công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở nước ta thực trạng và giải pháp - Pdf 20

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời giới thiệu
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là một chủ trơng lớn của Đảng
và Nhà nớc ta, nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo công ăn việc làm, tăng thu
nhập cho dân c nông thôn tạo tiền đề để giải quyết hàng loạt các vấn đề chính
trị - xã hội của đất nớc, đa nông thôn nớc ta tiến lên văn minh hiện đại.
Đại hội Đảng lần thứ VIII đã xác định phải "đặc biệt coi trọng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn" Trong những năm gần đây
nhờ có "đổi mới" nông nghiệp nớc ta đã đạt đợc những thành tựu đáng khích lệ.
Tuy vậy nông nghiệp hiện nay vẫn đang đứng trớc những thách thức to lớn, có
nhiều vấn đề về sản xuất và đời sống của nông dân đang nổi lên gay gắt. Do vậy
đẩy nhanh tiến độ thực hiện chủ trơng này của Đảng và Nhà nớc là nhu cầu rất cấp
thiết.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là một quá trình lâu dài, cần đ-
ợc tiến hành theo cách tuần tự, không nóng vội, không thể tuỳ tiện. Quá trình
này đợc thực hiện không nhằm mục đích tự thân, mà phục vụ các mục tiêu kinh
tế xã hội của nông thôn cũng nh của cả nớc. Vì vậy nếu ta không nhìn nhận và
phân tích một cách sâu sắc quá trình chuyển đổi và phát triển của nền nông
nghiệp hiện nay thì sẽ khó có thể tìm ra những giải pháp vi mô cũng nh vĩ mô
đúng và phát huy đợc hiệu quả trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá
nền nông nghiệp của đất nớc.
Xuất phát từ thực tế cấp bách đó, với vốn kiến thức đã đợc truyền thụ,
cùng với sự hớng dẫn nhiệt tình của thầy, cô giáo. Tôi mạnh dạn nghiên cứu đề
tài "Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở nớc ta thực
trạng và giải pháp" đề tài nghiên cứu nội dung sau:
Phần: I. Một số vấn đề lý luận chung về CNH - HĐH nông nghiệp.
II. Thực trạng của quá trình CNH - HĐH nông nghiệp Việt Nam
hiện nay.
III. Giải pháp phát triển nông nghiệp Việt Nam trong quá trình
CNH - HĐH.
Với kiến thức đã đợc học tập và thời gian tiếp xúc với thực tế ít, nên tôi

trình kỹ thuật nông nghiệp.
Nh vậy công nghiệp hoá nông nghiệp còn bao hàm cả việc tạo sự gắn bó
chặt chẽ giữa phơng thức sản xuất công nghiệp với sản xuất nông nghiệp nhằm
khai thác triệt để lợi thế của nông nghiệp nâng cao hàm lợng chế biến sản phẩm
của nông nghiệp để tăng giá trị của chúng, mở rộng thị trờng cho chúng.
Còn hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình không ngừng nâng cao trình độ
khoa học - kỹ thuật - công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất và quản lý sản xuất
nông nghiệp. Đây là quá trình cần đợc thực hiện một cách liên tục vì luôn có
những tiến bộ kỹ thuật mới xuất hiện và đợc ứng dụng trong sản xuất.
2.Tính tất yếu khách quan phải thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp.
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
a. Vì sao phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp?
