hoặc vừa phải điều
đó chứng tỏ nền kinh tế nước đó có sức mạnh điều tiết và quản lý kinh tế vĩ
mô có hiệu quả đã và đang tạo cơ hội thuận lợi để tăng trưởng.Xung quanh
lạm phát có rất nhiều nảy sinh như cách phòng và chữa căn bệnh lạm phát
như thế nào?Nguyên nhân gây ra lạm phát và có nên duy trì tỉ lệ lạm phát
thấp hay chấm dứt lạm phát.Từ đó gây ra nhiều cuộc bàn cãi,tranh luận
không chỉ giữa các nhà kinh tế mà còn xảy ra với các quốc gia,các tổ chức
tài chính quốc tế.Vởy hiểu lạm phát như thế nào?Có một câu hỏi nhưng rất
nhiề câu trả lời,tuy nhiên người ta vẫn thường công nhận lạm phát là sự tăng
lên của giá cả trung bình trong một thời kỳ “Sự tăng lên của giá” do có nhiều
nguyên nhân hoặc do các yếu tố chủ quan của các cấp quản lý kinh tế hoặc
do những đIều kiện chính trị,xã hội,thiên tai gây ra.Có thể giảI thích quy về
những cách đây:
1.Theo thuyết tiền tệ lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa mức cung tiền .

1.2.2.Các công cụ phản ánh
• Để phản ánh tăng trưởng kinh tế , các nhà kinh tế sử dụng số liệu về GDP –
một chỉ tiêu phản ánh tổng thu nhập của mọi người dân trong nền kinh tế .
• Để phản ánh rõ hơn về tăng trưởng kinh tế , người ta thiết lập mô hình tăng
trưởng kinh tế có tên là: “ mô hình solow “ . Mô hình solow chỉ ra ảnh hưởng của
tiết kiệm , tỷ lệ tăng dân số và tiến bộ công nghệ với sự tăng trưởng theo thời
gian của sản lượng . Mô hình còn xác định một vài nguyên nhân gây ra sự khác
biệt lớn về mức sống giữa các nước. Sự tăng trưởng kinh tế của các nước không
phải lúc nào cũng dương mà trong thời kì khủng hoảng , nền kinh tế suy thoái thì
mức tăng trưởng kinh tế sẽ đạt giá trị âm.
1.3.Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai mặt của xã hội , là hai vấn đề kinh tế
trong nền kinh tế . Lạm phát có thể coi là kẻ thù của tăng trưởng kinh tế nhưng nó
lại là hai vấn đề luôn tồn tại song song với nhau .
Trong thực tế , không một quốc gia nào dù phát triển đến đâu cũng không tránh
khỏi lạm phát . Bất cứ một nền kinh tế của quốc gia nào đều cũng đã trải qua các
cuộc khủnh hỏang kinh tế và tỷ lệ lạm phát tăng với những quy mô khác nhau .
Tỷ lệ lạmphát tăng cao sẽ đẩy giá cả hàng hoá chung tăng lên mà tiền lương danh
nghĩa của cáccông nhân không tăng do đó tiền lương thực tế của họ sẽ giảm đi.
Để tồn tại các công nhân sẽ tổ chức đấu tranh , bãi công đòi tăng lương và cho
sản xuất trì trệ , đình đốn khiến cho nền kinh tế gặp nhiều khó khăn , tốc độ tăng
trưởng kinh tế giảm.Khi nềnkinh tế găp khó khăn , suy thoái sẽ làm thâm hụt
ngân sách và đó là điều kiện , nguyênnhân gây ra lạm phát . Khi lạm phát tăng
cao gây ra siêu lạm phát làm đồng nội tệ rất nhanh , khi đó người dân sẽ ồ ạt bán
nội tệ để mua ngoại tệ . Tệ nạn tham nhũng tăng cao , nạn buôn lậu phát triển
mạnh , tình trạng đầu cơ trái phép tăng nhanh , trốn thuế và thuế khôngthu được
đã gây ra tình trạng nguồn thu của nhà nước bị tổn hại nặng nề càng làm cho
thâm hụt ngân sách trầm trọng dẫn đến tỷ lệ lạm phát cao.
