Kiểm tra, chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực và chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng potx - Pdf 20



Kiểm tra, chứng nhận đủ điều kiện
đảm bảo an toàn chịu lực và chứng
nhận sự phù hợp về chất lượng công
trình xây dựng

Công ty kiểm định Xây dựng Sài gòn
Kiểm tra, chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực
và chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng

Người soạn : Lê Văn Thịnh
Trưởng phòng Quản lý chất lượng công trình xây dựng 1
Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng

Chương 1
Đánh giá sự phù hợp
I. Khái quát
1. Định nghĩa

cân đối yêu cầu của các nước đã phát triển với các nước đang phát triển hay các
nước ít quan tâm đến bảo vệ người tiêu dùng.
Theo định nghĩa của Thỏa ước về Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT)
của tổ chức Thương mại Quốc lễ (WTO), thì các thủ tục đánh giá sự phù hợp là
bất kỳ thủ tục nào được sử dụng trực tiếp hay gián tiếp để xác định rằng yêu cầu
tương ứng trong các tiêu chuẩn hay chế định kỹ thuật (technical regulation) đã
được thực hiện. Chế định kỹ thuật là văn bản qui định những đặc tính của sản
phẩm hay các quá trình và phương pháp sản xuất có liên quan. Các chế định kỹ
thuật này được các tổ chức có thẩm quyền công bố, thông thường vì mục đích an
toàn bảo vệ sức khỏe, môi trường, ngăn ngừa các qui tắc gây nên sự nhầm lẫn. Sự
phù hợp với các chế định là yêu cầu bắt buộc trong khi sự phù hợp với tiêu chuẩn
nói chung là không bắt buộc trừ trường hợp do một cơ quan có thẩm quyền qui
định. Nói chung, việc đảm bảo sự phù hợp với các chế định kỹ thuật cần được
thực hiện trước khi đưa sản phẩm đó vào thị trường.
Thủ tục đánh giá sự phù hợp có thể bao gồm phương pháp lấy mẫu, thử nghiệm,
kiểm tra, đăng ký, chứng nhận và công nhận được sử dụng để đưa ra sự đảm bảo
đối với các cơ quan có thẩm quyền và người tiêu dùng rằng các yêu cầu qui định
đã được thực hiện. Kết quả là việc đánh giá sự phù hợp có thể giảm các cuộc tranh
chấp có thể xảy ra về các qui định hay chất lượng của sản phẩm.
Việc đánh giá phù hợp đối với các tiêu chuẩn tự nguyện đang ngày càng trở nên
quan trọng do sự toàn cầu hóa và sự mở rộng thị trường thế giới vì nó cho phép
người tiêu dùng có thể an tâm lựa chọn mặt hàng. Hoạt động chứng nhận, nhãn
hiệu, dấu hiệu có thể cung cấp thông tin và đem lại lòng tin tưởng cần thiết cho
khách hàng. Kết quả là việc đánh giá sự phù hợp có thể được các nhà sản xuất và
xuất khẩu sử dụng làm công cụ tiếp thị và đem lại thành công trên thương trường.
Khó hình dung có thể tiến hành hoạt động thương mại mà không có các thủ tục
đánh giá sự phù hợp.
Tuy nhiên cũng cần chú ý đến những điểm sau đây, nếu không các thủ tục đánh
giá sự phù hợp lại trở thành một rào cản đối với thương mại.
Thứ nhất, việc thiếu sự rõ ràng minh bạch về thông tin cần thiết để đáp ứng các

