tư tưởng nhân nghĩa trong thơ văn nguyễn trãi - Pdf 20

Trường THPT Chuyên Bắc Ninh
Tổ Ngữ Văn
*****
BÁO CÁO KHOA HỌC
Đề tài:
Tư tưởng nhân nghĩa trong thơ văn
Nguyễn Trãi
Giáo viên hướng dẫn: Phạm Ngọc An
Những người thực hiện:
1. Nguyễn Lan Anh
2. Vũ Lan Anh
3. Cao Thu Hà
4. Dương Thanh Hiền
5. Đỗ Thương Huyền
6. Nguyễn Thị Ngọc Lan
7. Nguyễn Yến Linh
8. Nguyễn Thị Thảo Ngọc
9. Lê Thị Thùy Trang
10.Nguyễn Hải Yến
11. Đào Thị Yến
Học sinh lớp 10 Văn – Khóa 2013-2016
Bắc Ninh, ngày 26 tháng 1 năm 2014
1
Mục Lục
STT Tên đề mục Trang
1 Thống nhất kí hiệu viết tắt
1
2 Mục lục
2
3 A.Phần mở đầu
3

19
16 3. Tư tưởng nhân nghĩa gắn với thái độ đề cao coi trọng
con người, đặc biệt là nhân dân lao động
22
17 C.Kết luận
25
18 1. Lí giải
25
19 2. Khẳng định vấn đề
26
20 3. Hướng phát triển của đề tài
26
21 Phụ lục
28
2
A.Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài

“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
(Hồ Chí Minh)
Lịch sử dân tộc Việt Nam là công cuộc dựng nước và giữ nước.
Trong dòng chảy hào hùng ấy đã sản sinh ra biết bao cá nhân anh hùng.
Trong số những nhà tư tưởng yêu nước đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi được
khẳng định là người xuất sắc nhất. Để có được sự đánh giá đó không chỉ do
cuộc đời đức độ hay những công lao to lớn về quân sự mà quan trọng trước
hết là nhờ tư tưởng vượt tầm thời đại của ông. Một trong số đó là tư tưởng
nhân nghĩa, một tư tưởng đã được ông nâng lên khái quát thành quy luật
bất biến trong mọi công cuộc cứu nước và dựng nước của lịch sử dân tộc.
Đối với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa là một tư tưởng, hơn nữa, là một phương

đất huyền bí, có sức hút mãnh liệt, là một dòng nước chưa bao giờ cạn đối
với các nhà nghiên cứu. Số lượng công trình nghiên cứu về thơ văn và cuộc
đời Nguyễn Trãi là rất đồ sộ. Một số bài viết của các tác giả sau đây sẽ
giúp chúng ta thấy rõ điều đó:
- “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” – Nguyễn Tài Như (Chủ biên)
- “Lịch sử tư tưởng chính trị” – Dương Xuân Ngọc (Chủ biên)
- “Nguyễn Trãi – Anh hùng giải phóng dân tộc – Danh nhân văn hoá
thế giới” của tác giả Nguyễn Tường Minh.
- “Nguyễn Trãi – Nhà chính trị và văn hoá thiên tài” của tác giả
Nguyễn Đổng Chi.
- Tác phẩm “Nguyễn Trãi – Khí phách và tinh hoa của dân tộc” của
Viện văn học.
- Tác phẩm “Nguyễn Trãi – Người anh hùng dân tộc vĩ đại – Nhà văn
hoá kiệt xuất” của Phạm Văn Đồng – Vị Nguyên Giáp (NXB Sự thật).
Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều công trình nghiên cứu về thơ văn của
Nguyễn Trãi với những tên tuổi lớn như Đặng Thai Mai, Nguyễn Khuê,
Xuân Diệu… rất nhiều những bài viết, những tiểu luận, những công trình
nghiên cứu khác mà chúng tôi chưa biết đến. Với báo cáo khoa học này,
trên cơ sở kế thừa và phát triển những thành tựu của những người đi trước,
chúng tôi xin góp phần bổ sung vào lịch sử vấn đề thêm một cách nhìn mới
về đề tài : Tư tưởng nhân nghĩa trong thơ văn Nguyễn Trãi. Từ đó khẳng
định tài năng, vai trò, vị trí cũng như những đóng góp của Nguyễn Trãi cho
nền văn học dân tộc.
4
III. Phạm vi đề tài
Có thể nói, thơ văn Nguyễn Trãi cũng giống như một mảnh đất màu
mỡ mà người đời sau có kì công cày xới cũng không thể thấy hết được giá
trị. Song, với phạm vi một đề tài nhỏ, vốn hiểu biết còn hạn hẹp và tuổi đời
ít ỏi, chúng tôi chỉ giới hạn đề tài này trong tư tưởng nhân nghĩa – một vấn
đề thiết yếu trong chương trình THPT.

Chương 1: MẤY VẤN ĐỀ CHUNG
I. Về tác gia Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi (1380 – 19 tháng 9 năm 1442), quê gốc ở làng Chi Ngại,
huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương). Ông
là con trai của Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, là cháu ngoại của
Trần Nguyên Đán.
Thi đỗ Thái học sinh năm 1400, Nguyễn Trãi từng làm quan dưới
triều Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi
tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại ách
Minh thuộc. Ông trở thành mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn trong việc bày
tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn thư ngoại giao với quân Minh.
Ông là khai quốc công thần và là văn thần có uy tín ở thời đầu nhà Hậu Lê.
Tuy nhiên, năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong
vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan
cho ông.
Nguyễn Trãi cũng là một nhà văn hoá lớn, có đóng góp to lớn vào sự
phát triển của văn học và tư tưởng Việt Nam. Ông cũng là một danh nhân
văn hoá Thế Giới – Danh nhân văn hóa đầu tiên của dân tộc. Sáng tác của
ông không chỉ có ở những áng văn xuôi chính luận mẫu mực, ở những
trang thơ Nôm chứa đựng những thành tựu đột khởi của thơ ca Tiếng Việt
ở chặng đầu mà còn rung động lòng người bởi lí tưởng nhân nghĩa tiến bộ
vượt tầm thời đại.
II. Tư tưởng nhân nghĩa trong lịch sử trung đại
6
Trong lịch sử trung đại, nhân nghĩa là tư tưởng mang tính chất cốt lõi
của Nho giáo do Khổng Tử đề xướng. Chữ Nhân của Khổng Tử với chữ
Nghĩa của Mạnh Tử từ lâu đã trở thành những nguyên lý đạo đức và chính
trị của giai cấp phong kiến nhằm củng cố nội bộ và xác định địa vị thống
trị của nó đối với nhân dân. Vì vậy, chữ Nhân và Nghĩa lại được những nhà
văn hóa dân tộc Việt Nam ta từ Trương Hán Siêu , Nguyễn Trung Ngạn

Nếu như tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo không xuống đến dân, không
gắn với quyền lợi của dân, không vì dân, chỉ gắn với những tầng lớp trên
của xã hội (Nhân nghĩa bất hạ thứ dân) thì với Nguyễn Trãi, Nhân và
Nghĩa không phải là những tiêu chuẩn đạo đức chỉ dành cho riêng một
thiểu số ưu Việt và cao quý nào, nhân và nghĩa là lòng yêu thương nhân
dân, là sức mạnh để chiến thắng hung tàn và cường bạo. Mở đầu bình Ngô
đại cáo, Nguyễn Trãi đã viết : “ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu
phạt trước lo trừ bạo”. Đây chính là tuyên ngôn về quan điểm nhân nghĩa
của Nguyễn Trãi. Nhưng cũng lại chính vì thế mà chí nhân, đại nghĩa lại là
nền tảng của tư tưởng bao dung độ lượng đối với kẻ thù đã đầu hàng. Với
Nguyễn Trãi, Nhân nghĩa về thực chất chính là chủ nghĩa nhân đạo của dân
tộc ta mà nội dung là coi trọng con người, coi trọng nhân dân, coi trọng sự
nhân ái giữa con người với con người, coi trọng sự hòa hiếu giữa các dân
tộc.
Nhân nghĩa – đó là một nguyên lý mà Nguyễn Trãi coi như bất di bất
dịch - một lý tưởng sống, lý tưởng viết xuyên suốt cuộc đời và cả sự
nghiệp văn chương của ông – cũng bởi lẽ đó mà nó được nâng lên thành
một lý tưởng vô cùng cao đẹp trong cuộc đời.
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi có một vị trí vô cùng quan
trọng, là một tư tưởng cốt lõi, xuyên suốt toàn bộ nội dung sáng tác của
ông. Có lẽ tư tưởng ấy đã trở thành nguồn cảm hứng, theo suốt sự nghiệp
sáng tác của Nguyễn Trãi, bao trùm thơ văn Nguyễn Trãi ở cả thơ văn chữ
Hán lẫn thơ văn chữ Nôm, ở cả văn chương chính luận lẫn thơ văn nghệ
thuật , ở cả những sáng tác trong thời chiến lẫn những sáng tác trong thời
bình, ở trong mọi hoàn cảnh: cả khi còn áo mũ xênh xang tại triều lẫn lúc
rũ áo từ quan về Côn Sơn ở ẩn…
Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA
TRONG THƠ VĂN NGUYỄN TRÃI
1. Tư tưởng nhân nghĩa thể hiện ở lòng yêu nước thương dân
8

mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt ; muôn vật cũng tất
mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa.
9
Thật đúng là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước ; cũng là nơi
kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”
(“Chiếu dời đô”- Lí Công Uẩn)
Đó còn là niềm tự hào về đất nước có nhiều cảnh trí tươi đẹp - cảnh
chiều nơi thôn quê yên bình:
“Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
Bóng chiều man mác có dường không
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng”
(Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra”-Trần Nhân
Tông)
Đó là niềm tự hào dân tộc trong văn học trung đại còn trong thơ văn
Nguyễn Trãi? Nguyễn Trãi đã nêu đầy đủ các mặt tự hào chân chính của
dân tộc Việt Nam qua áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo”. Ông tự
hào về nền văn hiến được hình thành và phát triển qua một quá trình lịch sử
mấy ngàn năm có thuần phong mỹ tục mang bản sắc riêng có lịch sử và chế
độ riêng
“Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.”
về nhà nước phong kiến có mấy trăm năm độc lập ở các triều đại Đinh, Lí,
Trần,… có các bậc anh hùng hào kiệt làm rạng danh non sông:
“Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống , Nguyên mỗi bên xưng đế một
phương,
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

(“Núi Dục Thuý”)
Đó còn là bức tranh mộc mạc, dân dã với hương vị đồng quê được
thể hiện ở bài “Thuật hứng-24”:
“Ao cạn vớt bèo cấy muống,
Đìa thanh phát cỏ ương sen”,
11
là bức tranh hùng vĩ về cảnh sắc ở cửa biển Bạch Đằng:
“Ngạc chặt kình băm non lởm chởm,
Giáo chim gươm gãy bãi giăng giăng.”
(“Cửa biển Bạch Đằng”)
Không chỉ vậy tấm lòng yêu nước của các nhà thơ, nhà văn trung đại
cũng như là Nguyễn Trãi còn được thể hiện ở thái độ căm thù giặc sâu sắc.
Căm thù giặc xuất phát từ hiểu dân, thương dân, đứng về phía dân để tố
cáo tội ác của giặc.
Đọc “Hịch tướng sĩ” ta thấy lòng căm thù giặc sôi sục lên trong con
người vị đại tướng khi chứng kiến cảnh nước mất nhà tan triều đình quốc
thể bị làm nhục:
“Ngó thấy sứ giặc đi nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà
sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất
Liệt mà đòi ngọc lụa, để thoả lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam
Vương mà thu bạc vàng, đẻ vơ vét của kho có hạn. Thật khác nào như đem
thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau.
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối ; ruột đau như cắt, nước
mắt đầm đìa ; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân
thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da
ngựa, ta cũng vui lòng.”
Lí Thường Kiệt đã nêu rõ quyết tâm tiêu diệt giặc để bảo vệ nền độc
lập nước nhà:
“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”

Cũng chính vì căm giận kẻ thù nên Nguyễn Trãi đã vạch trần , tố cáo
những tội ác man rợ của chúng. Đó là tội thừa nước đục thả câu, mượn gió
bẻ măng, cấu kết với bọn bán nước sang xâm lược nước ta với chiêu bài
“phù Trần diệt Hồ”:
“Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa,
Bọn gian tà bán nước cầu vinh.’’
13
Ông còn tố cáo sự tàn sát nhân dân thậm tệ và man rợ của giặc Minh:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.”
tố cáo cả sự vơ vét bóc lột nhân dân đến tận xương tuỷ, đẩy nhân dân đến
bước đường cùng:
“Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá
mập, thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước
độc.
Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê
chưa chán;
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho

Hay một ý chí cao cả:
Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược
Có nhân, có trí, có anh hùng
(Trích “Bảo kính cảnh giới” bài số 5)
Từ đó thổi bùng lên ngọn lửa quyết tâm chiến đấu và chiến thắng kẻ thù,
trừ bạo ngược cho dân:
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
(Trích “Bình Ngô đại cáo”)
15
Trong những ngày đầu khởi nghĩa, nghĩa quân Lam Sơn đã gặp
không ít khó khăn khi mà quân thù đương mạnh ta lại thiếu nhân tài, hiền
tài, quân lương lại không đủ ,…
“Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đương mạnh.
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu.
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc.”
“Khi Linh Sơn quân hết mấy tuần,
Khi Khôi Huyện quân không một đội.”
Nhưng với ý chí quyết khắc phục khó khăn chiến đấu và chiến thắng kẻ thù
mà nghĩa quân Lam Sơn càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng to,
chiến công nối tiếp chiến công:
“Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,

“Phú quốc binh cường chăng có trước,
Bằng tôi nào thuở ích chưng dân”
Dù đã xa cuộc sống quan trường, nhưng ở ông vẫn luôn canh cánh một nỗi
niềm với dân, với nước, với đời:
“Bui có một lòng ưu ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng.”
(“Thuật hứng – 5”)
“Bui có một lòng trung lẫn hiếu,
Mài chăng khuyết nhuộm chăng đen.”
(“Thuật hứng– 24”)

17
Đặt lí tưởng yêu nước gắn liền với thương dân của Nguyễn Trãi vào
trong lịch sử tư tưởng thơ văn trung đại, ta thấy một mặt Nguyễn Trãi đã
tiếp thu và kế thừa được những biêu hiện có tính chất truyền thống của tư
tưởng yêu nước thời trung đại, mặt khác Nguyễn Trãi đã sáng tạo, phát
huy, nâng cao tư tưởng ấy lên một tầm vóc mới. Ông đã nâng cao nhận
thức về dân trong thời đại mới, xoá bỏ quan niệm bất công về dân (dân bao
giờ cũng đối lập với vua với quan). Đến Nguyễn Trãi thì tư tương yêu nước
Việt Nam đã phát triển đạt đến đỉnh cao nhất của tư tưởng yêu nước thời
trung đại ngay từ thế kỉ XV.
2. Nhân nghĩa gắn với khát vọng hòa bình và được thể hiện
bằng những việc làm có ý nghĩa sâu sắc
Khát vọng hòa bình là khát vọng của muôn người, ở muôn đời nhưng
đến Nguyễn Trãi, khát vọng đó lại có những biểu hiện thật sâu sắc. Trước
hết, khát vọng hòa bình của Nguyễn Trãi được biểu hiện ở lòng thương
người, ở sự khoan dung độ lượng, thậm chí đối với cả kẻ thù. Có thể nói,
đây là nét độc đáo riêng có trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi.
Chiến lược “tâm công” Nguyễn Trãi đã thực hiện trong kháng chiến chống
Minh chính là sự thể hiện nét độc đáo riêng có ấy. “Tâm công” – đánh vào

phạt, tâm công”. Với tư cách là vị quân sư lỗi lạc của cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn, Nguyễn Trãi đã không ít lần dùng những áng văn chính luận “có sức
mạnh hơn mười vạn binh” của mình để công phạt, khuất phục kẻ thù khiến
cho bọn chúng “chẳng đánh mà chịu khuất”. Không những thế, khi bọn
chúng đã khuất phục, đã đầu hàng nhân dân ta luôn mở cho chúng con
đường sống:
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
(trích “Bình Ngô đại cáo”)
Và cấp cho phương tiện trở về:
Mã Kì, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa
Dùng nhân nghĩa để đối xử với kẻ bại trận, xoa dịu hận thù để không gây
hậu họa về sau cũng chính là đại nghĩa với nhân dân vậy. Bởi lẽ, như bài
cáo đã khẳng định:
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
(trích “Bình Ngô đại cáo”)
Có thể nói, tư tưởng nhân nghĩa của nhân dân ta được Nguyễn Trãi
thể hiện trong bài “ Bình Ngô đại cáo” vừa toàn diện, vừa cụ thể ; vừa chỉ
ra điểm cốt lõi, cơ bản vừa bổ sung những khía cạnh mới mẽ. Bởi thế nó
19
trở thành điểm ngời sáng trong tư tưởng nhân dân, là tiền đề cho mọi hành
động. Soi chiếu vào thực tiễn cuộc kháng chiến tư tưởng nhân nghĩa cao
đẹp ấy còn là căn nguyên tạo nên sức mạnh cho nghĩa quân Lam Sơn :
Đem đại nghĩa thắng hung tàn
Lấy chí nhân thay cường bạo
(trích “Bình Ngô đại cáo”)
Chúng ta không vì sự man rợ của giặc mà trả thù bằng những hành động
man rợ. Đối với quân giặc đã bị “cầm tù như hổ đói vẫy đuôi xin cứu

( Quan duyệt thủy trận)
Mong ước xây dựng được một đất nước có vua sáng tôi hiền, ông hiểu rất
rõ tầm quan trọng của nhân tài đối với đất nước. Nguyễn Trãi quan niệm
rằng, nhân tố quyết định sự nghiệp xây dựng đất nước thái bình, thịnh trị là
nhân dân. Làm thế nào để phát huy hết được những yếu tố tích cực của quần
chúng nhân dân? Trong sức mạnh của nhân dân thì yếu tố nào là động lực
mạnh mẽ nhất? Nguyễn Trãi đã chỉ ra, đó là yếu tố nhân tài. Trong Chiếu
cầu hiền tài, ông cho rằng: “người tài ở đời vốn không ít”, nên triều đình
phải cầu hiền bằng nhiều đường, nhiều cách như học hành thi cử; hoặc tiến
cử “văn võ đại thần, công hầu, đại phu từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều
cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay
chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, thì… tùy tài trao chức”;
hoặc ứng cử “người có tài ở hàng kinh luân bị khuất ở hàng quân nhỏ”,
“người hào kiệt náu ở nơi đồng nội, lẫn ở hàng binh lính” phải tự mình đề
đạt để gánh vác việc dân, việc nước. Như vậy, Nguyễn Trãi đã rất chú trọng
đến việc đào tạo, bồi dưỡng, phát triển và sử dụng nhân tài vào việc trị quốc,
an dân, góp một phần không nhỏ vào công cuộc dựng xây đất nước, thực
hiện tâm nguyện suốt đời luôn canh cánh trong lòng.
Như vậy, theo Nguyễn Trãi, một đất nước thái bình sẽ là đất nước có
cuộc sống phồn vinh, tươi đẹp; đồng thời, có sự hoà thuận, yên vui với các
nước khác. Có thể nói, khát vọng hòa bình của Nguyễn Trãi phù hợp với
nguyện vọng, ước mơ của toàn dân tộc; đạt tới tầm cao nhất và rộng nhất
trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ cho phép. Nhân nghĩa gắn liền với
thương dân, khát vọng hòa bình, đây là một tư tưởng tiến bộ, mới mẻ, thể
hiện trí tuệ, tầm nhìn xa trông rộng, cái tâm và cái tài của nhà tư tưởng vĩ
đại, nhà ngoại giao lỗi lạc, nhà quân sự đại tài. Thiên tài Nguyễn Trãi đã tạc
mình vào lịch sử dân tộc, vào con tim của hàng triệu người con đất Việt và
sẽ mãi trường tồn cùng non sông đất nước Việt Nam
21
3. Tư t ngưở nhân ngh aĩ thể hi n thái cao coiệ ở độ đề

“Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ”
(Trở thuyền, lật thuyền mới biết sức dân mạnh như nước”)
(“Quan hải”)
22
Dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc thì đất nước mới thái bình, thịnh
trị ngược lai cuộc sống của người dân lầm than, cơ cực thì ắt sẽ có nổi dậy
đấu tranh, liệu đất nước có thái bình được nữa không? Và cũng chính vì lẽ
đó mà trong một bài chiếu Nguyễn Trãi đã thay mặt Lê Lợi mà răn các
quan rằng:
“Mến người có nhân là dân mà trở thuyền lật thuyền cũng là dân”
Chính vì vậy mà các quan phải chăm lo cho đời sống của nhân dân, để dân
luôn được sống trong thái bình, hạnh phúc.
Không chỉ vậy, Nguyễn Trãi còn đề xuất đường lối cứu nước và
dựng nước là dựa vào dân. Ông cho rằng muốn giải phóng đất nước, dân
tộc thì phải chăm lo đến dân, tạo cho dân có điều kiện sống tốt, mà muốn
được như vậy thì phải diệt trừ những kẻ có tội với dân, làm hại dân. Và
điều này đã được thể hiện ở ngay phần mở đầu “Áng thiên cổ hùng văn
Bình Ngô đại cáo”:
“Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.”
Hay trong “Thư thứ hai gửi Liễu Thăng” ông cũng có viết:
“Ta nghe: quân của Vương gia chỉ có dẹp yên mà không đánh chém.
Việc làm nhân nghĩa cốt để yên dân”
hoặc là:
“Ta nghe đại đức thích cho người ta sống, thần vũ không hay giết
người, đem quân nhân nghĩa đi đánh cốt để yên dân”
(“Thư dụ hàng các tướng sĩ trong thành Bình Than”)
“Đánh kẻ có tội, cứu vớt dân là thành nhân làm việc đại nghĩa”
(“Biền gửi vua Minh”)

nhân nghĩa trong thơ văn Nguyễn Trãi.
Bên cạnh đó, thái độ đề cao coi trọng con người còn được thể hiện
trong thời bình.Trong một số bài thơ trữ tình, ông có một quan niệm thẩm
mĩ hết sức tiến bộ : lấy con người làm chuẩn mực vẻ đẹp của thế giới . Như
trong bài “ Côn Sơn ca” Nguyễn Trãi lại so sánh tiếng suối nơi ông sống ẩn
dật tựa như tiếng đàn cầm : “Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng
đàn cầm bên tai”. Quan niệm này khác với quan niệm của văn học trung
đại : lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người tiêu biểu
nhất là “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Và chúng ta thấy được sự trở lại
của quan điểm này trong thơ mới đặc biệt là trong thơ Xuân Diệu : nhà thơ
lấy hàng mi , cặp môi thiếu nữ làm đối tượng so sánh: “Và này đây ánh
sáng chớp hàng mi” “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Hay nhạc
sĩ tài hoa bạc mệnh Phan Lạc Hoa trong bài “ Tàu anh qua núi”, ông đã
24
viết: “Trời hôm nay trong xanh như lời hát”… Trong thơ ca và văn chính
luận lúc nào Nguyễn Trãi cũng đặt lợi ích con người lên hàng đầu coi đó là
định hướng cho mọi nhận thức , hành động của giai cấp cầm quyền cũng
như của chính bản thân Nguyễn Trãi. Ông rất tự giác về lòng biết ơn dân ,
kẻ cấy cày:
“Ở yên thì nhớ lòng xung đột
Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”
(Bảo kính cảnh giới,19)
Hình ảnh “dân đen con đỏ” thường hiện lên dưới ngòi bút của ông
trong sáng tác thơ văn , đó là “niềm cũ sinh linh” , đó là “đồng bào cốt
nhục” , và ông rất có ý thức về quan niệm “ lấy dân làm gốc”, cho nên
cũng có ý thức bồi dưỡng cái gốc là dân , cái gốc truyền thống của sơn hà
-xã tắc , có ý thức “ Dành, để trợ(giúp) dân này” ( Tùng). Càng đọc thơ
văn Nguyễn Trãi , chúng ta càng cảm thương cuộc đời Nguyễn Trãi , một
cuộc đời vằng vặc lòng ưu ái, lo cho dân, cho nước, vì nước và dân thực sự
phải là một khối thì mới có hoà bình và ấm no:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status