Những vấn đề lý luận về đầu tư phát triển, CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn - Pdf 20

Chơng I: Những vấn đề lý luận về đầu t
phát triển, CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
I. lý luận chung
1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động đầu t phát triển
1.1. Khái niệm
Đầu t phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật
chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ
tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dỡng đào tạo nguồn
nhân lực, thực hiện chi phí thờng xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản
này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực
mới cho nền kinh tế-xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên
trong xã hội.
1.2. Đặc điểm
Hoạt động đầu t phát triển có các đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu t
khác là:
- Hoạt động đầu t phát triển đòi hỏi một số vốn lớn và để nằm khê đọng
trong suốt quá trình thực hiện đầu t. Đây là cái giá phải trả khá lớn của đầu t phát
triển.
- Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu t cho đến khi các thành quả của
nó phát huy tác dụng thờng đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra.
- Thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi đủ vốn đã bỏ ra đối với các cơ sở
vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thờng đòi hỏi nhiều năm tháng và
do đó không tránh khỏi sự tác động 2 mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố
không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế...
- Các thành quả của hoạt động đầu t phát triển có giá trị sử dụng lâu dài
nhiều năm, có khi hàng trăm, hàng ngàn năm thậm chí tồn tại vĩnh viễn nh các
công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới (Kim Tự Tháp cổ Ai Cập, Nhà thờ La Mã ở
1
Rôm, Vạn Lý Trờng Thành ở Trung Quốc, Ăngco Vát của Campuchia...). Điều
này nói lên giá trị lớn lao của các thành qủa đầu t phát triển.
- Các thành quả của hoạt động đầu t là các công trình xây dựng sẽ hoạt đông

tế...) phù hợp với việc đa công nghệ và thiết bị vào nông nghiệp và nông thôn.
- áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đa phơng pháp sản xuất công nghiệp máy móc
vào trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn (dùng máy trong các
khâu làm đất, tới tiêu, vận chuyển, bảo quản chế biến, áp dụng giống mới, phơng
pháp canh tác mới) để thay thế lao động thủ công.
- áp dụng phơng pháp quản lý hiện đại tơng ứng với công nghệ và thiết bị
vào nông nghiệp và nông thôn.
- Phát triển công nghiệp (bao gồm cả xây dựng) và dịch vụ ở nông thôn.
- Phát triển các ngành gắn với đầu vào của nông nghiệp (sản xuất và sửa
chữa nông cụ), đầu ra của nông nghiệp (sản xuất nguyên liệu) và các ngành tận
dụng lao động, vốn tay nghề ở nông thôn để sản xuất ra các mặt hàng tiêu dùng
và xuất khẩu.
Về mặt định lợng, để đánh giá trình độ CNH nông thôn có thể sử dụng các
chỉ tiêu sau:
- Tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn.
- Tỷ lệ thu nhập của cân c từ hoạt động phi nông nghiệp trong tổng thu nhập
của dân c.
- Tỷ lệ cơ khí hóa, các khâu làm đất, tới tiêu, thu hoạch, chế biến.
- Năng suất trong nông nghiệp và sự tác động của các biện pháp kỹ thuật tới
năng suất.
- Tỷ suất hàng hóa, tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp đợc chế biến công
nghiệp
- Tổ chức sản xuất và tính chất sản xuất nông nghiệp: tập trung chuyên canh
sản xuất nông nghiệp, sản xuất hàng hóa hay tự cung tự cấp.
Nh vậy CNH nông thôn không có nghĩa là chỉ phát triển công nghiệp ở
nông thôn, mà bao gồm cả việc phát triển toàn bộ các hoạt động, các lĩnh vực sản
3
xuất-dịch vụ và đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất
công nghiệp ở nông thôn và cả nớc nói chung.
CNH nông nghiệp là một bộ phận của CNH nông thôn. Nội dung chủ yếu

