XÉT NGHIỆM MAC-ELISA CHẨN ĐOÁN BỆNH SỐT
DENGUE VÀ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE Ở NGƯỜI LỚN
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue (SD/SXHD) là một
vấn đề quan trọng của y tế toàn cầu, đặc biệt đối với các vùng nhiệt đới và
cận nhiệt đới. Chẩn đoán lâm sàng chủ yếu dựa trên các tiêu chuẩn của Tổ
chức Y tế Thế giới. Các xét nghiệm cho thấy có bằng chứng về nhiễm virút
Dengue ở bệnh nhân chưa được sử dụng rộng rãi.
Mục tiêu nghiên cứu: Phát hiện và xác định tỉ lệ kháng thể IgM
kháng virút Dengue ở bệnh nhân người lớn được chẩn đoán SD/SXHD trên
lâm sàng.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 101 mẫu huyết thanh
của bệnh nhân người lớn được chẩn đoán SD/SXHD trên lâm sàng tại BV.
Thống nhất TP. HCM từ tháng 6/2006 đến tháng 11/2006. Sử dụng kỹ thuật
MAC-ELISA (IgM antibody capture enzyme linked immunosorbent assay)
để phát hiện kháng thể IgM kháng virút Dengue.
Kết quả: Số bệnh nhân tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi trẻ (từ 16-40
tuổi). Tỉ lệ IgM dương tính chung của lô nghiên cứu là 62,38%, cao hơn ở
nhóm bệnh nhân bị sốt từ ngày thứ 5 trở đi và cao nhất ở lứa tuổi dưới 20
(73,91%).
Kết luận: Xét nghiệm MAC-ELISA có thể dùng để giám sát các bệnh
virus trên lâm sàng. Xét nghiệm này còn dùng để chẩn đoán SD/SXHD trên
các bệnh nhân lớn tuổi và có triệu chứng lâm sàng không điển hình.
SUMMARY
Background: Dengue Fever and Dengue Haemorrhagic Fever
(DF/DHF) is a major global health problem, primarily of tropical and
subtropical areas. Clinical diagnosis is based on criteria of WHO.
Laboratory diagnosis is not applied.
Purpose: to detect and determine percentage of the anti-dengue IgM
antibody on adult patients are diagnosed DF/DHF by clinical.
. Chẩn
đoán theo tiêu chuẩn này có thể giúp người thầy thuốc lâm sàng xử lý và
điều trị hiệu quả những ca SD/SXHD thông thường. Tuy nhiên, đối với
những trường hợp có triệu chứng không điển hình, đặc biệt khi bệnh nhân là
người lớn thì việc chẩn đoán theo tiêu chuẩn này chưa đủ vì vẫn chưa có xét
nghiệm cho thấy có bằng chứng về nhiễm virút Dengue ở bệnh nhân. Tại
TP. HCM đã lưu hành một số bộ kít của Việt nam và nước ngoài giúp phát
hiện kháng nguyên, kháng thể và còn định được genotype (kiểu gen) của
virus Dengue. Chúng tôi tiến hành đề tài “Xét nghiệm MAC-ELISA chẩn
đoán huyết thanh bệnh Sốt xuất huyết Dengue ở bệnh nhân người lớn” nhằm
mục đích:
1. - Phát hiện kháng thể IgM của virút Dengue bằng kỹ thuật MAC-
ELISA (IgM antibody capture enzyme linked immunosorbent assay) ở
những bệnh nhân có chẩn đoán SXH-D trên lâm sàng.
- Xác định tỉ lệ có kháng thể IgM của virút Dengue ở các đối tượng
trên.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng gồm 101 bệnh nhân người lớn được các bác sĩ lâm sàng nghi
ngờ bị SXH-D (dựa theo tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng của WHO) và chỉ định
làm xét nghiệm MAC-ELISA chẩn đoán SXH-D.
Địa điểm & thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Vi sinh – Bệnh viện Thống nhất
TP. HCM từ tháng 6/2006 đến tháng 11/2006.