Chương 2: Thực trạng lạm phát và mối quan hệ giữa lạm
phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay

một cách bất hợp lý so với giá quốc tế. Mặt hàng giá cả bị nhích lên do cơn
sốt xi măng, thép, xăng dầu và ngoại tệ.
- Thứ ba : cho đến nay, xương sống của nền kinh tế Việt Nam vẫn là
các doanh nghiệp. những doanh nghiệp này đóng góp 37% vào ngân sách
nhà nước. Việc làm ăn của nhiều công ty xuất nhập khẩu hàng năm nhà
nước phải bù lỗ, bù giá qua lớn chiếm gần 40% tổng số thu chi cho ngân
sách.
- Thứ tư : môi trường đầu tư chậm cải tiến, tích luỹ ở trong nước còn
ở mức thấp. Đầu tư nhũng công trình có vốn lớn, thời gian thi công kéo dài
qua sức chịu đựng của nền kinh té trong khi đó nguồn thu hạn hẹp, thất thu
lớn. Tình hình đó làm cho nguồn tài chính quốc gia bị thâm hụt, không còn
cách nào khác nhà nước buộc phải in tiền giấy bù đắp và đã gây ra lạm phát.
- Thứ năm : nguyên nhân từ cơ chế kinh tế độc quyền, cơ chế quan liêu bao
cấp nặng nề. Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động của nền kinh tế. Các
quan hệ tiền tệ không phát huy một cách đầy đủ tác dụng kích thích, thúc đẩy
nền kinh tế phát triển.
Cùng với những yếu kém của nền kinh tế, chúng ta còn đứng trước tác động
mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đang lan rộng trong khu vực.
2.1.1.2 Thời kỳ 1998-2008:
Bảng chỉ số lạm phát và tăng trưởng kinh tế từ năm 1998-2008:
Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Lạm
phát
5.8 4.8 6.8 6.8 7.0 7.3 7.6 8.5 8.17 8.5 6.36
Tăng
trưởng
9.2 4.2 -1.6 -0.4 4.0 4.3 7.8 8.4 6.6 8.8 19.89
Nguồn ADB
Thời kỳ 1999-2002: là thời kỳ lạm phát ở mức rất thấp thậm chí là thiểu phát.
Thời kỳ này tốc độ tăng trưởng cũng rất thấp. Năm 1998-1999 tốc độ tăng

Trên đây chúng ta xét đến yếu tố chi phí đẩy dù yếu tố này không giải thích
được hoàn toàn nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam. Trong thời gian qua,
cung tiền được mọi người xem là nguyên nhân căn bản gây nên lạm phát ở Việt
Nam, sau đây chúng ta xem xét yếu tố này.
Sau khi chính thức gia nhập WTO vào năm 2007, Việt Nam được cộng đồng
quốc tế đánh giá cao về tiềm năng phát triển. Vốn đầu tư nước ngoài đổ vào
Việt Nam tăng lên nhanh chóng. Năm 2007, vốn đầu tư trực tiếp (FDI) giải
ngân lên tới 8 tỷ USD, năm 2008 lên tới 11.7 tỷ USD, chiếm gần 1/3 lượng vốn
đầu tư trong nền kinh tế. Dòng vốn đầu tư gián tiếp (FPI) cũng tăng lên nhanh
chóng, trong năm 2007 ước tính có trên 7 tỷ USD từ dòng vốn gián tiếp đổ vào
Việt Nam. Vốn viện trợ phát triển (ODA) hàng năm Việt Nam nhận được
khoảng 2 tỷ USD (năm 2007 là 2 tỷ USD, 2008 2.2 tỷ USD). Kiều hối chuyển
về Việt Nam hàng năm từ 5-7 tỷ USD. Mặc dù, Việt Nam luôn bị thâm hụt
thương mại cao nhưng khoản thâm hụt này ít hơn các dòng tiền chuyển vào
Việt Nam dẫn đến cán cân tài khoản vãng lai vẫn thặng dư. Dự trữ ngoại tệ của
ngân hàng thương mại liên tục tăng cao (năm 2006 tăng 4.6 tỷ USD, năm 2007
tăng 10.6 tỷ USD, năm 2008 2.4 tỷ USD). Dự trữ ngoại tệ của NHNN tăng
đồng nghĩa với một lượng tiền tương ứng VND được bơm vào nền kinh tế, mặt
khác NHNN không thực hiện biện pháp Vô hiệu hóa lượng tiền bơm vào nền
kinh tế do vậy tiền trong nền kinh tế tăng lên.