2.2. Nội dung của đầu t phát triển CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
CNH-HĐH là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ tiến lên chủ
nghĩa xã hội ở nớc ta. Song từ thực trạng kinh tế hiện nay phải coi CNH-HĐH
nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan
trọng nhất ở những năm trớc mắt. Văn kiện Đại hội Đảng giữa nhiệm kỳ (khoá
VII) và Đại hội VIII đã chỉ rõ: Từ nay đến cuối thập kỷ phải rất quan tâm CNH-
HĐH nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đây là một trong những biện pháp cơ
bản để rút ngắn khoảng cách kinh tế giữa nông thôn và thành thị và giữa nớc ta
với các nớc tiên tiến trên thế giới.
Nội dung của công cuộc đầu t phát triển CNH-HĐH nông nghiệp, nông
thôn bao gồm:
Một là: Từng bớc thực hiện cơ khí hoá, tự động hoá, hoá học hoá, tin học
hoá trong các ngành sản xuất nông, lâm, ng nghiệp và công nghiệp chế biến
nông, lâm, thuỷ sản. Cơ giới hoá và đa dạng hoá phơng tiện và các thành phần
kinh tế tham gia khâu vận tải để chuyên chở hàng hoá và hành khách nhằm mở
rộng giao lu kinh tế-xã hội ở các vùng nông thôn. Đầu t phát triển công nghiệp
chế biến và các hoạt động dịch vụ trên địa bàn nông thôn để phá vỡ trạng thái
khép kín, trì trệ, lạc hậu vốn có của nền nông nghiệp nhỏ nớc ta.
Hai là: Tiến hành đồng thời với từng bớc thực hiện cơ khí hoá, hiện đại hoá
phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp từ cơ cấu lạc hậu, què quặt,
phân tán, manh mún sang cơ cấu kinh tế hữu cơ, hợp lý theo hớng sản xuất hàng
hoá. Phải dựa vào thế mạnh từng vùng để từng bớc xây dựng cơ cấu kinh tế vừa
đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong những năm trớc mắt vừa khai thác tốt các tiềm
năng để tăng trởng kinh tế nhanh. Hớng đi trong những năm trớc mắt đối với cả
nớc và từng vùng là:
- Đầu t phát triển sản xuất lơng thực, chủ yếu là lúa nớc và đi vào chuyên
canh, thâm canh.
- Phát triển các ngành chăn nuôi đại gia súc, tiểu gia súc và gia cầm, coi
trọng việc cải tạo giống và chế biến để có năng suất, chất lợng sản phẩm tốt, tăng
giá trị cho tiêu dùng và xuất khẩu.

giao khoa học-kỹ nghệ nông lâm-ng nghiệp.
6
Tám là: Đầu t phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ tri thức và trình
độ khoa học-kỹ thuât, trình độ quản lý. Đây là một điều kiện không thể thiếu để
đảm bảo sự thành công của sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp và phát triển nông
thôn.
Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động đầu t phát triển và với điểm xuất phát
thấp nh nớc ta, để thực hiện công cuộc đầu t phát triển CNH-HĐH nông nghiệp,
nông thôn, vốn luôn là vấn đề đợc đặt lên hàng đầu.
Các nguồn vốn đầu t cho nông nghiệp và nông thôn Việt nam bao gồm:
Nguồn đầu t từ ngân sách Nhà nớc: Vốn đầu t từ ngân sách Nhà nớc
cho nông nghiệp và nông thôn chiếm hơn 12% vốn đầu t toàn xã hội cho lĩnh vực
này. Vốn đầu t của ngân sách Nhà nớc chủ yếu tập trung vào cho xây dựng cơ sở
hạ tầng kinh tế cho nông nghiệp và nông thôn, nhất là các công trình thuỷ lợi,
giao thông. Đây chính là điều kiện quan trọng để phát huy những mặt mạnh của
các yếu tố khác nhằm phát triển sản xuất nông, lâm, ng nghiệp. Hơn nữa, đây
cũng là lĩnh vực cần nhiều vốn đầu t, khả năng thu hồi vốn chậm hoặc không có
khả năng thu hồi vốn, vì vậy những thành phần kinh tế khác không có khả năng
hoặc không muốn đầu t. Vốn đầu t từ ngân sách có tác dụng to lớn trong việc
tăng năng lực sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, hình thành nên các
vùng chuyên canh.
Nguồn vốn đầu t từ các doanh nghiệp: Vốn đầu t từ các doanh nghiệp
có vốn đầu t nớc ngoài và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vào lĩnh vực nông,
lâm, ng nghiệp đạt mức tơng đơng với các doanh nghiệp nhà nớc. Cùng với chính
sách động viên vào ngân sách nhà nớc ở mức độ vừa phải, bảo đảm cho các
doanh nghiệp có điều kiện tích tụ vốn cho tái đầu t mở rộng sản xuất, đổi mới
trang thiết bị; chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu t cho phát triển sản
xuất... lợng vốn đầu t từ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần cho nông nghiệp
và nông thôn có xu hớng tăng.
Vốn đầu t của dân c: Bao gồm vốn đầu t của bản thân nông thôn, vốn đầu

