KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
BỘ MÔN HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ
LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Giáo viên hướng dẫn : Trương Tuấn Linh.
Sinh viên thực hiện : Tạ Thị Phương Huế
Vũ Thị Thanh Tâm
Nguyễn Thị Kim Tuyến
Cao Hồng Thúy
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Nguyễn Thị Như Quỳnh
Triệu Mai Hường
Trần Đức Hồng
Mai Thị Lý
Thái Nguyên, tháng 11, năm 2009
I - LỜI NÓI ĐẦU
Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai vấn đề cơ bản và lớn trong kinh tế vĩ
mô. Sự tác động qua lại của tăng trưởng kinh tế và lạm phát hết sức phức tạp và
không phải lúc nào cũng tuân theo những qui tắc kinh tế .
Do vậy vấn đề lạm phát và ảnh hưởng của lạm phát tới tăng trưởng kinh tế là
một đề tài rất hấp dẫn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội
nhập và phát triển kinh tế hiện nay vấn đề này càng trở nên cần thiết. Nó không
những là một tiêu thức kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị nữa.
Việc xác định mối quan hệ g i ữ a tăng trưởng kinh tế và lạm phát đã và đang
thu hút sự chú ý của nhiều nhà kinh tế.
Chính vì những tác hại to lớn do lạm phát gây ra cho nền kinh tế mà việc nghiên
cứu lạm phát là một vấn đề cần thiết và cấp bách đối với nền kinh tế đặc biệt là nền
kinh tế thị trường còn non nớt như nền kinh tế ở nước ta. Chúng ta cần phải tìm hiểu
xem lạm phát lá gì ? Do đâu mà có lạm phát ? Tại sao người ta lại quan tâm đến lạm
phát?
Bài viết này sẽ nêu lên một cách có hệ thống các lý thuyết, các bằng chứng thực
nghiệm về lạm phát và mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, thực tại
mức cho phép thì nó dẫn đến lạm phát, đồng tiền bị mất giá so với tất cả các loại
hàng hoá khác.
1.2. Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
- Lạm phát được coi là một hiện tượng tất yếu của các nền kinh tế đang tăng
trưởng trong khi phải đối phó với những mất cân đối mang tính cơ cấu. Các nhà cơ
cấu tin rằng giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ đánh đổi lẫn nhau.
Những lỗ lực nhằm kiềm chế lạm phát có xu hướng làm tăng thất nghiệp và gây ra
tình trạng đình trệ sản xuất, và do đó bất lợi cho tăng trưởng kinh tế. Một xã hội
dành ưu tiên cho tăng trưởng thì phải chấp nhận lạm phát đi kèm với nó.
1.3. Nguyên nhân gây lạm phát
Cung ứng tiền tệ và lạm phát
Chi tiêu công ăn việc làm cao và lạm phát
Thâm hụt ngân sách và lạm phát
Lạm phát theo tỷ giá hối đoái
1.4. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát thường có mối quan hệ nhất định. Lạm
phát và tăng trưởng kinh tế là hai mặt của xã hội, là hai vấn đề kinh tế trong nền kinh
tế. Giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát có mối quan hệ “chế ước” lẫn nhau. Lạm
phát có thể coi là kẻ thù của tăng trưởng kinh tế nhưng nó lại là hai vấn đề luôn tồn
tại song song với nhau. Tuy nhiên mức độ gắn kết giữa lạm phát và tăng trưởng kinh
tế như thế nào vẫn là vấn đề tranh cãi. Một số nghiên cứu theo lối kinh nghiệm cho
thấy, lạm phát có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế khi nó vượt qua một
ngưỡng nhất định. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát là phi tuyến tính.
(
Lạm phát chỉ tác động tiêu cực lên tăng trưởng khi đạt ngưỡng nhất định nào đó
(threshold).
Ở mức dưới ngưỡng, lạm không nhất thiết tác động tiêu cực lên tăng trưởng,
thậm chí có thể tác động dương như lý thuyết Kyenes đề cập)
Fischer (1993) là người đầu tiên nhiên cứu vấn đề này với kết luận, khi lạm phát
trưởng. Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng, lạm phát ổn định chỉ là điều kiện đủ cho tăng
trưởng kinh tế, còn điều kiện cần cho tăng trưởng phải là vấn đề của Chính phủ trong
việc phát triển nguồn lực, vốn và công nghệ kỹ thuật.....