Ngoài ra, năm 2006 và 2007 đánh dấu năm phát triển mạnh mẽ của hệ thống
ngân hàng, tăng trưởng tín dụng năm 2006 đạt 50.18%, năm 2007 đạt 49.1%.
Như vậy tăng trưởng tín dụng cao và dòng tiền mua ngoại tệ của NHNN đã làm
cho cung tiền tăng mạnh dẫn đến lạm phát.
c)Lạm phát do nguyên nhân tiền tệ trên thực tế
Lạm phát cao của Việt Nam trong thời gian qua được cho là nguyên nhân tiền tệ.
Thực tế quan sát biểu đồ hình dưới giữa tăng trưởng cung tiền và lạm phát không
có một mối quan hệ chặt với nhau rõ ràng. Các kiểm định thống kê cũng không
thấy có tương quan đáng tin cậy giữa tăng trưởng M2 và lạm phát.
Nguồn: WB và Vietstock dự báo

tiền. Khi xét trong một khoảng thời gian dài vòng quay tiền giữa các năm có thể
rất khác nhau đặc biệt là trong giai đoạn kinh tế có nhiều biến động. Đối với dữ
liệu tháng chúng ta có thể có một số lượng quan sát đủ lớn chỉ trong thời gian
ngắn, trong giai đoạn ngắn sự thay đổi vòng quay tiền rất nhỏ nên sự thay đổi
cung tiền sẽ phản ánh vào biến động giá trên thị trường.
d)Những yếu tố khác
Về mặt lý thuyết có rất nhiều yếu tố gây nên lạm phát, tùy từng giai đoạn mà
một nguyên nhân nào đó có thể đóng vai trò chính. Nhiều khi các nguyên
nhân có thể đan xen lẫn nhau rất khó tách các yếu một cách rạch ròi. Theo
quan điểm của chúng tôi một số nguyên nhân sâu xa gây nên lạm phát ở Việt
Nam đó là sự thiếu hiệu quả trong đầu tư, và tình trạng thâm hụt ngân sách
cao thường xuyên.
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ đầu tư/GDP cao nhất thế giới.
Trong những năm gần đây tỷ lệ đầu tư/GDP luôn lớn hơn 40% trong khi đó
tốc độ tăng trưởng chỉ đạt ở trung bình chưa đến 8%. ICOR của Việt Nam lớn
hơn 5 lần, cao hơn nhiều so với các nước Đông Á, và các quốc gia khác cùng
trình độ phát triển như Việt Nam hiện nay. Trong một nghiên cứu trước đây
của chúng tôi có tựa đề “Các vấn đề tăng trưởng kinh tế của Việt Nam” chúng
tôi đã nêu ra các nguyên nhân yếu kém trong cơ cấu nền kinh tế. Chính những
yếu kém này là những nguyên nhân sâu xa cho bất ổn vĩ mô và lạm phát cao.
Tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài trong nhiều năm qua, áp lực in tiền tài
trợ cho thâm hụt ngân sách cũng gây nên áp lực cho lạm phát. Ngoài ra, việc
kiểm soát giá hàng hóa và neo tỷ giá ngoại tệ một cách khá cứng nhắc cũng
gây ra những xáo trộn kéo dài cho nền kinh tế. Tỷ giá hay giá hàng hóa không
phản ánh giá thị trường do kiểm soát hoặc độc quyền đều ẩn chứa khả năng
lạm phát tiềm tàng trong tương lai.
2.1.2. Các tác động của lạm phát
2.1.2.1. Tác động đến lĩnh vực sản xuất :
Ở vị trí các nhà sản xuất ,khi tỷ lệ lạm phát cao sẽ làm cho giá đầu
vào và đầu ra biến động không ngừng gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình

cao ,muốn lãi suất thực ổn định thì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên cùng
với tỷ lệ lạm phát .
Trong khi đó người đi vay là những người có lợi lớn nhờ sự mất giá
đồng tiền nhanh chóng .Do vậy hoạt động của hệ thống Ngân hàng không
còn bình thường nữa. Chức năng kinh doanh tiềntệ bị hạn chế, không
cònnguyên vẹn bởi khi có lạm phátthì chẳng có ai tích trữ tiền mặt dưới hình
thức tiền mặt.