Cả hai phơng pháp trao đổi ngang giá và hệ số ICOR đều cho một đáp số gần nh
nhau: tỷ lệ đầu t cho nông nghiệp Việt nam phải từ 25 đến 30% mới đáp ứng đợc
yêu cầu tăng trởng bền vững.
8
Mức độ tập trung đầu t cho các vùng sản xuất trọng điểm: Chỉ tiêu này đợc
thể hiện ở tỷ lệ vốn đầu t cho khoa học, kỹ thuật phục vụ nông nghiệp để khơi
dậy những tiềm năng chất xám nhằm mục đích tăng trởng nông nghiệp với nhịp
độ ổn định và cao hơn nh đầu t cho việc nghiên cứu, lai tạo và nhập nội giống cây
con có năng suất và chất lợng tốt; đầu t cho mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn, cơ cấu sản xuất nông nghiệp; đầu t cho ngành nghề và dịch vụ phi
nông nghiệp... Hiệu quả đầu t theo chỉ tiêu này đợc biểu hiện qua tốc độ chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và cơ cấu ngành nghề trong nội bộ nông nghiệp.
Tỷ lệ vốn đầu t nớc ngoài cho nông nghiệp và nông thôn: Trong điều kiện
nguồn vốn trong nớc có hạn thì thu hút vốn đầu t nớc ngoài có ý nghĩa rất quan
trọng đối với việc khắc phục tình trạng thiếu vốn trong sản xuất nông nghiệp và
phát triển nông thôn thể hiện ở số lợng dự án và khối lợng vốn đầu t nớc ngoài
cho lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Thực tế đã chứng minh, để công cuộc CNH-HĐH đất nớc nói chung và CNH-
HĐH nông nghiệp, nông thôn nói riêng đi tới thành công, trớc hết ta phải huy động
đợc đầy đủ các nguồn lực cần thiết cho quá trình thực hiện, mà nguồn lực quan
trọng cần huy động ở đây chính là vốn, phát huy nội lực là chính đồng thời tranh thủ
mọi nguồn lực huy động đợc từ bên ngoài. Nhng vấnđề đặt ra là khi có nguồn lực rồi
thì phải sử dụng các nguồn lực đó nh thế nào sao cho có hiệu quả nhất.Vì vậy vấn
đề hiệu quả luôn đợc đặt lên hàng đầu.
II. Tính tất yếu khách quan của đầu t phát triển cho CNH-
HĐH nông nghiệp, nông thôn
1. Đặc điểm phát triển của nông nghiệp, nông thôn Việt nam
1.1. Những đặc trng cơ bản của kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, có
những đặc thù khác biệt các ngành kinh tế khác:

Thứ t, chuyển nền nông nghiệp Việt Nam sang sản xuất hàng hoá, vân động
theo cơ chế thị trờng từ một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán, công nghiệp
nông thôn kém phát triển, vốn hạn chế, đòi hỏi phải có sự tính toán, lựa chọn các
bớc đi thật thích hợp cho từng giai đoạn và từng vùng cụ thể.
10
Thứ năm, trình độ công nghệ, kỹ năng sản xuất và các điều kiện về cơ sở vật
chất, kỹ thuật rất không đồng đều giữa các vùng làm cho công tác quản lý, đầu t
phát triển tăng thêm độ phức tạp.
Thứ sáu, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thờng gắn liền với những làng
nghề truyền thống nhất định, đặc biệt là khu vực miền Bắc. Đặc điểm nay đòi hỏi
phải tìm những hớng đi phù hợp cho nông nghiệp, nông thôn khi tiến hành CNH-
HĐH.
Trên đây là những đặc trng quan trọng về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
cần quan tâm khi xây dựng nội dung CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn cũng
nh trong việc hoạch định các chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh
tế nông thôn nớc ta trong thời kỳ mới.
1.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
ở những nớc nông nghiệp nói chung và ở Việt nam nói riêng, nông nghiệp,
nông thôn luôn là khu vực nảy sinh nhiều vấn đề mới bức xúc và phức tạp.
Lực lợng sản xuất trong nông nghiệp đang tồn tại nhiều bất cập so với yêu
cầu sản xuất hàng hóa tập trung trên quy mô lớn theo quy hoạch vùng, tiểu
vùng... Nhìn chung cơ sở vật chất-kỹ thuật và kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông
thôn ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam còn thấp kém và phân bố không đồng đều,
đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa và vùng duyên hải. Các nhu cầu về xây dựng đ-
ờng, điện, trờng, trạm y tế, dịch vụ sản xuất và đời sống... phổ biến ở địa bàn xã
còn cha đợc đáp ứng. Việc trang thiết bị cơ khí, nông cụ và áp dụng, chuyển giao
tiến bộ kỹ thuật sinh học, đổi mới giống cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là bảo quản,
chế biến hàng hoá nông phẩm... tuy đã đợc quan tâm song cha triển khai rộng
khắp trong cả nớc một cách thống nhất, một số nơi có tiến hành nhng hiệu quả
cha cao. Năng suất lao động chung trong nông nghiệp thấp gắn liền với bình quân

Từ những đặc điểm trên về quá trình phát triển của nông nghiệp, nông thôn
Việt nam, chúng ta nhận thấy rằng để rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và
thành thị, để đa nông nghiệp, nông thôn tiếp tục phát triển và ngày càng tiên tiến
so với các quốc gia trong khu vực cũng nh trên thế giới, chúng ta phải chú trọng
đầu t cho sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn, tạo cơ sở vững chắc, tạo
cái cốt vật chất để thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn Việt nam ngày càng tiến xa.
2. Vai trò của đầu t phát triển cho CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
12
2.1. Vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông thôn
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó
không phải là một hệ thống kinh tế đơn thuần mà là một hệ thống sinh vật-kỹ
thuật. Chúng phát triển theo quy luật sinh vật nhất định, con ngời không thể ngăn
cản các quy trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng mà phải dựa trên
nhận thức đúng đắn các quy luật để có những giải pháp tác động nhằm thích nghi
với chúng và có sự can thiệp theo mục đích nghiên cứu và sử dụng nhất định.
Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, nhất là ở các
nớc đang phát triển nơi có trình độ phát triển thấp kém với đại bộ phận dân chúng
sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc phủ nhận
vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế của các nớc có nền công nghiệp phát
triển. Mặc dù tỷ trọng giá trị sản lợng nông nghiệp không lớn nhng khối lợng sản
phẩm nông nghiệp vẫn không ngừng tăng lên và giữ vai trò quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân. Cụ thể là:
Nông nghiệp, nông thôn có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố
đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị. Nhà kinh tế học Lewis đã xây dựng
mô hình chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp. Ông coi
đó là quá trình tạo ra tiết kiệm, thúc đẩy đầu t và tăng trởng kinh tế. Mặt khác, việc
chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang khu vực công nghiệp còn khắc phục đợc
tình trạng lạc hậu về kinh tế, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam (không
di c mà di chuyển ngành nghề làm việc). Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn
nguyên liệu quý cho công nghiệp, chủ yếu là công nghiệp chế biến nông sản, nhằm

CNH-HĐH là quy luật phổ biến của tất cả các nớc tiến lên một nền kinh tế
xã hội hiện đại và phát triển. Đó là con đờng tất yếu mà mọi quốc gia không thể
bỏ qua để đạt đợc thành quả phát triển về kinh tế xã hội và thoát khỏi nguy cơ tụt
hậu. Do xuất phát điểm từ một nớc nông nghiệp với hơn 80% dân số và 76,9%
lực lợng lao động sống và làm việc ở nông thôn, Việt nam coi CNH-HĐH nông
nghiệp, nông thôn là vấn đề đầu tiên và là trọng tâm. Đây vừa là mục tiêu vừa là
động lực cho sự phát triển nền kinh tế xã hội của đất nớc. Kinh nghiệm ở nhiều n-
ớc trên thế giới, nhất là ở Inđônêxia và Thái Lan trong khủng hoảng về kinh tế
năm 1997-1998 cho thấy, nếu nông nghiệp và nông thôn không đợc u tiên phát
triển thì nền kinh tế xã hội sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng và bế tắc. Nếu tách
14
rời nông nghiệp và nông thôn ra khỏi sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc thì hậu quả
để lại sẽ là một nền nông nghiệp lạc hậu, những vùng nông thôn nghèo nàn, môi
sinh bị tàn phá, phân hoá giàu nghèo rõ nét và những bất cập về các tệ nạn xã hội.
Đối với nớc ta, CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn còn có ý nghĩa quan trọng
để tăng tích luỹ vốn cho phát triển công nghiệp và dịch vụ, mở rộng thị trờng
trong nớc và quốc tế, giải quyết việc làm cho ngời lao động, giảm bớt sự phân
hoá giàu nghèo trong xã hội và những áp lực làm chậm quá trình phát triển của
đất nớc.
Với ý nghĩa đó, đầu t phát triển sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp, nông
thôn giữ một vai trò hết sức quan trọng và trở thành một yêu cầu cấp bách.
3. Đầu t phát triển cho CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn là một yêu cầu
cấp bách
Hội nghị 6 (lần 1) Ban chấp hành Trung ơng (khoá VIII) đã khẳng định:
Tiếp tục công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc;
nhất là công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn. CNH-HĐH nông nghiệp, nông
thôn nớc ta trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa quan trọng.
Một là, nớc ta hiện nay có khoảng 76,9 triệu ngời, trong đó hơn 80% dân số
sống ở nông thôn và hơn 70% lực lợng lao động xã hội làm nông nghiệp. Tốc độ
tăng dân số ở nông thôn vẫn cao (khoảng 1,4 triệu ngời/năm). Ruộng đất bình

trong khi đó ở Mỹ là 80 ngời, ở Hà Lan là 60 ngời, ở Anh là 55 ngời, ở Nhật là 20
ngời...); hệ thống kết cấu hạ tầng chậm phát triển; trình độ khoa học-công nghệ
yếu kém làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh nông nghiệp thấp, sức cạnh tranh
của nông sản hàng hoá sản xuất từ nông thôn trên thị trờng kém; cơ cấu kinh tế
còn nặng thuần nông; đời sống nông dân tuy đợc cải thiện nhng vẫn còn thấp
(vẫn còn khoảng 1300 xã đặc biệt khó khăn, 90% dân nghèo là ở nông thôn).
Bốn là, thực tiễn cho thấy có không ít nớc đi lên CNH-HĐH bằng xuất
khẩu nông sản nh Australia, Argentina, Canada... Một số nớc khác thì phát triển
nông nghiệp là biện pháp chủ yếu để hình thành thị trờng trong nớc. Cũng có nớc
lấy phát triển nông nghiệp và công nghiệp nông thôn làm biện pháp cơ bản giải
quyết phần tất yếu của đời sống kinh tế trong thời kỳ đầu CNH. Nớc ta hiện nay
nông sản đang chiếm hơn 45% giá trị hàng xuất khẩu, thông qua thơng mại quốc
tế để lấy ngoại tệ nhập máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu cho tái sản xuất mở
rộng trong nớc.
Năm là, đối với một nớc đi lên chủ nghĩa xã hội từ nông nghiệp lạc hậu thì
vấn đề mấu chốt là phát triển nền nông nghiệp hàng hoá để cấu trúc lại nền kinh
tế theo hớng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Sáu là, nông nghiệp, nôngthôn là thị trờng rộng lớn của CNH-HĐH. Thị tr-
ờng này ở nớc ta năm 2000 là 65 triệu nhng sức mua hiện nay còn thấp, tiềm
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status