Phương pháp nghiên cứu:
- Kỹ thuật xét nghiệm: xét nghiệm MAC-ELISA chẩn đoán SXH-D
bằng cách xác định kháng thể IgM đối với virus Dengue trong huyết thanh
bệnh nhân. Sử dụng bộ sinh phẩm xét nghiệm MAC-ELISA do Viện Pasteur
T
ỉ lệ
%
16 - 20 23 22,77
21 – 30
45 44,55
Nhóm
tuổi
Số
lượng
T
ỉ lệ
%
31 – 40
17 16,83
41 – 50
5 4,95
51 – 60
6 5,94
61 – 70
3 2,97
71 – 80
1 0,99
81 – 90
ất huyết
N4
14 13,86
5 Sốt
xu
ất huyết
N5
11 10,89
6 Sốt
xu
ất huyết
N6
11 10,89
7 Sốt 14 13,86
xu
ất huyết
N7
8 Sốt
xu
ất huyết
N8
đoán lâm
sàng
S
ố
ca
IgM
(+)
Tỉ lệ
Theo
dõi S
ốt xuất
huyết
26
20 76,92
Sốt
xu
ất huyết
N2
2 1 ½
Sốt
xu
ất huyết
8 5 5/8
N3
Sốt
14
9 64,29
Sốt
xu
ất huyết
N8
2 1 ½
SXH 2 0 0/2
N11 và N15
Không
nghi nhận
/Bệnh
lý khác
11
5 5/11
Tỉ lệ huyết thanh dương tính theo lứa tuổi (bảng 6):
Bảng 6. Tỉ lệ Tỉ lệ huyết thanh dương tính theo lứa tuổi (n=101)
Nhóm
tuổi
S
ố
ca
IgM
51 –
60
6 4 4/6
61 –
70
3 3 3/3
71 –
80
1 0 0/1
81 –
90
1 1 1/1
BÀN LUẬN
Về giới trong lô nghiên cứu (Bảng 1)
Số bệnh nhân nữ có tỉ lệ cao so với nam (54,45% so với 45,54%); tuy
nhiên, sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Tỉ lệ nữ/nam cũng
không khác biệt vớI số liệu của các nghiên cứu khác trong và ngoài
nước
(1,2,3,6,7,9)
.
Về lứa tuổi mắc bệnh SXH-D (Bảng 2)
Theo báo cáo của WHO
(9)
, có 500.000 trường hợp SXH-D phải nhập
viện mỗi năm trong đó 90% trường hợp dưới 15 tuổi. Trong những năm gần
đây, SD/SXHD người lớn đã gia tăng đáng kể tại miền Nam Việt nam, từ
14% tổng số bệnh nhân SD/SXHD nhập viện năm 1991 đến 36% năm
2001
(1,2,3,6,7)
. Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận: tuổi của bệnh nhân phân bố
huyết điển hình ở người lớn, chúng tôi tiến hành xét nghiệm MAC-ELISA
cho 101 bệnh nhân và ghi nhận được 63 trường hợp có kháng thể IgM,
chiếm tỉ lệ 62,38% (bảng 4). Tuy nhiên, đây mới chỉ là tỉ lệ huyết thanh
dương tính chung cho cả lô nghiên cứu, vào mỗi thời điểm của bệnh (ngày
sau sốt), tỉ lệ này sẽ khác nhau
(7)
. Một số bệnh nhân trong lô nghiên cứu này
còn được cấy máu để chẩn đoán bệnh vì trên lâm sàng khó chẩn đoán phân
biệt giữa sốt xuất huyết và nhiễm khuẩn huyết. Nếu có kết quả cấy máu
dương tính và kết quả MAC-ELISA âm tính, chúng ta hướng đến chẩn đoán
nhiễm khuẩn huyết do tác nhân vi khuẩn phân lập được qua cấy máu.
Trường hợp ngược lại, cấy máu âm tính và kết quả MAC-ELISA dương hay
âm tính, phải kết hợp các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng khác để có
chẩn đoán chính xác.
Tỉ lệ huyết thanh dương tính theo chẩn đoán lâm sàng
Theo một số y văn
(1,2,3,7,9)
, xét nghiệm MAC-ELISA chẩn đoán
SD/SXHD cho kết quả dương tính 30-40% vào ngày thứ ba, thứ tư (N3, N4)
của bệnh, 75% vào ngày thứ 5 (N5) và 100% vào ngày thứ 10 (N10) của
bệnh. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi (bảng 5) chưa hoàn toàn phù hợp
với những nghi nhận trên, có thể do cách chọn mẫu và cỡ mẫu không giống
nhau. Tuy nhiên, cũng phải ghi nhận rằng (bảng 5), tỉ lệ IgM dương tính cao
nhất ở những bệnh nhân sốt vào ngày thứ 5, thứ 6 (81,82%), tiếp theo là
ngày thứ 7 (64,29%), ngày thứ 4 (28,57%). Hai trường hợp sốt vào ngày thứ
11, 15 đều cho kết quả IgM âm tính; như vậy loại trừ được chẩn đoán sốt
xuất huyết.
Tỉ lệ huyết thanh dương tính theo lứa tuổi
Theo kết quả từ bảng 6, chỉ có thể bàn luận về tỉ lệ này ở ba nhóm tuổi
trẻ nhất: 15-20, 21-30 và 31-40 vì có số lượng đủ lớn. Các nhóm tuổi còn lại