Trong thực tế, không một quốc gia nào dù phát triển đến đâu cũng không
tránh khỏi lạm phát. Bất cứ một nền kinh tế của quốc gia nào đều cũng đã trải qua các
cuộc khủnh hoảng kinh tế và tỷ lệ lạm phát tăng với những quy mô khác nhau. Tỷ lệ
lạm phát tăng cao sẽ đẩy giá cả hàng hoá chung tăng lên mà tiền lương danh nghĩa của
các công nhân không tăng do đó tiền lương thực tế của họ sẽ giảm đi. Để tồn tại các
công nhân sẽ tổ chức đấu tranh, bãi công đòi tăng lương và cho sản xuất trì trệ, đình
đốn khiến cho nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm.Khi
nền kinh tế găp khó khăn, suy thoái sẽ làm thâm hụt ngân sách và đó là điều kiện ,
nguyên nhân gây ra lạm phát .
Khi lạm phát tăng cao gây ra siêu lạm phát làm đồng nội tệ g iả m rất
nhanh, khi đó người dân sẽ ồ ạt bán nội tệ để mua ngoại tệ. Tệ nạn tham nhũng tăng
cao, nạn buôn lậu phát triển mạnh, tình trạng đầu cơ trái phép tăng nhanh, trốn thuế
và thuế không thu được đã gây ra tình trạng nguồn thu của nhà nước bị tổn hại
2. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế đối với nước ta và một số nước tư bản
2.1. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế đối với nước ta
1. Giai đoạn từ năm 1976 -1980:
Là giai đoạn được coi là không có lạm phát theo quan niệm kinh tế chính trị
phổ biến trong các nước xã hội chủ nghĩa đương thời và không được phản ánh
trong các thống kê chính thức .Tuy nhiên, trên thực tế ở việt nam khi đó vẵn có lạm
phát, thể hiện ỏ sự khan hiếm hàng hoá ,dịch vụ và sự giảm sút của chúng, đồng
thời được hi nhận trong sự diễn biến gia tăng giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu
dùng trên thị trường xã hội trên dưới 20% trên một năm và đó là lạm phát của nền
kinh tế kém phát triển và đang trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế , nơi độc quyền nhà
nước còn mang đậm tính chất phi kinh tế và được dung dưỡng bởi các chỉ thị của nhà
nước và tồn tại thống trị phổ biến trong tất cả các lĩnh vực. Vào thời kỳ này khu vực
kinh tế nhà nước chiếm khoảng 85 - 87% vốn cố định, 95% lao động lành nghề mà
chỉ tạo ra 30 – 37% tổng sản phẩm xã hội. Trong khi đó khu vực kinh tế tư nhân chỉ
đổi mới và phát triển kinh tế ở Việt Nam. Trong khi lạm phát được kéo xuống thì kinh
tế vẫn tăng trưởng cao và khá ổn định, bình quân hàng năm tăng 7 – 8%.
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát (tỷ lệ %)
Năm 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995
Tăng trưởng 5,1 8,0 5,1 6,0 8,6 8,1 8,8 9,5
Lạm phát 410,9 34,8 67,2 67,4 17,2 5,2 14,4 12,7
Công cuộc chống lạm phát ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào những vấn đề:
Nối lỏng cơ chế kiểm soát giá cả, phi tập trung hóa tiến trình ra các quyết định về
kinh tế, thống nhất điều hành tỷ giá theo quan hệ cung cầu ngoại tệ, khuyến khích
xuất khẩu đồng thời thi hành một chính sách lãi suất thực dương, kết hợp thắt chặt
đúng mức việc cung ứng tiền trung ương. Các giải pháp lúc đầu được tiếp nối với sử
dụng từng bước có hiệu quả các công cụ tài chính đã nhanh chóng đem lại nhiều
thành quả đáng khích lệ trong điều kiện kiểm soát được lạm phát. Cụ thể:
- Lòng tin của dân chúng vào đồng tiền Việt Nam đã từng bước được khôi phục. Tiền
tệ ổn định khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài tăng nhanh. Tích lũy đầu tư
của cả nước năm 1993 bằng 17,6% GDP, tăng đáng kể so với tỷ lệ tích lũy 11 – 12%
những năm trước.
- Ta có bảng số liệu sau:
Năm
GDP/ngườ
i
(Tr
đồng)
Tốc
độ
tăng
GDP
(%)
Tốc
15,0
17,6
7,2
-
-
6,9
Tổng cục thống kê 1994
- Trong tổng số tích lũy năm 1993, tích lũy Nhà nước chiếm 43%, đầu tư trực tiếp nước
ngoài 40%. Tỷ lệ đầu tư nước ngoài này tương đương tỷ lệ đầu tư nước ngoài vào
Singapo một nền kinh tế được coi là mở cửa rộng nhất ở Châu Á hiện nay.
