Trường đại học nông lâm TP.HCM
Khoa Thủy sản
Báo cáo chuyên đề:
THỦY SẢN ĐẠI CƯƠNG
DỰ ÁN ĐÁNH BẮT XA BỜ
Giáo viên hướng dẫn: ThS.Nguyễn Văn Tư
Họ & tên sinh viên: Nguyễn Thế Lạc
Lớp: DH09CT
MSSV: 09117091
- 1 -
Đánh bắt xa bờ - Nguyễn Thế Lạc
MỤC LỤC:
Đội tàu đánh bắt xa bờ
I. Tại sao phải có chương trình?
II. Mục tiêu
III. Nội dung chính của chương trình
IV. Triển khai và đánh giá chương trình
V. Nguyên nhân thất bại
VI. Chiếc lược mới của Bộ
- 2 -
Đánh bắt xa bờ - Nguyễn Thế Lạc
I. Tại sao phải có chương trình này?
Theo đánh giá của các chuyên gia, sản lượng hải sản cho phép khai thác
ngoài khơi của nước ta ước tính khoảng 1.1 triệu tấn/năm, còn sản lượng cho
phép khai thác gần bờ khoảng 600 ngàn tấn/năm. Nhưng hiện nay, sản lượng
khai thác gần bờ lại là 1.1 triệu tấn/năm, còn khai thác xa bờ chỉ đạt 600
ngàn tấn/năm.
nhìn chung nguồn lợi thủy sản ven bờ bị lạm thác trong khi nguồn lợi
thủy sản xa bờ còn lớn chưa khai thác hết được.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đạt ra là phải chuyển sang đánh bắt xa bờ.
- 3 -
Đánh bắt xa bờ - Nguyễn Thế Lạc
Thành phần Ban chỉ đạo chương trình gồm Giám đốc các Sở Thuỷ
sản, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng nhà
nước, Giám đốc Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Cục trưởng Cục
Đầu tư và Phát triển.
Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo, để có sự phối hợp
của tổ chức cho vay và các ngành có liên quan tại địa phương để hướng dẫn,
quản lý, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị và ngư dân vay vốn trên địa bàn sử
dụng vốn vay đúng mục đích, khai thác tầu có hiệu quả, trả nợ vay đầu tư
(gốc và lãi), đúng hạn theo hợp đồng tín dụng.
2. Về đối tượng được vay vốn:
- Thực hiện theo Điều 6 bản quy chế ban hành kèm theo Quyết định
393/TTg ngày 9/6/1997 của Thủ tướng Chính phủ, đối tượng được vay vốn
đầu tư phương tiện đánh bắt hải sản xa bờ và tầu dịch vụ đánh bắt hải sản xa
bờ là các đơn vị kinh tế có đăng ký hành nghề đánh bắt và dịch vụ đánh bắt
hải sản, bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, đơn vị Quân đội làm kinh tế,
Doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Hợp
tác xã, Tổ hợp tác và Hộ ngư dân.
- Đối tượng được vay phải có kinh nghiệm đi biển và tổ chức hoạt
động đánh cá xa bờ, có đủ mức vốn tự có theo quy định tại mục 4 của Thông
tư này, có hiểu biết về quản lý phương tiện đánh bắt, kỹ thuật bảo quản
nguyên liệu, có đăng ký hành nghề tại địa phương nơi cư trú, hoặc giấy phép
hoạt động đánh bắt xa bờ do cơ quan bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản cấp. Phải
đăng ký tên Thuyền trưởng, Máy trưởng trong hợp đồng vay.
3/ Về tài sản đảm bảo nợ vay và mua bảo hiểm:
a. Về tài sản đảm bảo nợ vay:
Các dự án vay vốn tín dụng đầu tư tàu đánh bắt hải sản xa bờ và tàu
dịch vụ đánh bắt hải sản xa bờ theo kế hoạch của Nhà nước được lấy tài sản
hình thành bằng vốn vay để đảm bảo nợ vay. Trong thời hạn chưa trả hết nợ,
lượng hoàn thành cho các dự án vay vốn tín dụng đóng tàu đánh bắt hải sản
xa bờ:
- Thực hiện cho vay ứng trước và cho vay thanh toán khối lượng hoàn
thành theo hợp đồng đã được ký kết giữa chủ đầu tư với đơn vị đóng tàu,
cung cấp thiết bị, máy móc. Để đảm bảo vốn vay ứng trước được sử dụng
đúng mục đích, điều kiện để được vay vốn ứng trước phải có hợp đồng tín
dụng, hợp đồng đóng tàu, dự toán thiết kế được duyệt, các chứng từ thanh
toán như hoá đơn mua vật tư (gỗ, sắt thép ), thiết bị (máy thuỷ ). Mức cho
vay ứng trước không quá 25% tổng mức vốn dầu tư của dự án và có thể ứng
trước nhiều lần trong phạm vi mức vốn được ứng trước theo quy định, được
chuyển thẳng cho đơn vị đóng tàu, cung cấp thiết bị, máy móc theo đề nghị
của chủ đầu tư vay vốn.