2.1.2.4. Tác động đến cán cân ngân sách – chính sách tài chính của nhà
nước :
Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hoá,
khi lạm phát xảy ra thì những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến động
của giá cả và làm cho thị trường bị rối loạn. Khi đó người ta khó phân biệt
được những doanh nghiệp làm ăn tốt và kém. Đồng thời làm cho nhà nước
thiếu vốn, các khoản thu cho ngân sách nhà nước không tăng. Do đó, nhà
nước không còn đủ sức cung cấp tiền cho các khoản dành cho phúc lợi xã
hội, các nghành, các lĩnh vực dự định được chính phủ đầu tư hỗ trợ vốn bị
thu hẹp lại hoặc không có gì. Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì
các mục tiêu cải thiện và nâng cao đời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều
kiện để thực hiện.
2.2 Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở VN.
Trong thời gian gần đây, một số nhà kinh tế Việt Nam cho rằng, tỷ lệ lạm phat
ở Việt Nam gần bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế la tốt cho sự phát triển kinhh
tế. Phải chăng đấy la mức lạm phat tối ưu cho tăng trưởng kinh tế?
Giữa tăng trưởng kinh tế va lạm phat thường có mối quan hệ nhất định. Tuy
nhiên mức độ gắn kết như thế nao vẫn là vấn đề tranh cãi. Một số nghiên cứu
theo lối kinh nghiệm cho thấy, lạm phát có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng
kinh tế khi nó vượt qua một ngưỡng nhất định. Mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế va lạm phát là phi tuyến tinh. Fischer (1993) là người đầu tiên nhiên cứu
vấn đề này với kết luận, khi lạm phát tăng ở mức độ thấp mối quan hệ này có thể
không tồn tại , hoặc thậm chí mang tính đồng biến, và lạm phát ở mức cao mối

trưởng kinh tế thực chất. Hiện nay, các nước phat triển chọn mức lạm phát gần
2% la mức tối ưu cho tăng trưởng. Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng, lạm phát ổn
định chỉ là điều kiện đủ cho tăng trưởng kinh tế, còn điều kiện cần cho tăng
trưởng phải là vấn đề của Chinh phủ trong việc phát triển nguồn lực, vốn và công
nghệ kỹ thuật
Chương 3 : Giải pháp kiểm soát lạm phát ở VN hiện
nay:
3.1 Định hướng về lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới:
Đối với Việt Nam mức lạm phat nao la tối ưu cho tăng trưởng kinh tế?
Cac ngưỡng cung với cac phan tich neu tren co thể cung cấp một mức chuẩn cho
Việt Nam, với một thực tế rằng, cac doanh nghiệp Việt Nam va người tieu dung
khong thich một mức lạm phat cao va khong ổn định. Mức lạm phat chuẩn của
Việt Nam co thể gần với mức lạm phat của cac nước Đong nam Á. Nghiên cứu
bước đầu của IFM(2006) về mức độ lạm phat ở Việt Nam với các nước Đông
Nam Á cũng đã chỉ ra răng , mức lạm lạm phát tối ưu cho tăng trưởng kinh tế ở
cac nước vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam khoảng 3.6%.
Một thực tế rằng, các kết quả nghien cứu về ngưỡng lạm phát tốt cho tăng trưởng
đều không đưa ra với mức tăng trưởng kinh tế là bao nhiêu. Đây là câu hỏi quan
trọng cho Việt Nam, bởi vì lạm phát mục tiêu được đưa ra trong mối quan hệ với
tăng trưởng kinh tế.
3.2 Giải pháp kiểm soát lạm phát ở VN hiện nay:
3.2.1. Giải pháp tình thế
Những biện pháp này được áp dụng với mục tiêu giảm tức thời “cơn sốt lạm
phát” trên cơ sở đó sẽ áp dụng các biện pháp ổn định tiền tệ lâu dài . Các biện
pháp này thường được áp dụng khi nền kinh tế lâm vào tình trạng siêu lạm phát.
