Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––
BÙI PHƯƠNG THÚY
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
HUYỆN VỊ XUYÊN, HÀ GIANG
THỜI KÌ ĐỔI MỚI
Chuyên ngành : ĐỊA LÝ HỌC
Mã số : 60.31.95
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ NHƯ VÂN
THÁI NGUYÊN - NĂM 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một trong những thành tựu đạt được trong thời kì đổi mới của Việt Nam
là tăng trưởng kinh tế đi đôi công bằng xã hội, đặc biệt đối với miền núi và
vùng dân tộc. Nhờ đó, cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng sản xuất
hàng hoá, đời sống của một bộ phận dân cư, nhất là các dân tộc thiểu số vùng
đặc biệt khó khăn, được cải thiện đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần. Tuy nhiên,
hiện trạng phát triển KTXH ở Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều mặt khó khăn,
yếu kém. Đó là chất lượng tăng trưởng chưa thực sự ổn định và chưa tương
xứng với tiềm năng, sự phân hóa giàu - nghèo, sự xuống cấp về môi trường
sinh thái, thêm nữa, phải đối mặt tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, nước
biển dâng. Do đó, để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại đòi hỏi chúng ta phải thực
hiện phát triển kinh tế với tốc độ nhanh, bền vững và chất lượng cao hơn.
Nội dung lý luận cũng như thực tiễn phát triển KTXH trong thời kỳ đổi
mới có thể tìm thấy qua thực tiễn huyện miền núi biên giới, dân tộc như huyện
Vị Xuyên, Hà Giang. Việc nghiên cứu sâu sắc tình hình phát triển KTXH là
một cơ sở quan trọng trong nhận thức địa lý địa phương cấp huyện cũng như
trong hệ thống kiến thức địa lý học. Do đó, kết quả đề tài có thể sử dụng để
nghiên cứu, biên soạn, giảng dạy và học tập một số bài về địa lý địa phương
huyện Vị Xuyên trong chương trình và sách giáo khoa phổ thông. Đồng thời
Về thời gian, nghiên cứu tình hình phát triển KTXH ở huyện Vị Xuyên
trong thời kì đổi mới, chủ yếu là từ năm 2000 đến nay khi lựa chọn số liệu,
phân tích và đánh giá thực trạng.
Giới hạn không gian nghiên cứu chủ yếu là địa bàn huyện Vị Xuyên
với đặc điểm là huyện miền núi biên giới - dân tộc có sự phân chia theo trình
độ phát triển có tính tới những cơ hội và thách thức do sự hội nhập kinh tế đối
với cộng đồng các dân tộc miền núi biên giới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
3
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu phát triển KTXH là một nội dung quan trọng trong Kinh tế
học và Địa lý học. Trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên
cứu xoay quanh vấn đề này, nhiều giáo trình, tạp chí được xuất bản ở góc độ
này hay góc độ khác đều ít nhiều đề cập đến tình hình phát triển KTXH. Đối
với kinh tế học C.Mác và Ph.Ăngghen đã có những đóng ghóp to lớn, sự ra
đời của học thuyết Giá trị thặng dư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
nhận thức, quan điểm về phát triển kinh tế; Học thuyết kinh tế của C.Mác đã
đưa ra 4 yếu tố nguồn lực quyết định sự phát triển kinh tế. Nhiều học giả
Phương Tây cũng đã cống hiến cho nhân loại nhiều học thuyết về phát triển
kinh tế có giá trị như W.Rostow (người Mỹ) với Lí luận về các giai đoạn phát
triển kinh tế; Lí luận về cơ cấu kinh tế (kết cấu kinh tế) của Lewis, Feller,
Ranis. Các quan điểm Chủ nghĩa phát triển, Thuyết thể chế của Raul Prebisch
(người Achentina), Thuyết định hướng tương lai đã nghiên cứu sâu sắc về
phát triển kinh tế.
Ở Việt Nam, ngay từ khi bắt đầu đổi mới Đại hội Đảng VI (1986) đã
đưa ra quan điểm là phải tập trung ưu tiên phát triển kinh tế, đồng thời phải
thực hiện công bằng xã hội, từng bước cải thiện đời sống nhân dân.
