Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
57
- Thu nhập của hộ dân quyết định đến vấn đề chi tiêu cho y tế, nếu hộ dân có
điều kiện kinh tế khá họ sẽ có tiền để mua thuốc, có tiền khám chữa bệnh.
- Hộ có thu nhập khá ngoài việc sử dụng các sản phẩm sản xuất từ nông
nghiệp nhƣ lƣơng thực, thực phẩm do họ tự làm ra, họ sẽ mua bổ sung thêm thực
phẩm khác để cung cấp đủ dinh dƣỡng qua các bữa ăn hàng ngày. Ngƣợc lại với
những hộ khó khăn, sản phẩm nông nghiệp tạo ra phải hạn chế tiêu dùng, phần còn
lại dùng để bán lấy tiền chi cho nhu cầu thiết yếu khác.
- Tập tục sinh hoạt ăn ở của ngƣời dân vùng cao còn khá lạc hậu, nhận thức
về vấn đề bảo vệ chăm sóc sức khỏe chƣa đầy đủ cũng đã hạn chế sự phát triển thể
trạng, sức khỏe của ngƣời dân.
Quá trình nghiên cứu, chƣa có điều kiện khảo sát, đánh giá về tình trạng sức
khỏe nhƣ chiều cao, cân nặng, tuổi thọ trung bình những bằng quan sát thực tế khi
phỏng vấn hộ gia đình cho thấy sức khỏe của ngƣời dân giữa các vùng là khác nhau.
Ở những vùng thấp, thể trạng sức khỏe và khả năng đầu tƣ chăm sóc sức khỏe nhìn
chung là tốt hơn các vùng còn lại.
Tình hình bệnh tật của ngƣời dân khu vực nghiên cứu:
- Các bệnh thƣờng gặp phổ biến nhất là mắc bệnh nhiễm khuẩn nhƣ nhiễm
trùng đƣờng hô hấp, bệnh đƣờng tiêu hóa. Bệnh biếu cổ giảm nhanh do tỉnh có
chính sách trợ giá muối Iốt cho ngƣời dân vùng cao, kết hợp với tuyên truyền phòng
chống bệnh và khuyến cáo sử dụng nƣớc sạch nông thôn. Hiện nay nhân dân khám
chữa bệnh chủ yếu ở tuyến huyện và tuyến tỉnh, đồng thời kết hợp với chữa bệnh
truyền thống bằng thuốc đông y.
- Khi khảo sát, tìm hiểu tình trạng sức khỏe của ngƣời dân tại vùng nghiên
cứu, chúng tôi thấy hộ nào có nhiều ngƣời ốm, sức khỏe yếu thì điều kiện kinh tế
gia đình rất khó khăn. Ngoài chi phí cho việc khám chữa bệnh thì thời gian ốm, thời
gian điều trị chữa bệnh kéo dài dẫn đến hộ thiếu lao động, thiếu ngƣời làm. Nhƣ vậy
63
56
51
2. Số trẻ phải nghỉ học
26
12
8
6
3. Số trẻ đƣợc đi học thêm ngoại khóa
20
3
5
12
4. Ý kiến của các hộ (có trẻ học văn
hóa) về định hƣớng giáo dục, chia ra :
104
37
33
34
- Tiếp tục học lâu dài
76
31
23
22
- Không theo học lâu dài
13
3
5
6
- Chƣa xác định
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra
+ Đối với các hộ dân vùng cao do điều kiện kinh tế khó khăn, mức thu nhập
thấp và nhận thức của ngƣời còn rất hạn chế là nguyên nhân chính dẫn đến tình
trạng trẻ em phải bỏ sớm cao hơn ở vùng trung du và vùng thấp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
59
+ Khi đƣợc hỏi ý kiến của hộ về tƣơng lai học tập của trẻ thì có đến 73% số
hộ trả lời sẽ cho con em của họ tiếp tục theo học lâu dài. Tuy nhiên khó khăn hiện
nay khi hộ gia đình có trẻ đi học thì vấn đề kinh phí đang là những trở ngại lớn nhất
đối với các hộ gia đình. Ngoài ra với những lý do nhƣ nhà xa, trẻ không thích đi học
nữa và gia đình thiếu ngƣời làm cũng là những nguyên nhân ảnh hƣởng đến việc
học tập của trẻ.