Xuất phát từ nền kinh tế nớc ta là một nền kinh tế nông nghiệp phổ biến
sản xuất nhỏ, lạc hậu và đang ở trình độ thấp, đó là cơ sở vật chất, kỹ thuật còn
lạc hậu, lao động xã hội đại bộ phận tập trung trong nông nghiệp, sản xuất nông
nghiệp còn mang nặng tính tự cấp, tự túc và thu nhập của nông dân thấ, đời
sống mọi mặt của họ còn hết sức khó khăn. trong khi đó đến nay nhiều nớc trên
thế giới đã có nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao, mọi hoạt động sản xuất
nông nghiệp đã đợc cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, hoá học hoá. Nhờ
đó năng suất ruộng đất, năng xuất lao động của họ đạt rất cao, tạo sự phân công
lao động sâu sắc trong nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Mặt khác do yêu cầu về phát triển kinh tế xã hội của đất nớc, nhu cầu về
nâng cao đời sống con ngời đó là xã hội càng phát triển, đời sống con ngời càng
đợc nâng cao thì nhu cầu của con ngời về lơng thực và thực phẩm cũng ngày
càng tăng cả về số lợng, chất lợng và chủng loại. Nh vậy chỉ có một nền nông
nghiệp phát triển ở trình độ cao mới hy vọng đáp ứng đợc nhu cầu tăng lên th-
ờng xuyên đó.
Xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, trớc hết là quá trình quốc tế hoá, khu vực
hoá các quan hệ kinh tế thế giới, các hoạt động sản xuất thơng mại, trao đổi

vào nguồn tài trợ của nhà nớc, không thể cố gắng "xin" của nhà nớc càng nhiều
càng tốt nh trớc kia. Hơn nữa, các khoản hỗ trợ của nhà nớc cũng phải đợc tính
toán, quyết định trên cơ sở hiệu quả cụ thể, rõ ràng cuối cùng của mỗi dự án.
Nh vậy, các dự án thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá không thể không gắn
với lợi ích của các chủ thể có liên quan tới việc thực hiện nó. Tuy nhiên công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp không chỉ là sự nghiệp của riêng dân c
nông thôn và nhà nớc, mà mỗi ngành đều có trách nhiệm nhận thức rõ sự cần
thiết của nó để có các chơng trình hành động cụ thể, thích hợp. Họ cần nhận
thức rõ rằng tham gia thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
không phải là để "giúp nông thôn phát triển" mà cũng chính là vì lợi ích của họ.
Chơng trình phục vụ công nghiệp hoá nông nghiệp của mỗi ngành, mỗi đơn vị
phải phù hợp với khả năng của ngành, đơn vị, phải phục vụ những nhu cầu cụ
thể của nông nghiệp và nông thôn, đồng thời cố gắng có những địa chỉ áp dụng
thu hởng cụ thể. Chẳng hạn, các viện nghiên cứu, thiết kế và sản xuất đa ra các
thiết bị phục vụ nông nghiệp (làm đất, chăm sóc hoa màu, thu hoạch, bảo quản,
chế biến nông sản). Các cơ quan nghiên cứu, chuyển giao công nghệ có thể
nghiên cứu, ứng dụng, giới thiệu, chuyển giao các công nghệ mới, kể cả công
nghệ sinh học, cây con, công nghệ chế biến, bảo quản nông sản... và thực hiện
các dịch vụ kỹ thuật - công nghệ phục vụ nông thôn. Các cơ sở đào tạo các cấp
cũng có thể tham gia vào quá trình này vừa bằng cách đào tạo nguồn nhân lực
thích hợp cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp vừa hoạt động nh một
cơ sở t vấn, phổ biến kiến thức về các lĩnh vực có liên quan tới công nghiệp hoá,
hiện đại hoá thuộc chuyên ngành của mình...