Đã có nhiều nghiên cứu chuyên ngành, nhiều nhà khoa học đã viết về
Cũng phải kể tới sự quan tâm của các nhà địa lý về huyện Vị Xuyên
trong Đề tài nghiên cứu khoa học Cấp Bộ: “Giải pháp phát triển bền vững
trong điều kiện khó khăn của môi trường địa lý vùng cao biên giới qua thực tế
cao nguyên Đồng Văn - Lũng Cú, Hà Giang” (Mã số B 200 - 03- 43) [20]. Về
sự tăng trưởng và giảm nghèo trong thời kỳ đổi mới có báo cáo của chúng tôi
tại Hội nghị khoa hoc Địa lí toàn quốc ngày 19/6/2010 với tiêu đề: “Tăng
trưởng kinh tế và giảm nghèo ở huyện Vị Xuyên, Hà Giang: vấn đề và giải
pháp” [10]. Trong đó, chúng tôi nhận thức được việc nghiên cứu huyện vùng
cao biên giới nói chung và ở Vị Xuyên nói riêng đặt ra nghiều vấn đề cần
được nghiên cứu trên phạm vi rộng lớn hơn, nhất là trong tiến trình chuẩn bị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
5
Đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XI, đang tiến hành đánh giá
thành tựu đạt được, bàn thảo các định hướng cũng như giải pháp tăng trưởng
nhanh và bền vững để cùng với cả nước thực hiện CNH, HĐH và hội nhập
kinh tế quốc tế.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Quan điểm phương pháp luận
Quan điểm tổng hợp: Các hiện tượng Địa lý KTXH rất phong phú và
đa dạng. Chúng có quá trình hình thành, phát triển trong mối liên hệ nhiều
chiều giữa bản thân các hiện tượng đó với nhau và giữa chúng với các hiện
tượng khác. Áp dụng quan điểm này cho phép nghiên cứu các vấn đề KTXH
huyện Vị Xuyên một cách toàn diện và chặt chẽ.
Quan điểm hệ thống: Đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống,
gồm nhiều phân hệ có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Một phân hệ
thay đổi sẽ ảnh hưởng đến vận động của toàn hệ thống. Huyện Vị Xuyên
được coi là một hệ thống được đặt trong hệ thống lớn hơn là tỉnh Hà Giang.
Đến lượt mình, huyện như một hệ thống bao gồm các phân hệ thấp: các xã, thị
biệt là giữa các số liệu có sự so sánh giữa các mốc thời gian và giữa các đơn
vị lãnh thổ.
Phương pháp bản đồ - biểu đồ: Các bản đồ về dân cư, bản đồ kinh tế
chung và phân hóa lãnh thổ dùng để mô tả hiện trạng KTXH, sự phân bố các
hiện tượng địa lý kinh tế, các mối liên hệ lãnh thổ trong không gian, mối quan
hệ giữa chúng và những dự kiến phát triển kinh tế. Các biểu đồ được sử dụng
để phản ánh quy mô, cơ cấu, tốc độ tăng trưởng của các hiện tượng KTXH.
Phương pháp thực địa: Khảo sát thực tế tại cửa khẩu quốc tế Thanh
Thủy, khu Kinh tế quốc phòng 313, TT Vị Xuyên, TT Việt Lâm và một số xã
Phú Linh, Kim Thạch, Đạo Đức, Cao Bồ.
Phương pháp phân tích SWOT: SWOT là tập hợp viết tắt của:
Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và
Threats (Nguy cơ). Đây là công cụ cực kỳ hữu ích giúp chúng ta tìm hiểu vấn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
7
đề hoặc ra quyết định trong việc tổ chức, quản lý cũng như trong kinh doanh.
Trên thực tế, việc vận dụng SWOT trong xây dựng kế hoạch kinh doanh,
hoạch định chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, khảo sát thị trường, phát
triển sản phẩm và cả trong các báo cáo nghiên cứu đang ngày càng được
nhiều doanh nghiệp lựa chọn.
6. Cấu trúc đề tài nghiên cứu
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn bao gồm các chương chủ yếu:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài;
Chương 2. Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội huyện Vị Xuyên thời
kì đổi mới;
Chương 3. Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội huyện Vị
Xuyên, Hà Giang đến năm 2015.
kinh tế quốc tế của Việt Nam, nước ta đã trở thành thành viên chính thức của
Tổ chức thương mại thế giới (7/1/2007).