- Đào tạo chuyên môn kỹ thuật:
+ Số ngƣời đang đƣợc theo học tại các trƣờng đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp và dạy nghề còn rất ít, chỉ đạt tỷ lệ 3,96%/tổng dân số. Cơ cấu đang
đào tạo mất cân đối (bảng 2.14). Nhƣ vậy cơ cấu đào tạo ở vùng nông thôn hiện nay
đang bất hợp lý giữa các cấp trình độ.
+ Có một thực tế đang diễn ra là số học sinh, sinh viên sau khi đƣợc đào tạo
trở về làm việc trong khu vực nông thôn là rất ít, mặc dù số ngƣời đƣợc đi học ngày
càng tăng. Nhƣ vậy trong nhiều năm tới khu vực nông thôn của tỉnh Thái Nguyên
cũng nhƣ cả nƣớc sẽ không có nhiều lao động có kỹ thuật.
Bảng 2.14. Cơ cấu đào tạo của những ngƣời đang theo học
Đvt: %
Chỉ tiêu
Chung
Theo khu vực
Vùng cao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
60
Vì vậy trƣớc mắt cần đẩy mạnh công tác đào tạo nghề tại chỗ cho ngƣời dân,
khuyên nông khuyến lâm và gắn đào tạo với giải quyết việc làm tại chỗ. Nâng cao
chất lƣợng đào tạo các khóa đào tạo về khuyến nông, khuyến lâm. Chú ý đến các
nội dung giảng dạy phải phù hợp với điều kiện ứng dụng trong thực tiễn sản xuất,
đổi mới phƣơng pháp tập huấn đào tạo để nâng cao hiệu quả của chƣơng trình nhƣ
hỗ trợ nhân dân đi tham quan học tập, tìm hiểu kinh nghiệm thực tế. Về lâu dài cần
có các chính sách thu hút lao động có trình độ về làm việc tại khu vực nông thôn.
* Thực trạng truyền thông, thông tin và thể thao:
Theo kết quả điều tra, hiện nay phƣơng tiện truyền thông đƣợc các hộ sử
dụng phổ biến nhất là vô tuyến. Có đến 90,55% các hộ điều tra có Tivi, trong khi đó
chỉ có 34% hộ sử dụng radio (bảng 2.15).
Bảng 2.15. Một số chỉ tiêu về thông tin - văn hóa và thể thao
Chỉ tiêu
Chung
Theo khu vực
Vùng
cao
Trung
du
Miền
núi
1. Tỷ lệ hộ có vô tuyến (%)
90,55
85
269
62
103
104
- Y tế
181
40
80
61
- Giáo dục
75
13
23
39
- Khác
13
9
0
4
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra
Một điều đáng nói là chỉ có 8,9% số hộ thƣờng xuyên đọc báo hoặc tạp chí, tỷ
lệ này quá thấp do một bộ phận ngƣời dân chƣa có tiền để thƣờng xuyên mua, một
số ngƣời chƣa có thói quen đọc sách báo, chƣa thấy lợi ích từ việc đọc báo. Các đầu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
61
báo, tạp chí hiện nay ngƣời dân quan tâm chủ yếu về các lĩnh vực văn hóa, xã hội,
an ninh.
62
2.2.2. Thực trạng sử dụng lao động trong các hộ điều tra
2.2.2.1. Cơ cấu lao động trong các hộ gia đình chia theo vị trí làm việc
Quá trình nghiên cứu tìm hiểu thực trạng sử dụng nhân lực trong các hộ gia
đình, chúng tôi phân tổ thành các nhóm lao động theo vị trí làm việc và đặc điểm
việc làm để nghiên cứu. Nếu xét về đặc điểm vị trí nơi làm việc thì số lao động
thƣờng xuyên làm việc tại hộ chiếm đến 72,13%, số lao động làm việc cả trong và
ngoài hộ là 11,88%, số lao động chỉ làm những công việc độc lập ngoài hộ là
15,89% (bảng 2.16).