Thứ nhất :các biện pháp tình thế thường được chính phủ các nước áp dụng ,
trước hết là giảm lượng tiền giấy trong nền kinh tế như ngừng phát hành tiền vào
lưu thông .Biện pháp này còn gọi là chính sách đóng băng tiền tệ . Tỷ lệ lạm phát
tăng cao ngay lập tức ngân hàng trung ương phải dừng các biện pháp có thể đưa
đến tăng cung ứng tiền tệ như ngừng thực hiện các nghiệp vụ triết khấu và tái

Thực hiện tốt biện pháp này sẽ góp phần to lớn vào việc giảm chi tiêu thường
xuyên của ngân sách do đó giảm bội chi ngân sách nhà nước .
Thứ ba : tăng cường công tác quản lý điều hành ngân sách nhà nước trên cơ sở
tăng các khoản thu cho ngân sách một các hợp lý , chống thất thu , đặc biệt là thất
thu về thuế , nâng cao hiệu quả của các khoản chi ngân sách nhà nước .
3.2.3. Các biện pháp chủ yếu chống lạm phát ở Việt Nam
Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế đạt mục tiêu dân
giầu nước mạnh xã hội công bằng văn minh. Thực hiện mục tiêu công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, vấn đề chống lạm phát cần được bảo
đảm và luôn duy trì ở mức hợp lý. Trong những năm gần đây, cuộc đấu tranh
kiềm chế và đẩy lùi lạm phát tuy đã thu được kết quả nhất định, nhưng kết quả
chưa thật vững chắc và nguy cơ tái lạm phát cao vẫn còn tiềm ẩn. Do đó kiềm
chế và kiểm soát lạm phátvẫn là một nhiệm vụ quan trọng. Để kiềm chế và
kiểm soát có hiệu quả, cần áp dụng tổng thể các giải pháp: đây mạnh phát triển
sản xuất, giảm chi phí sản xuất và lưu thông, triệt để tiết kiệm trong chi tiêu,
tăng nhanh nguồn vốn dự trữ, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế nhằm
bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế theo dự kiến, đồng thời phải đẩy mạnh cơ
chế quản lý kinh tế phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước,
làm cho các yếu tố tích cực của thị trường ngày càng được hoàn thiện và phát
triển. Vậy để thực hiện chống lạm phát chúng ta có những chủ trương và giải
pháp sau:
3.2.3.1.Tập chung mọi nguồn lực, nâng cao năng suất lao động, triệt để
tiết
kiệm, giảm chi phí sản xuất để đẩy mạnh sản xuất. Thủ tướng chính phủ đã giao
cho bộ kế hoạch và đầu tư phối hợp với các Bộ các ngành có liên quan nghiên
cứu bổ sung hoàn thiện các cơ ché chính sách chung về quản lý kinh tế, bảo
đảm các cân đối lớn cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững;
tập chung mọi nguồn lực nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất với hiệu quả
ngày càng cao; giữ vững chấn chỉnh hệ thống doanh nghiệp Nhà nước để
hoạt động có hiệu quả hơn, sắp xếp tốt mạng lưới lưu thông hàng hoá, xây

d). Bên cạnh các công cụ điều hành chính sách tiền tệ trực tiếp, cần áp
dụng thành các chuyển gián tiếp để điều hành lãi suất thị trường, điều hoà
lưu thông tiền tệ, mở rộng việc thanh toán. Ngân hàng nhà nước theo dõi
kiểm tra tại các ngân hàng thương mại việc giảm lãi suất cho vay so với hiện
nay để có phương án giảm tiếp lãi suất cho vay kích thích đầu tư.
3.2.3.3.Các biện pháp về ngân sách nhà nước.
a. ) Phấn đấu tăng thu, thực hiện triệt để tiết kiệm chi nhằm giảm bội
chi ngân sách nhà nước, tăng dự trữ tài chính bảo đảm cân đối ngân sách nhà
nước vững chắc, lành mạnh là biện pháp cơ bản để góp phần kiềm chế lạm
phát. Các ngành, các cấp phải có việc chỉ đạo thu, chi ngân sách là nhiệm vụ
trọng tâm của mình.
b) Đi đôi với việc nghiên cứu chính sách thuế. Bọ tài chính, Tỏng cục
hải quan và uỷ ban nhân dân các cấp cần tăng cường công tác quản lý thu và
chống thất thu thuế, bảo đảm thu đúng, thu đủ theo quy định của pháp luật.
Phối hợp với các nghành các cấp quản lý chặt chẽ đối tượng nộp thuế, đấu
tranh chống buôn lậu và kinh doanh trái pháp luật, khai man doanh số và
chầy ỳ trong việc nộp thuế. Tổ chức thanh tra và kiêmt tra việc thu thuế, cải
tiến thủ tục nộp thuế, tránh phiền hà cho người nộp thuế.
c) Các Bộ ngành dịa phương và đơn vị cơ sở thực hiện nghiêm túc chỉ
thi của Ban Bí thư, Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện tiết kiêm, chống
lãng phí, chốngtham nhũng, chống buôn lậu, tổ chức sử dụng vốn ngân sách
Nhà nước đúng mục đích, có hiệu quả và phải chiu trách nhiệm đối với
khoản chi sai chế độ làm thất thoát tài sản và những khoản chi lãng phí, phô
trương hình thức.
d) Tiếp tục sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao
năng suất lao động, chống thất thoát, lãng phí vồn tài sản Nhà nước. Bộ tài
chính khẩ chương hoàn thành đề án đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp
nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ, triển khai rộng rãi chế độ kế toán mới
trong các doanh nghiệp, tăng cường kiểm tra, hướng dẫn để đưa hoạt động
tài chính của doanh nghiệp đi vào nề nếp, đúng chế độ.

và cân đối cung cầu hàng hoá ở trong nước. Chấn chỉnh tình trạng xuất nhập
khẩu bằng việc sắp xếp đầu mối xuất nhập khẩu hợp lý, nhất là xuất khẩu
lương thực. Tổ chức việc mua hàng hoá xuất khẩu có trật tự, ngăn chặn tình
trạng tranh mua hàng xuất khẩu đẩy giá lên. Nghiên cứu hình thành quỹ hỗ
trợ xuất nhập khẩu để có nguồn sử lý những rủi ro trong kinh doanh.
d) Để ngăn chặn ngay từ đầu những dấu hiệu dẫn đến phát sinh biến đổi
giá. Ban vật giá Chính Phủ phải theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường, nắm
bắt kịp thời những thông tin về tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu, lưu thông
hàng hoá, tiền tệ trên thị trường, từ đó đề xuất với Thủ tướng Chính Phủ
những biện pháp bình ổn giá cả, giúp các Bộ ngành quản lý sản xuất, kinh
doanh, hình thành các mức giá cụ thể theo định hướng của Nhà nước.
Để chặn đứng tình trạng giá cả tăng cao thường diễn ra vào những tháng
đầu năm, các Bộ ngành cần nghiêm chỉnh chấp hành những yêu cầu của Thủ
tướng Chính phủ. Bộ lao động thương binh xã hội chủ trì phối hợp với các Bộ
ngành có liên quan tổ chức tiền lương, năng suất lao động chi phí sản xuất, lưu
thông và viẹc hình thành giá ở một số đơn vị sản xuất, kinh doanh các lạo hàng
hoá đại diện cho các ngành kinh tế quốc dân để đề suất chính sách và biện phát
giải quyết tiền lương gắn với năng suất lao động đối với khu vực sản xuất kinh
doanh.
3.2.3.5.Về chỉ dạo điều hành:
a) Bộ Kế hoạch vf đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, Ngâ hàng
Nhà nước, Bộ thương mại, ban vật giá chính phủ, Tổng cục hải quan, Tổng
cục thống kê tổ chức giao bạn định kỳ hàng tháng để nắm chắc diễn biến
tình hình vận động của hàng hoá, thị trường, tiền tệ, tình hình cân đối hàng
tiền qua đó phát hiện những khâu yếu phát sinh trong công tác điều hành và
đề xuất với Chính phủ các biện pháp sử lý kịp thời.
b) Tổ tư vấn giá cả do Trưởng ban Vật giá Chính phủ làm tổ trưởng cần
nắm bắt thông tin về diễn biến giá cả trong nước, ngoài nước chính xác kịp
thời, phát hiện những vấn đề vướng mắc trong điều hành hàng hoá và thông
báo tình hình đến các Bộ các ngành liên quan để xử lý.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status