Phát triển: “phát triển là cái quá trình qua đó một xã hội người cùng
nhau phấn đấu đạt tới chỗ thỏa mãn được các nhu cầu mà xã hội ấy coi là cơ
bản và hiện đại”.[1, tr8]. Hoặc có thể hiểu, “phát triển là quá trình nhằm nâng
cao chất lượng cuộc sống của con người trên nhiều khía cạnh khác nhau như:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
9
nâng cao mức sống vật chất; nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa xã hội; cải
thiện giáo dục, chăm sóc sức khỏe của người dân; cải thiện quan hệ xã hội, tạo
sự bình đẳng về cơ hội và bảo đảm các quyền chính trị và công dân”.[2, tr 4].
Phát triển kinh tế: Có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến)
mọi mặt về kinh tế trong một thời điểm nhất định. Trong đó bao gồm cả sự
tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu KTXH.
Theo Kinh tế chính trị Mác - Lê Nin, “Phát triển kinh tế là sự tăng
trưởng kinh tế đi kèm với sự hoàn chỉnh cơ cấu, thể chế kinh tế và chất lượng
cuộc sống”. Phát triển kinh tế biểu hiện: Một là, sự tăng lên của GNI, GDP
hoặc GNI và GDP/người. Hai là, sự thay đổi của cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ
trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng lên còn tỷ trọng của
ngành nông nghiệp giảm xuống, nhưng giá trị tuyệt đối của các ngành đều
tăng lên. Ba là, chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện,
tăng lên. Muốn vậy, không phải chỉ có GDP hoặc GNI theo đầu người tăng
lên, mà còn phải phân phối hợp lí kết quả tăng trưởng, ổn định lạm phát, ngăn
ngừa khủng hoảng nhờ có thể chế kinh tế tiến bộ. Chất lượng cuộc sống tăng
lên còn thể hiện ở chỗ sản phẩm làm ra có chất lượng ngày càng cao. Ngoài
ra, việc giữ gìn môi trường trong sạch cũng đang là một tiêu chuẩn của chất
lượng cuộc sống và là điều kiện quan trọng của sự phát triển kinh tế bền
vững. [5, tr 42].
phát triển KTXH, sao cho thế hệ tương lai vẫn có đủ số lượng nguồn lực
không ít hơn những gì mà thế hệ hiện tại đang có, để họ có mức sống bằng
hoặc tốt hơn so với thế hệ hiện tại.
Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa cả về kinh tế, xã
hội, môi trường nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của con
người ở các thế hệ hiện tại và tương lai.
1.1.2. Đánh giá phát triển KTXH
1.1.2.1. Các chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế
- Tổng giá trị sản xuất (GO - Gross output)
Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo nên trên phạm vi
lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kì nhất định. Tổng giá trị sản xuất có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
11
thể được tính theo hai cách. Thứ nhất, đó là tổng doanh thu bán hàng thu được
từ các đơn vị, các ngành trong toàn bộ nền kinh tế. Thứ hai, tính trực tiếp từ
sản xuất và dịch vụ gồm chi phí trung gian (IC) và giá trị gia tăng của sản
phẩm vật chất và dịch vụ (VA).
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP- Gross domestic product)
GDP là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do kết
quả hoạt động kinh tế trên phạm vi lãnh thổ quốc gia tạo nên. Đại lượng này
thường được tiếp cận theo các cách khác nhau:
Về phương diện sản xuất: GDP là tổng giá trị gia tăng của các ngành, các
khu vực sản xuất và dịch vụ trong nước sau khi đã trừ đi các chi phí trung gian.
Về phương diện tiêu dùng: GDP được xác định là tổng giá trị của Tiêu
dùng cuối cùng của các hộ gia đình (C); Các khoản chi tiêu của chính phủ
(G); Tổng đầu tư tích lũy tài sản (I); Giá trị kim ngạch xuất khẩu trừ kim
ngạch nhập khẩu (X - M).
Về phương diện thu nhập: GDP được xác định trên cơ sở các khoản
- Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI - National disposable income)
Là phần thu nhập của quốc gia dành cho tiêu dùng cuối cùng và tích lũy
thuần trong một thời kì nhất định. Thực tế NDI là thu nhập quốc dân (NI) sau
khi đã điều chỉnh các khoản thu, chi về chuyển nhượng hiện hành giữa các
đơn vị thường trú và không thường trú.