Bảng 2.16. Phân bố lao động chia theo vị trí làm việc
Theo
khu vực
Lao động thƣờng
xuyên làm việc tại hộ
Lao động làm việc
cả trong và ngoài hộ
Lao động làm
việc ngoài hộ
Số ngƣời
Cơ cấu
(%)
Số ngƣời
Cơ cấu
(%)
Số
ngƣời
Cơ cấu
(%)
- Lao động thƣờng xuyên làm việc tại hộ là những ngƣời làm những công việc
chung với các thành viên khác trong hộ gia đình, không hạch toán thu chi riêng.
Theo điều tra nhóm công việc của ngƣời lao động làm tại hộ chủ yếu vẫn là lao
động sản xuất nông nghiệp, một số ít có tham gia các hoạt động dịch vụ tại chỗ nhƣ
chế biến lƣơng thực thực phẩm, dịch vụ bán lẻ hàng tiêu dùng.
- Lao động có thời gian làm việc cả trong và ngoài hộ, họ vừa có thời gian
làm việc tại hộ vừa có hoạt động làm thuê hoặc làm những công việc khác độc lập
với công việc của các thành viên khác trong gia đình. Nhóm công việc này phổ biến
ở nông thôn hiện nay nhƣ kinh doanh dịch vụ nông nghiệp lƣu động, xây dựng, lái
xe Tuy nhiên số lao động này chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng số lao động nông thôn.
Mặt khác các nghề làm thêm chỉ có tích chất tạm thời, ngƣời dân tranh thủ làm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
63
thêm vào thời gian nông nhàn để có thêm thu nhập giải quyết nhu cầu tiêu dùng
trƣớc mắt của hộ gia đình. Một số nơi công việc đi làm thêm có tính thời vụ rất cao
nhƣ hái chè thuê, thu hoạch và sơ chế thuốc lá.
- Số lao động thƣờng xuyên làm việc ngoài hộ phần lớn là lao động đi làm
thuê hƣởng tiền lƣơng trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, các cơ
sở sản xuất kinh doanh. Tổng số lao động này chiếm đến gần 60%, còn lại khoảng
40% là lao động làm việc cho các cơ quan nhà nƣớc.
Cơ cấu lao động chia theo vị trí làm việc giữa các vùng nghiên cứu rất khác
nhau. Lao động có thêm việc làm ngoài hộ và lao động có việc làm chính ngoài hộ
ở vùng trung du, vùng thấp cao hơn nhiều so với các hộ điều tra tại vùng cao. Có
nhiều nguyên nhân tạo nên sự khác nhau về cơ cấu lao động theo vị trí làm việc.
Trong đó thực trạng phát triển kinh tế xã hội của vùng ảnh hƣởng rất lớn đến cơ cấu
việc làm của lao động.
- Ở vùng thấp nền kinh tế phát triển hơn, kinh tế hàng hóa chi phối hoạt động
- Thời gian làm những công việc khác nhƣ thu rọn nhà cửa, sửa chữa đồ
đạc… bình quân 0,91giờ/ngày, nếu sắp xếp bố trí hợp lý và có thêm việc làm thì có
thể huy động sử dụng để tạo thêm thu nhập cho hộ gia đình.