Nhà nớc, với chức năng điều phối các hoạt động của toàn xã hội, cần tăng
cờng hơn nữa các hoạt động riêng rẽ của các ngành, các địa phơng, biến các ch-
ơng trình mục tiêu riêng rẽ thành chơng trình mục tiêu liên ngành, đồng bộ, h-
ớng tới những kết quả thiết thựuc cuối cùng, có khả năng giải quyết vấn đề một
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cách bền vững, tránh sự mất cân đối không cần thiết. Chẳng hạn trong thời gian

1985. đặc biệt máy kéo nhỏ thích hợp với quy mô hộ gia đình tăng rất nhanh, từ
17880 cái với 19,60 nghìn CV năm 1990 tăng lên 71208 cái với công suất
810027 CV năm 1995 và 83.289 cái với công suất hơn 863 nghìn CV năm
1997, đặc biệt là ở Tây nguyên nơi sản xuất tập trung cây công nghiệp dài ngày
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nh cà phê, cao su và là vùng còn nhiều tiềm năng về đất khai hoang phục hoá
nên số máy nông nghiệp năm 1997 so với năm 1992 tăng 6,2 lần. ở đồng bằng
Sông Cửu Long đến năm 1997 có gần 38 nghìn máy kéo các loại, chủ yếu là
máy kéo lớn, gấp gần 2 lần năm 1992. Các vùng khác, các loại máy công tác
cũng tăng nhanh, nhất là máy bơm nớc với năm 1994 là 537809 cái, đến năm
1997 tăng 583.159 cái. Theo số liệu thống kê năm 1997 thì số lợng máy tuốt lúa
là 190.680 cái, máy nghiền thức ăn gia súc là 20.741 cái, xe reo 914 cái...
Nhờ có số lợng máy móc tăng nhanh nên nhiều công việc nặng nhọc trong
nông nghiệp đã đợc cơ giới hoá. Tỷ lệ cơ giới hoá làm đất trong nông nghiệp từ
21% năm 1990 đã tăng lên 26% năm 1995 và khoảng 27% năm 1997, trong đó
vùng đồng bằng sông Cửu Long 80%, nhiều tỉnh trên 80% nh An giang, Đồng
tháp.v.v...
Công việc cơ giới hoá vận chuyển trong nông nghiệp cũng có nhiều khởi
sắc. Trong nông thôn hiện nay có 22.000 ô tô các loại (không kể máy kéo và
các loại xe công nông) trong đó có hơn 15.000 xe tải (90% là của hộ gia đình
nông dân) tăng gấp 2 lần năm 1990. Các khâu công việc khác nh xay xát lúa
gạo, chế biến thức ăn gia súc, ca xẻ gỗ, cũng đợc từng bớc cơ giới hoá cùng với
sự phát triển của nguồn điện lực quốc gia. Tuy nhiên, khó khăn của cơ giới hoá
nông nghiệp Việt Nam hiện nay là quy mô ruộng đất vốn nhỏ bé (nhất là ở miền
Bắc và miền Trung) lại bị phân chia cho quá nhiều chủ ruộng, nên máy kéo, xe
vận tải và máy nông nghiệp khó phát huy tác dụng, chi phí cao, hiệu quả thấp.
Có thể nói, vấn đề cơ giới hoá nông nghiệp ở nớc ta hiện nay vẫn đang
trong tình trạng mâu thuẫn giữa yêu cầu của hiện đại hoá với lực lợng lao động
d thừa ở nông thôn. Nếu không sớm giải quyết đợc mâu thuẫn này thì dù chủ tr-

nớc ngọt để ém phèn, đa giống mới vào, năm 1996 sản xuất đợc 1,3 triệu tấn lúa
và trở thành vùng lúa hàng hoá lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long.
ở Đông Nam Bộ vốn là vùng khô cằn thiếu nớc ngọt trớc đây, sau 22 năm
giải phóng, nhà nớc và nhân dân đã xây dựng đợc 103 công trình thuỷ lợi trong
đó có 486 công trình độc lập công xuất tới 200 ngàn ha, nhiều nhất là Tây Ninh,
175 ngàn ha nhờ hồ Dầu tiếng. Với diện tích mặt hồ 27000 ha. Chứa 1,6 tỷ m
3
nớc ngọt, cộng với tuyến kênh mới Tân Hng có khả năng cung cấp đủ nớc tới
cho 172 ha đất trồng trọt thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Dơng, Bình Phớc, Long
An, thành phố Hồ Chí Minh và cung cấp hàng triệu m
3
nớc ngọt cho công
nghiệp chế biến nông sản.