- Thu nhập bình quân đầu người
Với ý nghĩa phản ánh thu nhập, chỉ tiêu GDP và GNI còn được sử dụng
để đánh giá mức thu nhập bình quân trên đầu người của mỗi quốc gia
(GDP/người; GNI/người). Quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu
người là những chỉ báo quan trọng phản ánh và là tiền đề để nâng cao mức
sống dân cư nói chung.
1.1.2.2. Các chỉ tiêu về thay đổi cơ cấu kinh tế
- Cơ cấu ngành (lĩnh vực) kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế (gọi tắt là cơ cấu ngành) là một bộ phận cấu
thành cơ bản của nền kinh tế quốc dân. Là tổng hợp các ngành (lĩnh vực) của
nền kinh tế được sắp xếp theo một tương quan tỷ lệ nhất định. Ở chừng mực
nhất định, cơ cấu ngành phản ánh trình độ phân công lao động của nền kinh tế
nói chung và trình độ phát triển sức sản xuất nói riêng. Về mặt định lượng cơ
cấu ngành là quy mô và tỷ trọng chiếm về GDP, lao động, vốn của mỗi ngành
trong tổng thể kinh tế. Về mặt định tính thể hiện vị trí và tầm quan trọng của
mỗi ngành trong nền kinh tế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
13
- Cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu thành phần kinh tế là tương quan theo tỷ lệ giữa các thành phần
kinh tế tham gia vào các ngành, lĩnh vực hay các bộ phận hợp thành nền kinh
tế. Là dạng cơ cấu phản ánh tính chất xã hội hóa về tư liệu sản xuất và tài sản
của nền kinh tế. Ở Việt Nam hiện nay tồn tại 6 thành phần kinh tế: kinh tế nhà
người (2100 - 2300 calo) đảm bảo khả năng sống và làm việc bình thường,
có xét tới cơ cấu nam nữ, trọng lượng cơ thể cũng như điều kiện khí hậu,
môi trường.
Nhóm chỉ tiêu giáo dục và trình độ dân trí: Tỷ lệ người lớn biết chữ (từ
15 tuổi trở lên) phân theo giới tính, khu vực; tỷ lệ nhập học các cấp; số năm đi
học trung bình (từ 7 tuổi trở lên); tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục so với tổng
chi ngân sách hoặc so với mức GDP.
Nhóm chỉ tiêu về tuổi thọ bình quân và chăm sóc sức khoẻ bao gồm:
tuổi thọ bình quân tính từ thời điểm mới sinh; tỷ lệ trẻ em chết yểu có thể tính
cho những trẻ em chết trong vòng 1 năm hoặc 5 năm; tỷ lệ trẻ em suy dinh
dưỡng theo các tiêu chuẩn chiều cao, cân nặng; tỷ lệ các bà mẹ tử vong vì lí
do sinh sản được tính bằng số bà mẹ chết trong thời gian mang thai hoặc sau
khi sinh so với 1000 trẻ em sinh ra còn sống; tỷ lệ trẻ em được tiêm phòng
dịch; tỷ lệ chi ngân sách cho y tế.
Nhóm chỉ tiêu về dân số và việc làm bao gồm: tốc độ gia tăng dân số tự
nhiên; tỷ lệ thất nghiệp thành thị; tỷ lệ sử dựng thời gian lao động ở khu vực
nông thôn. Tốc độ tăng dân số cao dẫn đến tốc độ tăng trưởng lao động lớn
hơn so với khả năng tăng trưởng việc làm và tình trạng thất nghiệp trở thành
vấn đề bức xúc của xã hội. Một tốc độ tăng dân số ngày càng thấp thể hiện xu
thế của sự phát triển và kéo theo đó là tỷ lệ thất nghiệp ngày càng giảm đi.