- Việc cho vay thanh toán được thực hiện theo khối lượng công việc
hoàn thành theo từng giai đoạn đã được nghiệm thu. Bản nghiệm thu khối
lượng hoàn thành phải có xác nhận kỹ thuật của cơ quan đăng kiểm tàu.
6. Về mẫu tàu, máy thuỷ, cơ sở đóng tàu:
a. Đối với mẫu tàu và máy thuỷ:
- Mẫu tàu:
Ngoài các tàu đóng theo mẫu thiết kế do Bộ Thuỷ sản ban hành đợt I
theo Quyết định 268/QĐ-KHCN ngày10/61997, chủ dự án được phép lựa
chọn các mẫu tàu theo tập quán của địa phương nhưng phải được cơ quan
đăng kiểm tàu xác nhận về mặt an toàn kỹ thuật.
- Máy thuỷ:
- 5 -
Đánh bắt xa bờ - Nguyễn Thế Lạc
Ngoài việc sử dụng 4 chủng loại máy thuỷ đã hướng dẫn tại công văn
số 2214/CV-KHĐT ngày 23/9/1997 của Bộ Thuỷ sản, có thể mở rộng thêm
các chủng loại máy thuỷ khác, nhưng phải tính toán kỹ đảm bảo yêu cầu kỹ
thuật và hiệu quả kinh tế, không nên sử dụng quá nhiều chủng loại.
Cần chấp hành chỉ đạo chung, không dùng máy thuỷ đã qua sử dụng
Thủ tục cần có để làm căn cứ cấp giấy phép hoạt động đánh cá xa bờ:
- Sổ đăng ký tàu.
- Có đủ trang thiết bị an toàn.
Thời hạn hoạt động quy định trong giấy phép hoạt động đánh bắt hải
sản xa bờ căn cứ vào thời hạn đăng kiểm tàu cho phép, loại nghề, ngư
- 6 -
Đánh bắt xa bờ - Nguyễn Thế Lạc
trường, mùa vụ, đối tượng hải sản khai thác mà chủ dự án xin phép, nhưng
tối đa không quá 12 tháng. Hết thời hạn cho phép hoạt động chủ tàu phải đến
cơ quan bảo vệ nguồn lợi xin gia hạn cấp giấy phép mới và phải phù hợp với
thời hạn được bảo hiểm.
9. Về đào tạo
Kết hợp giữa đào tạo có hệ thống và kinh nghiệm hàng hải, sử dụng
trang thiết bị và khai thác của ngư dân để tổ chức đào tạo và cấp bằng
thuyền truưỏng, máy trưởng bảo đảm số lượng và chất lượng. Thực hiện
phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.
Ngay sau khi dự án được duyệt, chủ đầu tư có kế hoạch để dược đào
tạo thuyền trưởng, máy trưởng và thuỷ thủ đoàn, để ngay khi tàu đóng xong
có thể tiếp quản và đưa vào sử dụng. Bằng thuyền trưởng, máy trưởng tàu do
các trường Trung học, Đại học thuộc ngành thuỷ sản đào tạo cấp.
Việc đào tạo kết hợp nhiều hình thức khác nhau, có thể kết hợp đào
tạo tập trung tại các trường của ngành thuỷ sản, hoặc các truường này tổ
chức các lớp học tại các địa phương có dự án, sử dụng kinh phí đào tạo cho
chương trình đánh bắt hải sản xa bờ được Nhà nước giao cho ngành thuỷ sản
theo kế hoạch hàng năm.
10. Về tổng hợp và giao kế hoạch:
Hàng năm Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
và Bộ, Ngành chủ quản xác định các đối tượng làm chủ đầu tư như mục 2
của thông tư này. Chỉ đạo chủ đầu tư lập dự án, lập danh mục dự án và nhu
cầu vốn đầu tư tàu đánh bắt hải sản xa bờ gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ
Tại văn bản ra ngày 5/7/2005, Bộ Thủy sản thừa nhận đã lựa chọn
chủ dự án đầu tư nhiều trường hợp không đúng đối tượng; lập, thẩm
định xem duyệt các dự án đầu tư không chặt chẽ, không đủ các điều kiện
theo quy định.