- Tỷ lệ tiền để dành của cả nền kinh tế trên GDP năm 1992 là 6,9%, năm 1993 là 15%
GDP. Đây là một bước ngoặt lớn về tích lũy so với trước đây.
- Năm 1989, khi các cơ sở sản xuất nông nghiệp được phi tập trung hóa và giá nông
sản được thả nổi, cùng với tác động của các yếu tố khác, chỉ trong vòng 1 năm Việt Nam
đã từ chỗ phải nhập khẩu gạo đã trở thành một nước xuất khẩu gạo, thu nhập của nông
dân tăng lên.
Mức độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong năm qua có được là nhờ kinh tế
tăng trưởng cao trong khi lạm phát bị đẩy lùi và bị khống chế ở mức hợp lý. Điều
này trái ngược hẳn với một số quốc gia khi chống lạm
phát thường làm kinh tế suy
thoái.
Bê n cạnh những thành tựu đạt được cũng nảy sinh nhiều khó khăn mới:
Lạm phát giảm trong điều kiện nhập siêu vốn nước ngoài (chủ yếu là vay nợ) đã làm
cho đồng tiền Việt Nam có xu hướng lên giá so với một số đồng tiền khác, ảnh
hưởng bất lợi đến việc khuyến khích đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư trực
tiếp của nước ngoài trong khi đó sản xuất trong nước bị chèn ép, cạnh tranh mảnh bời
hàng nhập đặc biệt là hàng nhập lậu. Năm 1992 tỷ lệ hàng tích lũy phải nhập lên tới
63,7%, tỷ lệ sản phẩm trung gian dùng trong sản xuất phải nhập lên tới 25%. Cán cân
thương mại do đó tiếp tục thâm hụt trong điều kiện đó việc tăng trưởng kinh tế cao
hơn sẽ kích thích lạm phát gia tăng, gây khó khăn cho việc duy trì thành quả
các nhà phân tích đã dự đoán rằng chỉ số giá tiêu dùng sẽ tăng 0,7% và chỉ số giá cơ bản sẽ tăng
0,2%.
Mức tăng Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hàng tháng vừa được Bộ Lao động Mỹ đưa ra này là
cao nhất kể từ tháng 6/1982, trong khi chỉ số lạm phát cơ bản cũng tăng mạnh nhất kể từ tháng
1/2008. Lạm phát tại Mỹ đã gia tăng kể từ tháng 5 khi mà chỉ số CPI tăng 0,6% và chỉ số cơ bản
tăng 0,2%
So với 12 tháng trước, chỉ số CPI đã tăng 5% trong tháng 6/2008, mức tăng cao nhất hàng
năm kể từ tháng 5/1991. Chỉ số CPI cơ bản cũng cao hơn so với hồi tháng 6/2007 đến 2,4%, mức
tăng mạnh nhất kể từ tháng 3/2008.
.
Theo Bộ Lao động Mỹ, giá năng lượng chiếm "đến khoảng 2/3" mức tăng của chỉ số lạm
phát tổng thể, tăng 6,6% trong tháng 6, sau khi đã tăng 4,4% trong tháng 5 và giá lương thực
cũng tăng 0,8%.
Sau hơn một năm, kinh tế Mỹ tăng trưởng trở lại(2009)
Dữ liệu thống kê chính thức cho thấy, kinh tế Mỹ đã tăng trưởng 3,5% trong quý ba – đây là sự
gia tăng đầu tiên của nước này trong hơn một năm qua.
Kinh tế Mỹ tăng trưởng trở lại, nhưng tỉ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao (Ảnh AP)
Tăng trưởng kinh tế trong quý ba cho thấy, Mỹ dường như đã thoát khỏi cuộc suy thoái tồi tệ xảy
ra từ tháng 12/2007.
Nhà phân tích kinh tế Hugh Pym cho hay, mức 3,5% cao hơn dự đoán 3,3% của hầu hết nhà bình
luận. “Đây là tin tức tốt với kinh tế toàn cầu”,
Theo thống kê mà Bộ Thương mại Mỹ đưa ra, một số lĩnh vực đã góp phần vào tăng trưởng kinh
tế trong quý ba. Tiêu dùng vào các sản phẩm sản xuất lâu bền tăng tới 22,3% - mức tăng cao nhất
trong quý kể từ 2001.
Thị trường nhà đất cũng được cải thiện, chi tiêu cho sản phẩm nhà đất tăng 23,4% - mức tăng
quý lớn nhất trong 23 năm qua. Tổng mức tiêu dùng chính phủ tăng 7,9%. Ngoài ra, xuất khẩu
cũng tăng tới 21,4% 0 mức cao nhất kể từ 1996.