Chỉ số phát triển con người: là thước đo tổng hợp về sự phát triển của
con người, phản ánh mức độ đạt được những khát vọng chung của họ. Đó là
có sức khỏe dồi dào, có tri thức và mức thu nhập cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
15
- Chỉ tiêu về nghèo đói và bất bình đẳng
Các chỉ tiêu thường sử dụng để đánh giá nghèo đói và bất bình đẳng về
kinh tế gồm: tỷ lệ hộ nghèo trong xã hội có sự phân chia theo từng vùng, giới
(1) Giai đoạn đầu là giai đoạn “khởi động và tạo đà” phát triển và hội
nhập quốc tế sâu, toàn diện. Là giai đoạn Việt Nam phải tập trung tạo dựng
các yếu tố nền tảng để phát triển. Trước hết là phát triển con người; xây dựng
thể chế và khung khổ pháp lí; tạo dựng các ngành, lĩnh vực then chốt; xây
dựng kết cấu hạ tầng theo hướng hiện đại cho nền kinh tế và mở rộng hội
nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời phải coi trọng vấn đề nông dân, nông nghiệp,
nông thôn và vấn đề tích lũy từ nông, lâm, ngư nghiệp; tạo ra sự thay đổi về
chất của bản thân khu vực này, làm cho khu vực này có tích lũy và góp phần
tạo tiền đề chuyển dịch cơ cấu phân công lao động xã hội cũng như triển khai
công nghiệp hóa kiểu mới trên quy mô lớn. Trong giai đoạn đầu công nghiệp
chế tạo máy móc thiết bị phục vụ nông nghiệp và chế biến nông, lâm, thủy
sản, công nghiệp khai khoáng cần được ưu tiên phát triển. Những xí nghiệp
then chốt (quy mô lớn, công nghệ cao) sẽ được lựa chọn và cân nhắc kĩ càng
để xây dựng, tạo nhân tố cho công nghiệp phát triển quy mô lớn, tốc độ cao.
Nền kinh tế mở cửa mạnh với bên ngoài.
(2) Giai đoạn tiếp theo (dài khoảng 30 năm) là giai đoạn phát triển cao
hơn về chất trên cơ sở có sự phát triển tiên tiến, hiện đại của công nghiệp và
dịch vụ. Tự động hóa, tin học hóa phải được đặc biệt chú trọng và phát triển
mạnh mẽ, hàm lượng chất xám chiếm nhiều hơn trong giá trị sản phẩm hàng
hóa và sản phẩm dịch vụ. Hình thành rõ nét các ngành, lĩnh vực và lãnh thổ
động lực. Nền kinh tế hội nhập sâu, toàn diện và có hiệu quả với quốc tế. Về
cơ bản xã hội đã có tiến bộ vượt bậc, có được dấu ấn của hiện đại và tiến bộ
rõ nét. Nước ta đã có sức mạnh về kinh tế, văn hóa phát triển cao; an ninh,
quốc phòng vững mạnh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
17
(3) Giai đoạn đất nước thực sự hưng thịnh, nền kinh tế đã cất cánh. Giai
đoạn này bắt đầu có thể tính từ sau năm 2045, thời gian khoảng 30 năm. Các
cao chất lượng, hiệu quả. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện tái
cấu trúc nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất và dịch vụ;
thúc đẩy cơ cấu lại doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường; tăng
nhanh hàm lượng nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm,
doanh nghiệp và của cả nền kinh tế .
Phấn đấu đạt tăng trưởng GDP bình quân 7 - 8% /năm. GDP bình
quân đầu người đạt 3000 - 3200 USD. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Xây
dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, hiệu quả. Tỉ trọng các ngành công nghiệp, dịch
vụ chiếm khoảng 85% trong GDP. Giá trị sản phẩm công nghệ cao chiếm
khoảng 40% trong tổng GDP công nghiệp. Nông nghiệp có bước phát triển
toàn diện, hiệu quả, bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Tỉ lệ
lao động nông nghiệp khoảng 30% lao động xã hội. Kết cấu hạ tầng tương
đối đồng bộ. Tỉ lệ đô thị hoá đạt trên 45%. Số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn
mới khoảng 50%.
Xây dựng xã hội đồng thuận, dân chủ, kỉ cương, công bằng, văn minh.
Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới; tốc
độ tăng dân số ổn định ở mức 1,1%/năm; tuổi thọ trung bình đạt 75 tuổi, đạt 9
bác sĩ và 26 giường bệnh/một vạn dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; lao
động qua đào tạo chiếm trên 70%, lao động qua đào tạo nghề chiếm 55% tổng
lao động xã hội; tỉ lệ hộ nghèo giảm 2 - 3%/năm; phúc lợi an sinh xã hội được
đảm bảo. Thu nhập thực tế của dân cư gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2010;
thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng và nhóm dân cư.
Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp CNH, HĐH. Có một số lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục y tế
đạt trình độ tiên tiến, hiện đại. Số sinh viên đạt 450 trên một vạn dân. Xây
dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, gia đình tiến bộ,
hạnh phúc; con người phát triển toàn diện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
20
kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thân thiện với môi trường; chú trọng phát
triển đô thị miền núi, phát triển mạnh các đô thị ven biển. Phát huy vai trò là
trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học và công nghệ của các trung tâm trên
từng vùng và địa phương, tạo hiệu ứng lan toả nhanh, hiệu quả cao trong sự
gắn kết giữa sản xuất với thị trường từ trung tâm đến ngoại vi. Có chính sách
để phát triển mạnh nhà ở cho nhân dân, nhất là cho các đối tượng chính sách
và người có thu nhập thấp.
Xây dựng nông thôn mới: Qui hoạch phát triển nông thôn gắn với phát
triển đô thị và bố trí các điểm dân cư. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ
và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường. Triển khai xây dựng chương trình
xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng. Đẩy mạnh xây
dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi
khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn. Thực hiện tốt các chương
trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo và các đối tượng chính sách, đồng bào
vùng bão, lũ, ven biển.
Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó có hiệu
quả với biến đổi khí hậu, nước biển dâng: Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường,
gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển KTXH. Đổi mới cơ
chế quản lí tài nguyên và bảo vệ môi trường. Thực hiện nghiêm ngặt xử lí các
cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Hoàn thiện hệ thống luật pháp về bảo vệ môi
trường; xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lí các hành vi vi phạm.
Khắc phục sự suy thoái, khôi phục và nâng cao chất lượng môi trường. Thực
hiện tốt chương trình trồng rừng, ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy
rừng; tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên. Khai thác có hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên, bảo đảm môi trường và cân bằng sinh thái. Chú trọng
phát triển nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Thực hiện sản xuất và
tiêu dùng bền vững, từng bước phát triển “năng lượng sạch”, “sản xuất sạch”,
“tiêu dùng sạch”.
cấu vốn; chuyển dịch cơ cấu lao động; chuyển dịch cơ cấu thị trường, cơ cấu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
22
thể chế kinh tế. Vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta dựa vào mô hình
kinh tế nào? Theo ý kiến của các nhà khoa học, đó là mô hình kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; là mô hình kinh tế phát triển theo
hướng tăng chất lượng, hiệu quả và bền vững. Nói cụ thể hơn, mô hình kinh
tế đó thể hiện trên những mặt chủ yếu sau:
Một là, tăng năng suất đất đai và năng suất biển, thềm lục địa, làm sao
trên mỗi đơn vị diện tích đất đai ngày càng thu được nhiều giá trị sản lượng
hàng hóa có khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Hai là, tăng năng suất lao động. Giá trị sản lượng nông nghiệp đạt
khoảng 256 - 300 USD/lao động nông nghiệp.
Ngoài ra, mô hình kinh tế đó phát triển theo hướng tăng hiệu quả chi phí,
tiết kiệm năng lượng, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường.
1.1.4. Lý luận và cách tiếp cận đối với phát triển kinh tế - xã hội địa
phƣơng vùng dân tộc thiểu số miền núi và biên giới
Nghiên cứu KTXH địa phương là nghiên cứu thể tổng hợp KTXH địa
phương, trong đó có hướng tới việc phân tích lãnh thổ và sự phân bố các đối
tượng theo không gian và thời gian. Phải đánh giá các nguồn lực phát triển;
phân tích cơ cấu và đặc điểm KTXH hiện tại; phải đưa ra hướng phát triển và
các giải pháp thực hiện trong tương lai.
Trong địa lý học, về mặt tự nhiên hay về KTXH các vùng lãnh thổ luôn
được xem xét theo hai chiều cạnh thuận lợi và khó khăn. Ở nước ta, các vùng
đồng bằng, đô thị và dải ven biển được coi là thuận lợi còn các vùng trung du,
miền núi hầu hết là các vùng khó khăn chậm phát triển. Trong đó đặc biệt khó
khăn là vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo. Mà trong giai
quản lí tài nguyên thiên nhiên; nguồn lực con người phải được phát triển và
trao quyền. Đồng thời trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
hiện nay cũng cần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế, tạo điều kiện để tiếp
bước trên con đường CNH, HĐH đất nước.