Tự công bố của người cung cấp là một thủ tục theo đó người cung cấp đảm bảo
dưới dạng văn bản rằng một đối tượng nào đó phù hợp với các yêu cầu qui định, ở
đây người cung cấp có thể là người sản xuất, phân phối, nhập khẩu, lắp đặt hay tổ
chức dịch vụ
Hoạt động tự công bố nhằm mục đích chứng tỏ rằng sản phẩm, quá trình hay hoạt
động được xét là phù hợp với văn bản đã xác định và nói rõ ai là người chịu trách
nhiệm về sự phù hợp này. Việc tự công bố có thể áp dụng cho cả trường hợp tự
nguyện hay bắt buộc. Trong trường hợp thứ nhất, tự công bố coi như một công cụ
tiếp thị. Trường hợp thứ hai, liên quan đến các yêu cầu bắt buộc như sức khỏe, an
toàn, môi trường, tương thích điện từ trường, Trong hầu hết mọi trường hợp, tự
công bố là do yêu cầu của khách hàng, thị trường.
Việc tự công bố của người cung cấp có lợi ích là tiết kiệm thời gian và kinh phí,
đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của người tiêu dùng và khuyến khích việc áp dụng
tiêu chuẩn. Nhược điểm của hình thức này là thiếu sự thuyết phục, và nếu không
có những qui định rõ ràng về trách nhiệm pháp lý của người công bố thì rất dễ xảy
ra sự lạm dụng và gây lẫn lộn cho người tiêu dùng, bởi vậy người ta thường kết
hợp với những hệ thống đánh giá khác, việc tự công bố chỉ là một giai đoạn trong
hệ thống này.
2. Yêu cầu chung khi tự công bố
Khi tự công bố người cung cấp phải chịu trách nhiệm về các chỉ tiêu/đặc trưng của
đối tượng được xét. Các chỉ tiêu/đặc trưng này được quy định trong văn bản đã
xác định. Để có giá trị khách quan và đem lại lòng tin tưởng cho người sử dụng,
việc công bố phải dựa trên các phép thử nghiệm hay xem xét đánh giá, ngoài ra hệ
thống chất lượng có liên quan phải đảm bảo phù hợp với các văn bản quy định.
Tuy nhiên, không yêu cầu hệ thống chất lượng của người cung cấp phải được
chứng nhận. Người cung cấp có thể nêu trong công bố của mình mọi loại chứng
chỉ đã được cấp hay trạng thái của phòng thí nghiệm có liên quan đến việc thử
nghiệm, ví dụ như đã được công nhận hay chưa.
3. Nội dung công bố
Bản công bố phải có đủ thông tin để các sản phẩm, quy trình hay dịch vụ được đề

chọn. Tình trạng này ngự trị cả thế giới sau đại chiến thứ hai. Mặc dù vậy, các
quốc gia quan tâm đến bảo vệ cho người dân đã ban hành các chế định đảm bảo sự
an toàn cho người tiêu dùng. Trên cơ sở đó đã hình thành các thủ tục đánh giá sự
phù hợp của sản phẩm.
Như vậy, lĩnh vực đầu tiên của đánh giá sự phù hợp là an toàn. Trong phạm vi
quốc gia, khu vực và quốc tế, có những chế định về các vấn đề an toàn, và các chế
định này được dùng để đánh giá sự phù hợp của sản phẩm. Các dụng cụ điện, khí
đốt, thiết bị bảo vệ cá nhân là những đối tượng đầu tiên được yêu cầu đánh giá về
phương tiện an toàn.
Khi sự an toàn đã được đảm bảo, người ta quan tâm đến chất lượng theo quan
điểm sử dụng, từ đó nảy sinh nhu cầu đánh giá chất lượng nói chung. Và sự phù
hợp với các yêu cầu chung về chất lượng, hay thích hợp với sử dụng, trở thành
một vũ khí thương mại. Thủ tục chứng nhận sản phẩm cũng ngày càng hoàn thiện,
từ chỗ chỉ yêu cầu bản thân sản phẩm phải phù hợp với các phép thử nghiệm, các
tổ chức chứng nhận thấy cần phải đảm bảo tính ổn định của chất lượng sản phẩm
đó, từ đó đã đặt vấn đề phải xem xét, đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng.
Khi vấn đề an toàn và quan điểm sử dụng đã được thoả mãn, các tổ chức quản lý,
bao gồm cả các tổ chức người tiêu dùng và bản thân người tiêu dùng bắt đầu quan
tâm đến môi trường. Từ năm 1990, các hoạt động đánh giá sự phù hợp của các sản
phẩm có tác động đến sinh thái đã phát triển rất nhanh ở quy mô quốc gia, khu vực
và toàn cầu.
Tiểu ban số 3 của Ban Kỹ thuật ISO TC 207 chịu trách niệm về nhãn hiệu liên
quan đến sinh thái - nhãn sinh thái - đã xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế về vấn đề
này.
Bên cạnh các tiêu chuẩn về nhãn sinh thái liên quan đến yêu cầu đối với sản phẩm,
cần đánh giá sự phù hợp môi trường của hệ thống quản lý sản xuất các sản phẩm.
Từ đó nảy sinh nhu cầu đánh giá hệ thống quản lý môi trường. Việc đánh giá hệ
thống quản lý môi trường không đáp ứng nhu cầu trực tiếp của người tiêu dùng.
Tuy nhiên quản lý môi trường gắn với việc sản xuất ra những sản phẩm phải thỏa
mãn các yêu cầu về sinh thái, và bản thân quá trình sản xuất cũng không được gây