Bảng 2.17. Thời gian làm việc bình quân của lao động làm việc tại hộ
Đvt: giờ
Chỉ tiêu
Chung
Theo khu vực
Vùng
cao
Trung
du
Vùng
thấp
1.Thời gian làm việc bình quân/ngày
8,31
7,93
8,65
8,18
2. Thời gian làm việc trong nông nghiệp
4,42
4,46
4,92
3,77
3. Thời gian làm công việc phi nông nghiệp
1,75
0,89
1,65
2,58
Nhƣ vậy diện tích đất sản xuất nông nghiệp ảnh hƣởng lớn đến việc làm và sử
dụng lao động của hộ, tuy nhiên nếu biết cách tổ chức sản xuất hợp lý, đầu tƣ canh
tác những cây trồng vật nuôi nhƣ trồng hoa, cây cảnh, cây dƣợc liệu không sử dụng
dụng nhiều đất vẫn đem lại hiệu quả kinh tế cao.
* Một số đặc trƣng của lao động thuần nông nghiệp:
Đặc điểm nổi bật của lao động thuần nông là trình độ chuyên môn kỹ thuật rất
thấp. Số ngƣời đƣợc đào tạo chuyên môn kỹ thuật chỉ chiếm 3,67% còn lại 96,33%
lao động chƣa đƣợc đào tạo (bảng 2.18). Trong số ngƣời đƣợc đào tạo thì duy nhất
chỉ có 01 ngƣời là chuyên ngành đào tạo thuộc lĩnh vực nông nghiệp.
Trong nhiều năm gần đây, nhà nƣớc đầu tƣ nhiều kinh phí cho các chƣơng
trình đào tạo, tập huấn khuyến nông, khuyến lâm cho ngƣời dân. Qua điều tra phỏng
vấn các hộ trả lời đều đƣợc tham gia các khóa tập huấn ngắn hạn về khuyến nông.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt đƣợc còn nhiều tồn tại bất cập. Kiến thức từ
các lớp tập huấn kỹ thuật chƣa đi vào thực tiễn sản xuất do trình độ nhận thức của
ngƣời dân hạn chế, điều kiện áp dụng chƣa đồng bộ. Với thực trạng này thì đây sẽ là
vấn đề rất khó để ngƣời dân tiếp thu, ứng dụng nhanh tiến bộ kỹ thuật trong sản
xuất nông nghiệp, sản xuất hàng hóa đại trà và càng khó có điều kiện chuyển dịch
cơ cấu ngành nghề trong sản xuất nông nghiệp nói chung, chuyển dịch cơ cấu lao
động trong khu vực nông thôn nói riêng.
Lao động thuần nông là nữ chiếm 62,3%. Tỷ lệ lao động nữ thuần nông ở các
khu vực đều cao hơn nam giới đặc biệt là ở khu vực trung du, vùng cao. Nguyên
nhân xuất phát từ tập quán nữ giới chỉ tham gia công việc đồng áng và quán xuyến
gia đình là chính, họ ít có cơ hội tìm kiếm thêm việc làm phi nông nghiệp. Một vấn
đề nữa là do trình độ của phụ nữ nói chung là hạn chế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
66
Khi nghiên cứu đặc điểm của các nhóm lao động, chúng tôi chọn tiêu chí lao
2. Cơ cấu lao động đƣợc đào
tạo chia theo cấp trình độ
100
100
100
100
- Đại học, cao đẳng
0
0
0
0
- Trung học chuyên nghiệp
85,71
50
100
100
- Công nhân kỹ thuật
14,29
50
0
0
3. Tỷ lệ lao động chia theo giới
và nhóm hộ
100
100
100
100
- Nữ
62,3
56,88
tra quy ƣớc sản xuất hàng hóa là có trên 50% sản phẩm làm ra để bán hoặc trao đổi.
Tóm lại: Đặc trƣng của nhóm lao động thuần nông là thiếu lao động có kỹ
thuật, mức thu nhập thấp, sản xuất nông nghiệp có tính chất tự cung tự cấp vẫn còn
khá phổ biến. Để nâng cao hiệu quả lao động trong sản xuất nông nghiệp các hộ cần
phải chủ động lựa chọn cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế, đồng thời phải tìm
kiếm thêm công việc khác có mức thu nhập cao và ổn định hơn.