Khi triển khai dự án, tại nhiều địa phương, chủ đầu tư được tập trung
ưu tiên là các HTX. Hầu hết số này được thành lập sau khi Chính phủ có chủ
trương cho vay vốn ưu đãi, nhằm xin tiếp nhận tiền đầu tư
Việc lựa chọn, xét duyệt các hộ ngư dân là chủ đầu tư dự án cũng
trong tình trạng tương tự. Tại tỉnh Thanh Hoá, Quảng Ngãi, Bình Định
nhiều ngư dân được xét duyệt cho vay vốn trong khi không hề có kinh
nghiệm đi biển. Ở nhiều địa phương, cả giáo viên, viên chức không đủ
điều kiện cũng có tên trong danh sách. Điều này đã khiến dự án không được
giao vào tay người có năng lực quản lý, gây thất thoát và lãng phí lớn. Phần
lớn các HTX, hộ ngư dân đã làm ăn không hiệu quả, thua lỗ, phải giải thể
hay chuyển đổi cho chủ đầu tư khác.
Hầu hết dự án do cán bộ thủy sản địa phương lập hoặc do đơn vị tư
vấn lập theo khuôn mẫu có sẵn, sao chép giống nhau. Tại Thanh Hoá, toàn
bộ các dự án đều giống nhau, dù phương án kinh doanh của mỗi người vay
khác nhau. Ở Bình Định, trong 35 dự án đầu tư lập năm 1998 nội dung được
sao chép từ dự án lập năm 1997.
Việc lập và thẩm quyền phê duyệt dự án chỉ mang tính hình thức.
Sở thủy sản và một số cơ quan chức năng khác trong thành phần hội đồng
thẩm định của địa phương vừa lập dự án đầu tư, sau đó lại thẩm định, trình
UBND tỉnh, thành phố phê duyệt dự án là vừa "đá bóng, vừa thổi còi", vi
phạm quy chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước.
18 trong 64 hồ sơ dự án được thẩm định ở Đà Nẵng không có đơn
hoặc phiếu đăng ký của chủ dự án, biên bản họp thẩm định dự án không có
đủ các thành phần tham dự theo quy định Năm 1997, tỉnh phê duyệt tổng
mức đầu tư của 8 dự án cao hơn 400 triệu đồng so với kết quả thẩm định.
- 8 -
Vì những nguyên nhân trên, việc thanh quyết toán vốn đầu tư của
các dự án chậm, không đúng với các quy định của Nhà nước. Tỷ lệ trả nợ
vốn vay của các dự án rất thấp, nợ quá hạn khó đòi ngày càng tăng, khả năng
không thu hồi được là rất lớn. Xét về hiệu quả kinh tế của các dự án đầu tư
là rất thấp. Tính đến tháng 6/2004, tổng vốn vay nợ đã giải ngân hơn 1.340
tỷ đồng, song nợ thu hồi và xử lý chỉ đạt 1/10. Đặc biệt, tổng số tiền sai
phạm tại cá địa phương là 110 tỷ đồng. Trong đó, về tham ô, cố ý làm trái,
chiếm dụng vốn 12 tỷ đồng.
- 9 -
Đánh bắt xa bờ - Nguyễn Thế Lạc
Về hướng xử lý những tồn tại trên, Bộ Thủy sản cho biết đã phối hợp
với các bộ, ngành và địa phương thành lập hội đồng phân loại, định giá và
bán đấu giá đối với các dự án đóng tàu hiện đang thực hiện không hiệu quả.
Theo đó, các chủ đầu tư đánh bắt có hiệu quả và trả được một phần nợ vay
cho Nhà nước được đề nghị tiếp tục xử lý đồng bộ các biện pháp như gia
hạn nợ, giản nợ, ngân hàng thương mại cho vay vốn bổ sung vốn
Tính đến nay, hơn 1.300 tỷ đồng của Nhà nước rót cho chương trình
đánh bắt xa bờ, có đến trên 80% rơi vào diện khó đòi bởi những con tàu
"ma" và cơ chế quản lý vốn lỏng lẻo.
Như vậy, trong khi triển khai dự án ĐBTSXB của Bộ đã và đang
tồn tại nhiều vấn đề.
Nhưng không phải mọi dự án đầu tư của chương trình tại các tỉnh đều
không thành công. Điển hình như ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trong vòng 7 năm từ khi chương trình bắt đầu (từ cuối năm 1997), Bà
Rịa – Vũng Tàu đã thẩm định và trình UBND tỉnh phê duyệt 83 dự án đóng
mới 83 chiếc tàu công suất từ 450 CV/ chiếc trở lên, trị giá 75,169 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, bằng nguồn vốn tự có, bà con ngư dân trong tỉnh còn đầu tư
gần 1.500 tỷ đồng để đóng mới 1.117 tàu thuyền đánh bắt hải sản công suất
lớn, nâng tổng số tàu thuyền có khả năng đánh bắt xa bờ của tỉnh lên 2.131
chiếc với tổng công suất hơn 483.000 CV.
thiết bị thông tin liên lạc trên biển với đất liền và giữa các con tàu với nhau.