lượng sản phẩm được ổn định trong thời hạn chứng nhận có hiệu lực. Để đảm bảo
điều này, cơ quan chứng nhận, ngoài việc kiểm tra bản thân sản phẩm xin chứng
nhận (thông qua thử sản phẩm), cần phải xem xét điều kiện đảm bảo chất lượng, là
yếu tố giúp cho chất lượng sản phẩm được ổn định, và giám sát sau khi chứng
nhận. Tùy theo thể thức chứng nhận nói trên người ta chia thành 8 hệ thống chứng
nhận, thể hiện trong bảng.
Hệ thống chứng nhận sản phẩm Việt Nam do Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất
lượng điều hành về cơ bản là theo hệ thống 5, trong đó điều kiện đảm bảo chất
lượng được đánh giá theo một số yếu tố của tiêu chuẩn ISO 9001, có sự thay đổi
linh hoạt tùy theo yêu cầu chất lượng đối với từng loại sản phẩm cụ thể.
Trong nhiều quốc gia, việc chứng nhận bắt buộc được thay thế bằng các hệ thống
có chức năng tương tự nhưng không phải là thuộc hoạt động chứng nhận. Ví dụ,
hệ thống ghi dấu "CE" trên các sản phẩm đòi hỏi phải thỏa mãn các yêu cầu về an
toàn Hội đồng Liên minh Châu âu (EU). Phương pháp đánh giá
1 2 3 4 5 6 7 8
Thử điển hình + + + + +
Kiểm tra lô +
Kiểm tra 100% +
Đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng + +

Giám sát sau chứng nhận
Kiểm tra mẫu tại cơ sở sản xuất + + +
Kiểm tra mẫu trên thị trường + + +
Với ý định nhất thể hoá thị trường Châu Âu, năm 1985 Uỷ ban Châu Âu đã chấp
nhận cách tiếp nhận mới đối với tiêu chuẩn sản phẩm. Khối EC đã ban hành các
chỉ thị (Directive) trong đó nêu những yêu cầu cốt yếu đối với sản phẩm trước khi
đượcc lưưu hành trên thị trường. Các tiêu chuẩn quốc gia và Châu Âu có liên quan

Cơ quan được chỉ định hay bên thứ ba được thừa nhận
• Thử nghiệm và kiểm tra ngẫu nhiên
Mô đun D. Mô đun B cộng đảm bảo chất lượng trong sản xuất
Người sản xuất
• Công bố sự phù hợp về kiểu loại
• Trình tài liệu và gắn dấu CE lên sản phẩm
Có hệ thống chất lượng được đăng ký theo ISO 9002
• Cơ quan được chỉ định hay bên thứ ba được thừa nhận
• Đánh giá, chứng nhận, giám sát
Mô đun E. Mô đun B cộng hệ thống kiểm tra/thử nghiệm
Người sản xuất
• Công bố sự phù hợp về kiểu loại
• Trình tài liệu và gắn dấu CE lên sản phẩm
• Có hệ thống chất lượng được đăng ký theo ISO 9003
Cơ quan được chỉ định hay bên thứ ba được thừa nhận
• Đánh giá, chứng nhận, giám sát
Mô đun F. Mô đun B cộng xác nhận sản phẩm
Người sản xuất
• Công bố sự phù hợp về kiểu loại
• Trình tài liệu và gắn dấu CE lên sản phẩm
• Có hệ thống chất lượng được đăng ký theo ISO 9003
Cơ quan được chỉ định hay bên thứ ba được thừa nhận
• Xác nhận sự phù hợp và cấp chứng chỉ
Mô đun G. Sự phù hợp của thiết kế và sản xuất cho một sản phẩm
Người sản xuất
• Công bố sự phù hợp với các yêu cầu cốt yếu
• Trình tài liệu, sản phẩm và gắn dấu CE lên sản phẩm
• Có hệ thống chất lượng được đăng ký theo ISO 9003
Cơ quan được chỉ định hay bên thứ ba được thừa nhận
• Xác nhận sự phù hợp và cấp chứng chỉ

cung cấp. Tuy nhiên điều này sẽ khiến người cung cấp phải chi phí rất nhiều nếu
như họ phải cung cấp sản phẩm cho nhiều công ty khách hàng khác nhau. Hoạt
động chứng nhận của bên thứ ba cũng sẽ đáp ứng nhu cầu của bên cung cấp và
khách hàng với chi phí ít nhất. Ngoài ra việc đánh giá được tiến hành bởi một tổ
chức chứng nhận có chuyên môn nghiệp vụ và uy tín sẽ đem lại hiệu quả đáng tin
cậy và được chấp nhận ở mức độ cao hơn.
Trong những năm gần đây, vấn đề môi trường ngày càng được người tiêu dùng,
các tổ chức quốc gia và quốc tế quan tâm. Một sản phẩm nếu gây ảnh hưởng đến
môi trường rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh. Bộ tiêu chuẩn ISO
14000 ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu này. Cho đến nay rất nhiều quốc gia trên thế
giới đã triển khai mạnh mẽ hoạt động chứng nhận hệ thống quản lý môi trường
theo tiêu chuẩn ISO 14000. Hoạt động này được tiến hành song song với việc
chứng nhận liên quan đến tác động trực tiếp của sản phẩm lên môi trường như đã
trình bày trong phần chứng nhận sản phẩm.
3. Chứng nhận chuyên viên trong lĩnh vực đặc biệt
Trong mọi hoạt động, bao gồm cả hoạt động đánh giá sự phù hợp, trình độ người
tác nghiệp đóng vai trò quyết định. Cán bộ quản lý muốn biết các nhân viên đang
tiến hành một công việc xác định có đủ năng lực cần thiết hay không. Từ tình hình
trên nảy sinh nhu cầu chứng nhận người tác nghiệp một số quá trình đặc biệt ví dụ
như các chuyên gia đánh giá trong các hoạt động chứng nhận, kỹ thuật viên trong
những ngành đặc biệt (hàn , thử siêu âm, ).
Riêng trong lĩnh vực chuyên gia đánh giá hệ thống quản lý, các tổ chức chứng
nhận đăng ký như IATCA (International Auditor Training and Certification
Association) hay IRCA (lnternational Register of Certificated Auditors) đã đưa
những chuẩn mực cụ thể. Các tổ chức chứng nhận trong lĩnh vực này cũng đòi hỏi
phải thoã mãn các yêu cầu riêng, ví dụ như tiêu chuẩn Châu âu EN 45013
IV. Giám định
Giám định/kiểm tra là quá trình xem xét, đo lường, thử nghiệm các đặc trưng nào
đó và so sánh với các chuẩn mực qui định, đồng thời tiến hành các dịch vụ khác
liên quan đến sản phẩm. Các dịch vụ liên quan này bao gồm không chỉ việc lựa