Các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên bằng việc phát triển thuỷ điện
nhỏ, chủ yếu là xây dựng các hồ, đập chứa nớc kết hợp với các công trình tự
chảy đã giảm bớt đáng kể về khó khăn trong việc cung cấp nớc cho sản xuất
nông nghiệp và phục vụ đời sống, đồng bào các dân tộc miền núi trong mùa
khô.
Tuy nhiên sovới yêu cầu thâm canh, tăng vụ và đa dạng hoá cây trồng, vật
nuôi thì thực trạng thuỷ lợi hoá hiện nay ở nớc ta còn nhiều bất cập. Chất lợng
các công trình thuỷ lợi còn thấp, khả năng tới tiêu của thuỷ lợi mới đáp ứng đợc
khoảng 50% yêu cầu về nớc cho sản xuất nông nghiệp. Một số công trình đã
xuống cấp nghiêm trọng nhng thiếu vốn để duy trì, bảo dỡng, nên công xuất
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thực tế tới tiêu chỉ đạt khoảng 30% so với thiết kế. Nh vậy điều đặt ra cho
chúng ta hiện nay là cần tiếp tục tìm ra những giải pháp để đầu t, bổ sung, nâng
cấp và xây dựng mới.
3. Thực trạng về hoá học hoá:
Cùng với cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá trong những năm qua ở nớc ta quá trình

8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
4. Về sinh học hoá nông nghiệp:
Việc ứng dụng thành tựu cách mạng sinh học trong những năm gần đây đã
tạo ra nhiều giống lúa, ngô, rau, cây ăn quả, cây lâm nghiệp, nhất là các loại
giống lai có tính chống chịu tốt và năng suất cao. Nhiều tiến bộ khoa học kỹ
thuật trong lĩnh vực chăn nuôi nh lợn có tỷ lệ nạc cao, bò sinh hóa có thể tròng
lớn và gà công nghiệp có tốc độ tăng trởng nhanh, tiêu tốn ít thức ăn...v.v cũng
đã đợc áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, trình độ áp dụng thành cách mạng sinh học
của nớc ta còn thấp so với các nớc láng giềng.
5. Thực trạng về cơ cấu nghành nông nghiệp nớc ta hiện nay:
Cơ cấu ngành nông nghiệp đợc xem xét qua cơ cấu giữa trồng trọt-
chăn nuôi.
Bảng I: Cơ cấu ngành nông nghiệp giá trị sản lợng
Số lợng (tỷ đồng) Cơ cấu (%)
1985 1995 1985 1995
Tổng số 11941,55 19029,92 100,00 100,00
1. Trồng trọt 9389,74 14785,56 78,63 77,70
2. Chăn nuôi 2551,81 4237,36 21,37 22,30
Nguồn : Số liệu thống kê nông- lâm- thuỷ sản Việt Nam 1985-1995
(NXB Thống kê 1996)
Cơ cấu trồng trọt - chăn nuôi: Trong giai đoạn 1985 - 1995 có xu hớng
chuyển dịch từ trồng trọt sang chăn nuôi nhng hết sức chậm chạp, thậm chí
không có biến đổi đáng kể. Thực tế mấy năm qua, sản xuất lơng thực đã có bớc
tăng trởng khá, có xuất khẩu và tích luỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển
chăn nuôi, song vẫn cha đủ giúp ngành chăn nuôi vơn lên thành ngành chính và
có tỷ trọng cao trong cơ cấu trồng trọt - chăn nuôi.
Ngành trồng trọt: Cây lơng thực tập trung tại hai châu thổ Đồng bằng sông
Cửu long và Đồng bằng sông Hồng. Trong cơ cấu cây lơng thực, cây lúa phát
triển chủ yếu ở miền Nam, cây màu chủ yếu ở miền Bắc. Xu hớng chuyển dịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status