Chương trình này còn mang ý nghĩa chiến lược về các mặt kinh tế – xã hội
và an ninh quốc phòng, vừa bảo vệ được nguồn hải sản ven bờ và khai thác
tốt hơn tiềm năng tài nguyên vùng biển khơi của Tổ quốc.
Tuy nhiên, những thành công nhỏ lẻ của dự án tại một số tỉnh cũng
không thể giữ chương trình có thể tiếp tục trước những thất bại kéo dài ở
một số tỉnh. Do đó, đầu năm 2006, chính phủ đã quyết định tạm dừng việc
thực hiện chương trình đầu tư đánh bắt xa bờ để kiểm điểm, đánh giá lại
hiệu quả kinh tế.
V. Nguyên nhân thất bại
Chương trình đánh bắt hải sản xa bờ là
dự án của quốc gia với số vốn đầu tư lên đến
hàng ngàn tỷ đồng tiền nhà nước. Chương
trình này thất bại do nhiều nguyên nhân:
Thứ nhất, ngư trường ngày càng cạn kiệt,
cá ít dần mà tàu cá lại nhiều:
“Đánh cá bị đói, không được gì cả.”
Ngoài ra tàu cá Việt Nam không tối tân
bằng tàu đánh cá nước ngoài nhất là tàu
Trung Quốc nên tàu Việt Nam không thể
cạnh tranh với tàu Trung Quốc tại các ngư
trường đánh bắt chung của hai nước.
Thứ hai, vấn đề tham ô nhũng lạm đã làm người dân phải trích ra một
khoảng tiền không nhỏ trong số tiền được vay để chi cho các người có chức,
có quyền. Một người dân ở Bà Rịa Vũng tàu cho biết: “Có nhiều thứ tiền
phải chi kể từ lúc vay đến lúc đóng xong con tàu.”
Thứ ba, do ảnh hưởng của các thế lực tỉnh, huyện, một số lớn tiền được
vay không dùng để đóng tàu mà để làm các chuyện khác chẳng hạn như tại
xã Điện Ngọc thuộc tỉnh Quãng Nam, một công an ninh xã và một công
nhân lái xe lửa, không hề biết nghề đi biển được chủ tịch xã cho lãnh dự án.
Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong thang 2/2008 – thời điểm
giá dầu tăng lên 3.400 đ/l cho thấy, hầu hết chi phí cho nhu cầu phục vụ
chuyến biển đều tăng mạnh trong khi giá sản phẩm hải sản lại tăng không
đáng kể. Đối với đội tàu lưới kéo đôi có công suất khoảng 900CV tại ngư
trường Tây Nam Bộ, chi phí nguyên liệu cho một chuyến đi khoảng 40 ngày
tăng từ 328 triệu đồng lên 382,8 triệu đồng và chiếm tỷ trọng đến 78,2%
tổng chi phí tăng toàn chuyến đi.
VI. Chiếc lược mới của Bộ Thủy Sản
Sau hàng loạt những bất cập trong dự án ĐBTSXB, đầu năm 2006,
chính phủ đã quyết định dừng chương trình này. Tuy nhiên, Bộ Thủy Sản
vẫn tiếp tục theo đuổi chiến lược ĐBTSXB mới của mình. Vậy, chiến lược
mới có gì mới?
Phải tổ chức lại sản xuất cho các tàu ĐBTSXB hiện có và xây dựng
lại dự án ĐBTSXB mới có những căn cứ khoa học, yêu cầu cụ thể…là yêu
cầu mà ngành thủy sản phải thực hiện trong năm 2006. Việc xây dựng lại
- 12 -
Đánh bắt xa bờ - Nguyễn Thế Lạc
chiến lược dự án đang gặp rất nhiều cản trở, dù chủ trương thực hiện là
đúng.
Với sự hỗ trợ của các tổ chức nước ngoài, Bộ Thủy sản đã thẩm định
được cơ bản sản lượng thủy sản và khoanh vùng ngư trường có nhiều tôm,
cá; dự báo sản lượng khai thác bền vững không quá 1,5-1,7 triệu tấn/năm;
chỉ giữ đội tàu không quá 5000 chiếc…
Quan trọng hơn cả là dự án ĐBTSXB mới sẽ không đầu tư ồ ạt, có
tính chất bao cấp như trước, do đó ngư dân phải làm chủ thực sự các tàu cá,
chịu trách nhiệm với các kế hoạch khai thác kinh danh của mình.
- 13 -
Đánh bắt xa bờ - Nguyễn Thế Lạc