Thử nghiệm, hiệu chuẩn cũng là một hoạt động đánh giá sự phù hợp. Hoạt động
này cung cấp các bằng chứng về sự phù hợp của sản phẩm so với các yêu cầu qui
định, phục vụ cho hoạt động chứng nhận, kiểm tra/giám định. Mức độ chặt chẽ và
tổng quát của các yêu cầu đối với một phòng thử nghiệm hay hiệu chuẩn (có thể
gọi chung là tổ chức thí nghiệm) tuỳ thuộc vào mục đích của việc thí nghiệm, khối
lượng phép thử được tiến hành, cũng như trách nhiệm pháp lý về tính đúng đắn
của kết quả thử.
Trong các xí nghiệp công nghiệp hay dịch vụ có thể cần các phòng thí nghiệm
phục vụ cho các nhu cầu nội bộ, cung cấp các bằng chứng về chất lượng sản phẩm
hay dịch vụ phục vụ cho nhu cầu tự công bố hay cho các mục đích khác như
chứng nhận. Yêu cầu chung đối với các phòng thí nghiệm này là phải cung cấp các
kết quả đảm bảo tính đúng đắn, chuẩn xác phù hợp với yêu cầu phép đo. Muốn
vậy, các phòng thí nghiệm này phải thoả mãn các yêu cầu nhất định dù cho là
phòng thí nghiệm của xí nghiệp hay được thầu phụ. Nếu việc thí nghiệm lại dùng
cho mục đích như tự công bố hay cung cấp dữ liệu cho việc chứng nhận, thì phòng
thí nghiệm này phải thoả mãn các yêu cầu nhất định tuỳ theo qui định của từng hệ
thống.
Các tổ chức chứng nhận sản phẩm cũng thường sử dụng các phòng thí nghiệm độc
lập bên ngoài. Khi đó tổ chức chứng nhận phải có sự tin tưởng vào chất lượng của
phòng thí nghiệm đó. Tuỳ theo bản chất của việc chứng nhận, vào tính nghiêm
trọng của sản phẩm cần chứng nhận, mà tổ chức chứng nhận có những mức độ yêu
cầu khác nhau đối với phòng thí nghiệm được sử dụng. Tuy nhiên, dù ở mức độ
nào, cũng tưng tự như các tổ chức chứng nhận và giám định, các tổ chức thử
nghiệm và hiệu chuẩn cũng phải thỏa m•n các yêu cầu nhất định, ví dụ như các qui
định trong ISO/IEC 17025
VI. Công nhận các tổ chức đáng giá sự phù hợp
Như các phần trên đ• trình bày, để có sự hòa nhập trong các hệ thống đánh giá sự
phù hợp cần có sự thống nhất về các chuẩn mực đối với các tổ chức đánh giá và
thủ tục đánh giá. Ngoài ra, một yêu cầu khác cũng rất quan trọng đối với các tổ
chức cung ứng sản phẩm và dịch vụ cũng như đối với khách hàng là làm thế nào

của các thành quả khoa học – công nghệ và tổ chức sản xuất của toàn x• hội ở một
thời kỳ nhất định. Nó là sản phẩm có tính liên ngành, trong đó những lực lượng
tham gia chế tạo sản phẩm chủ yếu : chủ đầu tư; nhà thầu khảo sát xây dựng, nhà
thầu thiết kế xây dựng công trình, nhà thầu thi công xây dựng ; các nhà sản xuất
các yếu tố đầu vào cho dự án như thiết bị công nghệ, vật tư, thiết bị xây dựng ;
các nhà cung ứng ; các tổ chức dịch vụ ngân hàng và tài chính ; các cơ quan quản
lý nhà nước có liên quan. Nói cách khác thì công trình xây dựng chính là sản phẩm
được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt
vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất,
phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo
thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở,
công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác.
Để khẳng định một công trình xây dựng thỏa m•n các yêu cầu thiết kế, yêu cầu của
các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật thì cần tiến hành xem xét các khía cạnh có liên
quan của công trình xây dựng đó một cách hệ thống. Tùy theo mức độ và yêu cầu
đánh giá mà quyết định kiểm tra, xác nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực
hoặc kiểm tra, chứng nhận sự phù hợp về chất lượng
1.1. Chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực
Chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực là kiểm tra, xác nhận công tác
khảo sát, thiết kế và thi công xây dựng tuân thủ các quy định của pháp luật về
quản lý chất lượng đáp ứng các yêu cầu đảm bảo an toàn chịu lực của công trình
hoặc hạng mục công trình trước khi đưa vào sử dụng.
1.2. Chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng
Chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng là việc đánh giá, xác
nhận công trình hoặc hạng mục, bộ phận công trình xây dựng được thiết kế, thi
công xây dựng phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật và các yêu cầu kỹ thuật
áp dụng cho công trình.
Hoạt động này gọi là kiểm tra và chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình
xây dựng mà theo cách nói đối với các loại sản phẩm nêu ở phần trên thì đó là ô
đánh giá sự phù hợp ằ.

Trích đoạn Xử lý vi phạm ( theo dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 126/2006/NĐ-CP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status