* Lao động có thời gian làm việc thuộc ngành nghề, lĩnh vực phi nông
nghiệp tại hộ:
Trong số lao động có thời gian làm việc thuộc các ngành, lĩnh vực phi nông
nghiệp thì lao động phổ thông chiếm đa số, chỉ có 6% lao động có chuyên môn kỹ
thuật (bảng 2.19). Tuy nhiên nếu so sánh tỷ lệ lao động có kỹ thuật thì cao hơn mức
bình quân chung của nhóm lao động thuần nông.
Đối với số lao động chuyên môn kỹ thuật có 71,66 % trả lời công việc đang
làm của họ phù hợp với nghề đào tạo (tỷ lệ chung của các hộ điều tra là 22,59%).
Nhƣ vậy lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật làm công việc phi nông nghiệp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
68
đã phát huy đƣợc nghề đào tạo. Họ đã chủ động tạo đƣợc thêm việc làm tại, đem lại
nguồn thu nhập cho bản thân và gia đình của họ.
Nhóm lao động này chỉ có 12,54% là ngƣời nghèo. Tỷ lệ này thấp hơn mức
bình quân chung của tổng số lao động điều tra và thấp hơn 3 lần so với lao động
nghèo thuần nông. Theo kết quả điều tra cho thấy những ngƣời có trình độ chuyên
môn kỹ thuật làm các nghề phi nông nghiệp thì không có ai thuộc nhóm ngƣời
nghèo. Các nghề, công việc phi nông nghiệp tranh thủ đƣợc thời gian nhàn rỗi của
lao động, hoạt động sản xuất ít bị ảnh hƣởng bởi thiên tại, dịch bệnh nên có tính
chất ổn định và bền vững hơn sản xuất nông nghiệp. Thời gian thu lãi ngắn hơn chu
kỳ sản xuất nông nghiệp, ngƣời dân dễ tính đƣợc mức thu nhập.
8,53
3. Cơ cấu lao động đƣợc đào
tạo chia theo cấp trình độ
100
100
100
100
- Đại học, cao đẳng
8,33
0
0
14,29
- Trung học chuyên nghiệp
75
50
66,67
71,42
- Công nhân kỹ thuật
16,67
50
33,33
14,29
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra
Số ngƣời có thời gian làm các công việc thuộc các nghề, lĩnh vực phi nông
nghiệp ở khu vực trung du và vùng thấp cao hơn gấp 2,5 lần so với khu vực vùng
cao. Do điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở các xã vùng cao còn rất nhiều khó
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
69
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
70
- Nơi làm việc chia theo khu vực, thành thị, nông thôn: Số lƣợng lao động đến
làm việc ở khu vực thành thị, lao động đi làm việc ở xa gia đình có xu hƣớng càng
xuống thấp thì càng tăng do nguyên nhân sau:
+ Khoảng cách vùng thấp đến các khu vực thành thị gần hơn so với vùng cao.
+ Lao động vùng thấp có trình độ tay nghề cao hơn.
+ Tâm lý lao động vùng thấp không ngại thay đổi công việc, thích tìm kiếm
việc làm mới và nhanh chóng thích ứng với điều kiện, môi trƣờng làm việc nên dễ
kiếm đƣợc việc làm ở thành thị và sẵn sàng đi việc làm ở xa gia đình.
Bảng 2.20. Cơ cấu lao động làm việc ngoài hộ
chia theo vị thế, theo địa giới hành chính
Đvt: %
Chỉ tiêu
Chung
Theo khu vực
Vùng cao
Trung du
Vùng thấp
1. Cơ cấu lao động chia theo
cơ quan tổ chức
100
100
100
100
- Cơ quan nhà nƣớc
33,34
55,16
3. Cơ cấu lao động chia theo
địa giới hành chính của nơi
đến làm việc
100
100
100
100
- Trong huyện
67,64
65,51
76,36
59,61
- Trong tỉnh
12,5
10,34
10,9
15,38
- Ngoài tỉnh
19,86
24,15
12,74
25,01
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra