Tìm hiểu về Giao thức Cấu hình Host Động DHCP pot - Pdf 20

Tìm hiểu về Giao thức Cấu hình Host Động DHCP
Share [Đọc: 1418-Ngày đăng: 07-06-2009-Ngày sửa: 07-06-2009]
DHCP là viết tắt của Dynamic Host Configuration Protocol (Giao thức Cấu
hình Host Động): được thiết kế làm giảm thời gian chỉnh cấu hình cho mạng
TCP/IP bằng cách tự động gán các địa chỉ IP cho khách hàng khi họ vào mạng.
DHCP tập trung việc quản lý địa chỉ IP ở các máy tính trung
tâm chạy chương trình DHCP. Mặc dù có thể gán địa chỉ IP vĩnh
viễn cho bất cứ máy tính nào trên mạng, DHCP cho phép gán
tự động. Để khách có thể nhận địa chỉ IP từ máy chủ DHCP, bạn khai báo cấu
hình để khách "nhận địa chỉ tự động từ một máy chủ". Tùy chọn này xuất
hiện trong vùng khai báo cấu hình TCP/IP của đa số hệ điều hành. Một khi tùy
chọn này được thiết lập, khách có thể "thuê" một địa chỉ IP từ máy chủ DHCP
bất cứ lúc nào. Phải có ít nhất một máy chủ DHCP trên mạng. Sau khi cài đặt
DHCP, bạn tạo một phạm vi DHCP (scope), là vùng chứa các địa chỉ IP trên
máy chủ, và máy chủ cung cấp địa chỉ IP trong vùng này.
DHCP là một thuận lới rất lớn đối với người điều hành mạng. Nó làm yên
tâm về các vấn đề cố hữu phát sinh khi phải khai báo cấu hình thủ công. Hãy
xem sự so sánh dưới đây để biết DHCP làm nhẹ bớt công việc như thế nào:
Không có DHCP: Khi cấu hình thủ công, bạn phải gán địa chỉ cho mọi máy
trạm trên mạng. Người dùng phải gọi đến bạn để biết địa chỉ IP vì bạn không
muốn phụ thuộc vào họ để cấu hình địa chỉ IP. Cấu hình nhiều địa chỉ IP có
khả năng dẫn đến lỗi, rất khó theo dõi và sẽ dẫn đến lỗi truyền thông trên
mạng. Cuối cùng bạn sẽ hết địa chỉ IP đối với mạng con nào đó hoặc đối với
toàn mạng nếu bạn không quản lý cẩn thận các địa chỉ IP đã cấp phát. Bạn
phải thay đổi địa chỉ IP ở máy trạm nếu nó chuyển sang mạng con khác.
Người dùng di động đi từ nơi này đến nơi khác, có nhu cầu thay đổi địa chỉ IP
nếu họ nối với mạng con khác trên mạng.
Có DHCP: Máy chủ DHCP tự động cho người dùng thuê địa chỉ IP khi họ vào
mạng. Bạn chỉ cần đặc tả phạm vi các địa chỉ có thể cho thuê tại máy chủ
DHCP. Bạn sẽ không bị ai quấy rầy về nhu cầu biết địa chỉ IP.
DHCP tự động quản lý các địa chỉ IP và loại bỏ được các lỗi có thể làm mất

nghĩa là mọi máy chủ DHCP đều có thể nhận thông điệp này. Do đó, có thể có
nhiều hơn một máy chủ DHCP tìm cách cho thuê địa chỉ IP bằng cách gởi
thông điệp chào hàng. Máy trạm chỉ chấp nhận một thông điệp chào hàng,
sau đó phát tán thông điệp khẳng định lên mạng. Vì thông điệp này được
phát tán, tất cả máy chủ DHCP có thể nhận được nó. Thông điệp chứa địa chỉ
IP của máy chủ DHCP vừa cho thuê, vì thế các máy chủ DHCP khác rút lại
thông điệp chào hàng của mình và hoàn trả địa chỉ IP vào vùng địa chỉ, để
dành cho khách hàng khác.
Từ BOOTP đến DHCP
Từ BOOTP đến DHCP
Trong mạng máy tính, giao thức Bootstrap, hay BOOTP, là một giao thức
mạng mà máy client sử dụng để lấy địa chỉ IP từ một máy server. Giao thức
BOOTP được chỉ định trong RFC 951.
BOOTP thường được sử dụng trong tiến trình “bootstrap” khi máy tính đang
khởi động. Server cấu hình BOOTP gán địa chỉ IP cho từng máy client từ một dãy
địa chỉ . BOOTP sử dụng giao thức UDP (User Datagram Protocol) làm giao thức
vận chuyển .
Về phương diện lịch sử, BOOTP được sử dụng cho các máy trạm không đĩa
cứng với hệ điều hành UNIX ( hoặc tương tự) tìm thấy được vị trí của file boot
máy ngoài việc nhận được địa chỉ IP, và cũng bởi giao thức này mà các cơ quan xí
nghiệp dùng để trỉển khai việc cài đặt mới hệ điều hành (ví dụ :hệ điều hành
Windows) cho các máy tính cá nhân (PC) chưa có hệ điều hành.
Lúc ban đầu người ta phải để chương trình của giao thức này trong đĩa mềm
gọi là đĩa mềm boot. Đĩa mềm này khởi động để thiết lập các kết nối mạng sơ khởi.
Sau này việc sản xuất ra các cạc mạng tích hợp giao thức này trong BIOS cũng như
là tích hợp trong bo mạch chủ với những cạc mạng on-board, như thế cho phép
máy boot trực tiếp qua cạc mạng.
DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol) là một giao thức cao cấp hơn
cho cùng mục đích và thay thế cho BOOTP. Phần lớn các DHCP servers hổ trợ
thêm BOOTP.

server.
4.Và điều kém cõi nhất là RARP chỉ cấp địa chỉ IP và không cho thêm một
thông tin nào khác mà máy client rất cần.
RARP rõ ràng là không đủ sức cung cấp thông tin cấu hình TCP/IP cho các
máy tính. Để hổ trợ vừa cho các máy tính không có đĩa cứng vừa cho việc cấu hình
TCP/IP tự động, vì thế mà BOOTP (Bootstrap) được tạo ra. BOOTP được chuẩn
hóa trong RFC 951, xuất bản tháng 9 năm 1985. Giao thức này được phát triển để
giải quyết các hạn chế của RARP:
1.Nó vẫn còn dựa vào quan hệ client/server, nhưng nó được triển khai ở tầng
cao hơn, dùng UDP cho việc vận chuyển. Nó không còn phụ thuộc vào phần
cứng đặc biệt nào của nhà sản xuất như là RARP.
2. Hổ trợ gởi thêm thông tin tới máy client ngoài địa chỉ IP.Thông tin thêm
này thường được gởi trong một thông điệp duy nhất.
3.Nó có thể sử dụng trong môi trường client và server ở trong những hệ
thống mạng gồm nhiều NetID khác nhau. Điều này cho phép quản lý địa chỉ
IP tập trung ở một server.
BOOTP chỉ giải quyết giai đoạn đầu của Bootstrapping
Chúng ta cũng cần phải lưu ý rằng mặc dù có tên là BOOTP, ám chỉ rằng nó
có đủ mọi thứ cần thiết để máy tính không có đĩa cứng có thể “boot” được, nhưng
điều này thực sự không đúng. Vì chính BOOTP đã tự mô tả, “bootstrapping” đòi
hỏi hai giai đoạn:
1.Giai đoạn đầu tiên, máy client được cung cấp địa chỉ IP và các thông số
khác.
2.Giai đoạn hai, máy client download phần mềm, như là hệ điều hành và các
drivers, để nó có thể hoạt động trên mạng và thực hiện các công tác mà nó
được giao.
BOOTP thực sự chỉ giải quyết được giai đoạn đầu tiên: giải quyết việc cấp địa
chỉ và thông số cấu hình. Giai đoạn hai mặc định xảy ra bằng cách sử dụng một
giao thức khác dùng để vận chuyển file như là TFTP(Trivial File Transfer
Protocol)

không tiếp tục được.)
Trong lúc BOOTP rất thành công một cách hiển nhiên nhưng nó cũng có
một vài nhược đỉểm của riêng nó. Một trong những thiếu sót quan trọng là không
cấp được địa chỉ IP cập nhật động. Nhu cầu cấp địa chỉ động trở thành rõ rệt hơn
bao giờ hết khi Internet thực sự khởi đầu cất cánh vào cuối thập niên 1990. Chính
điều này đã trực tiếp dẫn tới sự phát triển giao thức DHCP (Dynamic Host
Configuration Protocol)
DHCP thay thế BOOTP làm giao thức cấu hình TCP/IP , thật là sai lầm khi cho
rằng BOOTP hoàn toàn “ra đi”. Ngày nay nó vẫn còn được sử dụng trong nhiều
mạng khác nhau. Hơn nữa, DHCP lấy BOOTP làm nền tảng và chúng có nhiều
thuộc tính chung, kể cả định dạng các thông điệp cũng giống nhau. Những phần
mở rộng cho nhà sản xuất phần cứng trong BOOTP trở thành phần Options của
DHCP, chúng hoạt động cùng một cách nhưng DHCP có nhiều khả năng hơn. Trên
thực tế, RFC 1497(RFC về phần mở rộng của BOOTP) đã kế thừa RFC 1533 (RFC
về các Options của DHCP và phần mở rộng của BOOTP) chính thức kết hợp phần
mở rộng của BOOTP và phần Options của DHCP thành một chuẩn chung.
Giao thức DHCP (TCP/IP Dynamic Host Configuration Protocol )
Về một phương diện nào đó chúng ta có thể nói tiến bộ của côngnghệ là một
hành trình chứ không thể nào là một đích đến. Khi một công nghệ cụ thể nào đó
được tinh chỉnh hay thay thế bằng một cái khác siêu hạng hơn thì chỉ là vấn đề thời
gian, nó cũng lại bị một cái khác tốt hơn thay thế nó.
Và điều này rất đúng cho BOOTP. Trong lúc BOOTP có nhiều khả năng
vượt trội hơn giao thức mà nó đã thay thế là RARP, thì đến lượt nó, sau một vài
năm, chính nó lại bị giao thức DHCP thay thế.
Người ta coi BOOTP là một cuộc cách mạng, một sự thay đổi lớn từ RARP,
thì DHCP là một sự tiến hóa vượt bậc của BOOTP. DHCP lấy BOOTP làm nền
tảng, có cùng định dạng của các thông điệp. Cái thêm vào có ý nghĩa nhất trong
DHCP là khả năng cấp địa chỉ IP động cho các máy clients và quản lý tập trung
chúng. Chính tính năng này mà vừa cho nó cái tên (Dynamic) vừa làm cho nó thêm
quyền lực. Ngày nay DHCP là giao thức chuẩn để cấp cấu hình TCP/IP cho các

chúng kết nối vào mạng là một phí phạm.
4.Trong nhiều cơ quan, việc theo dõi những sự thay đổi địa chỉ
cố định trở nên một công việc nản lòng. BOOTP, với bảng ánh xạ địa
chỉ tĩnh giữa địa chỉ vật lý và địa chỉ IP không thích hợp cho công
việc này. Nó cũng không có cách nào sử dụng lại các địa chỉ; mỗi lần
mà một địa chỉ đã cấp, máy tính sẽ giữ mãi địa chỉ đó, ngay cả khi nó
không còn cần dùng đến nữa.
DHCP:Một giao thức xây dựng trên sức mạnh của BOOTP
Người ta cần một giao thức cấu hình TCP/IP mới để phục vụ cho những
mạng điện toán hiện đại hơn. Tổ chức IETF đáp ứng điều này bằng giao thức
DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol), lần đầu tiên được xuất bản trong
RFC 1541, tháng 10 năm 1993. (Thực ra, chuẩn trong giao thức đó đã được nói
đến trong RFC 1531 xuất bản trong cùng tháng nhưng vì có một vài lỗi nhỏ trong
chuẩn này nên người ta hiệu chỉnh và xuất bản RFC 1541)
Dĩ nhiên, khác với BOOTP là một protocol còn kém cõi. DHCP đã hoạt động rất
tốt và cũng đã được sử dụng rộng rãi nhiều nơi khác nhau. Các yếu tố này cho thấy
giao thức này đã tiếp nối BOOTP và được bổ sung thêm nhiều theo năm tháng .
DHCP gồm hai thành phần chính:
1.Cơ chế cấp địa chỉ IP.
2.Cơ chế cho phép máy client yêu cầu và server cung cấp thông tin cấu hình.
DHCP thực hiện cả hai chức năng này cùng một cách như BOOTP nhưng có nhiều
cải tiến hơn.
Tổng quan các tính năng của DHCP
Sự thay đổi có ý nghĩa nhất trong lãnh vực cấp địa chỉ IP, chính là tính năng
cấp địa chỉ IP động (đối lập với việc người admin phải tạo bảng ánh xạ giữa địa chỉ
vật lý và địa chỉ IP trên BOOTP server).
1.DHCP sử dụng một dãy địa chỉ IP mà người admin đã cấu hình và tự cấp
cho máy client không cấn phải ghép sẵn trước.
2.Đồng thời DHCP hỗ trợ cho việc ánh xạ địa chỉ IP với địa chỉ vật lý khi
nào thấy cần (ta gọi tính năng này là Reservation)

năng như DHCP server và định cấu hình các
máy tính client có khả năng DHCP trên mạng
của bạn. DHCP chạy trên máy tính server, làm
có thể sự quản lý tự động hoá và tập trung
hoá của các địa chỉ IP và sự thiết lập cấu hình
TCP/IP cho các mạng client của bạn. Dịch vụ
DHCP của Microsoft cũng cung cấp sự tích hợp
với đường dẫn động dịch vụ đường dẫn và dịch
vụ hệ thống tên miền, nâng cấp báo cáo tĩnh
và sự kiểm tra cho các DHCP server, các mục
đặc biệt của nhà cung cấp và sự hỗ trợ lớp
người sử dụng, sự cấp phát địa chỉ multicast
và sự bảo vệ DHCP server yếu.
I> DHCP là gì?
DHCP đơn giản hoá sự quản lý quản trị của
cấu hình địa chỉ IP bởi việc tự động hoá cấu
hình địa chỉ cho các mạng client. Tiêu chuẩn
DHCP cung cấp sự sử dụng của các server
DHCP, cái mà được định nghĩa như bất cứ một
máy tính nào đang chạy DHCP. DHCP server
cấp phát một cách tự động các địa chỉ IP và
liên hệ với việc định cấu hình TCP/IP đối với
các DHCP client có thể trên mạng.
1- Chức năng:
{ Mỗi thiết bị trên mạng cơ sở TCP/IP phải có
một địa chỉ IP độc nhất để truy cập mạng và
các tài nguyên của nó. Không có DHCP, cấu
hình IP phải được thực hiện một cách thủ công
cho các máy tính mới, các máy tính di chuyển
từ mạng con này sang mạng con khác, và các

4.1 DHCP server: Bất cứ máy tính nào chạy
trên dịch vụ DHCP windows 2000.
4.2 DHCP client: Bất cứ máy tính nào mà có
sự thiết lập DHCP có thể.
4.3 Scope: Nói một cách đầy đủ, phạm vi liên
tiếp của các địa chỉ IP có thể cho một mạng.
Các dịch vụ DHCP có thể được đề nghị đối với
các tầm vực để xoay xở sự phân phát mạng và
sự cấp phát các địa chỉ IP và bất cứ các tham
số cấu hình quan hệ.
4.4 Siêu tầm vực (superscope): Một nhóm
quản trị các tầm vực được sử dụng để hỗ trợ
các IP logic trên các mạng con vật lý giống
nhau. Các tầm vực trên chứa danh sách các
tầm vực thành viên (hoặc tầm vực con) mà có
thể hoạt động như một bộ sưu tập.
4.5 Phạm vi độc đáo (Exclusion range): Các
địa chỉ IP có sẵn là dạng vùng địa chỉ trong
tầm vực. Các địa chỉ phân vùng là có sẵn trong
việc phân công động bởi DHCP đến các DHCP
client.
4.6 Thuê bao (lease): Chiều dài thời gian,
được chỉ ra bởi DHCP server, một máy tính
client có thể sử dụng sự phân công động địa
chỉ IP. Khi một thuê bao được lập đối với
khách hàng , thì thuê bao được xem như hoạt
động. Trước khi thuê bao kết thúc, client làm
mới lại thuê bao của nó với DHCP server. Một
thuê bao trở nên không hoạt động khi nó hết
hiệu lực hoặc bị xoá bởi server. Thuê bao

hướng thông điệp giữa client và server.7 field
đầu tiên chứa thông tin được dùng cho việc
thực thi request.
Operation Code: Chỉ ra loại thông điệp tổng
quát. Giá trị 1 chỉ ra thông điệp request, giá trị
2 chỉ ra thông điệp response
· HTYPE :Chỉ ra loại phần cứng mạng.
· HLEN: Chỉ ra chiều dài của địa chỉ phần cứng.
· HOPS :Chỉ ra bao nhiêu server định hướng
yêu cầu. Được lập lên 0 bởi client trước khi gửi
yêu cầu và được sử dụng bởi các tác nhân
relay để điều khiển việc định hướng của các
thông điệp DHCP hoặc BOOTP.
· TRANSACTION IDENTIFIER: được tổng quát
hoá bởi client, và cho phép nó phù hợp request
với sự phúc đáp nhận được từ DHCP server.
· SECONDS ELAPSED: Chỉ ra bao nhiêu giây
trôi qua kể từ khi máy tính khởi động.
· FLAGS: điều khiển nội dung của trường
OPTIONS .
+ Broadcast flag( B): Một client không biết địa
chỉ IP sở hữu của nó tại thời điểm nó gửi yêu
cầu thì nó lập cờ này lên 1. Các server này
như các chỉ báo tức thời đối với các DHCP
server hoặc tác nhân relay mà nhận được
request thì nó nên đáp lại (reply) bằng hình
thức broadcast.
+Reserved: Được lập giá trị 0 hoặc không sử
dụng.
· CLIENT IP ADDRESS: Trường này được biết

-Bạn phải thay đổi địa chỉ IP ở máy trạm nếu
nó chuyển sang mạng con khác. Người dùng di
động đi từ nơi nầy đến nơi khác, có nhu cầu
thay đổi địa chỉ IP nếu họ nối với mạng con
khác trên mạng.
P Có DHCP
-Máy chủ DHCP tự động cho người dùng thuê
địa chỉ IP khi họ vào mạng. Bạn chỉ cần đặc tả
phạm vi các địa chỉ có thể cho thuê tại máy
chủ DHCP. Bạn sẽ không bị ai quấy rầy về nhu
cầu biết địa chỉ IP.
-DHCP tự động quản lý các địa chỉ IP và loại
bỏ được các lỗi có thể làm mất liên lạc. Nó tự
động gán lại các địa chỉ chưa được sử dụng.
-DHCP cho thuê địa chỉ trong một khoảng thời
gian, có nghĩa là những địa chỉ nầy sẽ còn
dùng được cho các hệ thống khác. Bạn hiếm
khi bị hết địa chỉ.
-DHCP tự động gán địa chỉ IP thích hợp với
mạng con chứa máy trạm nầy. Cũng vậy,
DHCP tự động gán địa chỉ cho người dùng di
động tại mạng con họ kết nối.
II> Hoạt động của DHCP
DHCP hoạt động trên mô hình client/server
như minh hoạ trong hình 1.
DHCP là một giao thức Internet có nguồn gốc
ở BOOTP (bootstrap protocol), được dùng để
cấu hình các trạm không đĩa. DHCP khai thác
ưu điểm của giao thức truyền tin và các kỹ
thuật khai báo cấu hình được định nghĩa trong

nó đã chấp nhận địa chỉ IP và từ máy chủ
DHCP nào.
Bước 4 Cuối cùng, máy chủ DHCP khẳng định
toàn bộ sự việc với máy trạm.
Để ý rằng lúc đầu máy trạm phát tán yêu cầu
về địa chỉ IP lên mạng, nghĩa là mọi máy chủ
DHCP đều có thể nhận thông điệp nầy. Do đó,
có thể có nhiều hơn một máy chủ DHCP tìm
cách cho thuê địa chỉ IP bằng cách gởi thông
điệp chào hàng. Máy trạm chỉ chấp nhận một
thông điệp chào hàng, sau đó phát tán thông
điệp khẳng định lên mạng. Vì thông điệp nầy
được phát tán, tất cả máy chủ DHCP có thể
nhận được nó. Thông điệp chứa địa chỉ IP của
máy chủ DHCP vừa cho thuê, vì thế các máy
chủ DHCP khác rút lại thông điệp chào hàng
của mình và hoàn trả địa chỉ IP vào vùng địa
chỉ, để dành cho khách hàng khác.
Các nhà quản trị mạng thiết lập một hay nhiều
DHCP server mà bảo đảm thông tin định cấu
hình TCP/IP và cung cấp việc định cấu hình địa
chỉ cho các DHCP client có thể theo dạng của
một đề nghị thuê bao. DHCP server lưu trữ
thông tin việc định cấu hình trong cơ sở dữ
liệu, bao gồm:
Các tham số câú hình TCP/IP có giá trị cho tất
cả các client trên mạng.
Các địa chỉ IP có giá trị , được bảo quản trong
vùng phân công đối với khách hàng cũng như
các địa chỉ đảo lại cho sự phân công thủ công.

được thực hiện một cách hiệu quả và tự động
khi client bắt đầu lại trong vị trí mới của nó.
+ Hầu hết các router có thể định hướng các
yêu cầu việc định cấu hình DHCP, loại trừ các
yêu cầu của việc thiết lập DHCP server trên
một mạng con, trừ phi không có một lý do nào
khác để làm như vậy.
IV> Những đặc tính mới của DHCP
Nâng cấp nền tảng sự kiểm tra và các khả
năng báo cáo server.
Hỗ trợ mở rộng cho các scope multicast và
superscope(siêu tầm vực)
Các tầm vực multicast hiện nay cho phép trình
ứng dụng có nhận thức multicast để giải phóng
lớp D các địa chỉ IP (224.0.0.0 đến
239.255.255.255) cho sự tham dự trong nhóm
multicast.
Hỗ trợ cho các tuỳ chọn DHCP người sử dụng
đặc biệt và người cung cấp đặc biệt.
Sự hoà hợp của DHCP với DNS.
Một DHCP server có thể cập nhật động trong
không gian tên DNS cho bất cứ client DHCP
nào mà hỗ trợ sự cập nhật này. Các client
scope có thể sử dụng DNS với sự cập nhật
động để cập nhật địa chỉ tên IP của máy tính
của chúng biểu diễn thông tin bất cứ khi nào
sự thay đổi xảy ra đến các địa chỉ được cấp
phát DHCP của chúng.
Sự bảo vệ server DHCP yếu.
Điều này ngăn chặn các server DHCP yếu từ

viên của nhóm này, bạn có thể cung cấp việc
truy cập chỉ đọc đối với thông tin liên hệ với
dịch vụ DHCP trên máy tính server. Sử dụng
sự quản lý DHCP , các user trong nhóm này có
thể nhìn nhưng không sửa thông tin và các đặc
tính lưu trên DHCP server đặc biệt.
Sự hỗ trợ DHCP client
Thuật ngữ client được sử dụng để mô tả một
máy tính mạng mà yêu cầu và sử dụng các
dịch vụ DHCP được đề nghị bởi DHCP server.
Bất cứ máy tính Windows cơ bản nào hoặc một
thiết bị mạng có thể khác mà hỗ trợ khả năng
liên lạc với DHCP server(trong sự bằng lòng
với RFC 2132) có thể được định cấu hình như
DHCP client.
Sự hỗ trợ của DHCP client được cung cấp cho
các máy tính chạy dươí bất cứ hệ điều hành
Microsoft nào sau đây:
+ Microsoft Windows NT Workstation (tất cả
các phiên bản được giải phóng)
+ Microsoft Windows NT Server(tất cả các
phiên bản được giải phóng)
+ Microsoft Windows 98
+ Microsoft Windows 95
+ Microsoft Windows for Workgroups version
3.11(với Microsoft 32 bit TCP/IP VxD được cài)
+ Microsoft NetWork Client version 3.0 cho
MS-DOS(với đường dẫn TCP/IP chế độ thực
được cài đặt)
+ LAN Manager version 2.2c.

client trong 5 phút. Nếu DHCP sever được tìm
thấy sau đó, client loại bỏ thông tin tự định
cấu hình của nó. DHCP client sử dụng một địa
chỉ được đề nghị bởi DHCP server(và bất cứ
thông tin tuỳ chọn DHCP được cung cấp khác)
để cập nhật việc thiết lập định cấu hình IP của
nó.
- Nếu DHCP client đã nhận trước sự thuê từ
DHCP server:
1- Nếu sự thuê của client vẫn còn có giá trị tại
thời gian khởi động hệ thống, client sẽ cố gắng
làm mới sự thuê của nó.
2- Nếu trong suốt sự nỗ lực làm mới, client
thất bại để định vị bất cứ DHCP server nào, nó
sẽ nỗ lực để ping gateway mặc định được liệt
kê trong sự thuê và tiến hành theo một trong
những cách sau:
* Nếu việc ping là thành công, DHCP client cho
rằng nó vẫn còn định vị trên một mạng giống
nhau nơi nó nhận được sự thuê hiện tại của
nó, và tiếp tục sử dụng sự thuê. Theo mặc
định, client sẽ nỗ lực trong nền tảng, để làm
mới sự thuê của nó khi 50% thời gian thuê
được phân công được kết thúc.
* Nếu việc ping thất bại, DHCP client cho rằng
nó đã di chuyển đến một mạng nơi mà các
dịch vụ DHCP không có sẵn. Client tự định cấu
hình địa chỉ IP của nó như đã miêu tả trước
đây. Khi client tự định cấu hình, mỗi 5 phút nó
nỗ lực để định vị DHCP server và nhận được sự

tính DHCP client nỗ lực để gia nhập mạng, nó
yêu cầu thông tin địa chỉ IP từ DHCP server bởi
việc broadcast một gói DHCPDiscover. Địa chĩ
IP nguồn trong gói là 0.0.0.0 bởi vì client chưa
có địa chỉ IP. THông điệp củng là 342 hoặc 576
byte chiều dài-phiên bản cũ hơn của Windows
sử dụng khung thông điệp dài hơn.
*DHCPOffer:Mỗi DHCP server nhận được gói
DHCPDiscover client đáp ứng với gói
DHCPOffer chứa địa chỉ IP không thuê bao và
thông tin định cấu hình TCP/IP bổ sung(thêm
vào), chẳng hạn như subnet mask và gateway
mặc định. Nhiều hơn một DHCP server có thể
đáp ứng với gói DHCPOffer. Client sẽ chấp
nhận gói DHCPOffer đầu tiên nó nhận được.
Thông điệp là 342 byte chiều dài.
*DHCPRequest: Khi DHCP client nhận được
một gói DHCPOffer, nó đáp ứng lại bằng việc
broadcast gói DHCPRequest mà chứa yêu cầu
địa chỉ IP, và thể hiện sự chấp nhận của địa
chỉ IP được yêu cầu. Thông điệp cũng là 342
hoặc 576 byte chiều dài phụ thuộc vào chiều
dài của thông điệp DHCPDiscover phù hợp.
*DHCPAcknowledge : DHCP server được chọn
lựa chấp nhận DHCPRequest client cho địa chỉ
IP bởi việc gửi một gói DHCPAck. Taị thời điểm
này, server cũng định hướng bất cứ các tham
số định cấu hình tuỳ chọn. Sự chấp nhận trên
của DHCPAck, client có thể tham gia trên
mạng TCP/IP và hoàn thành hệ thống khởi

các version trước đây của Windows NT Server
và có thể không được nhận ra bởi sự thực thi
phần 3 của phần mềm DHCP.
3- Hoạt động của tiến trình thuê bao
Thời gian đầu tiên DHCP client khởi động và nỗ
lực để gia nhập mạng, nó theo dõi việc khởi
tạo tiến trình một cách tự động để nhận được
sự thuê bao từ DHCP server.
DHCP client yêu cầu một địa chỉ IP bởi việc
broadcast thông điệp DHCPDiscover để định vị
mạng con.
Client được đề nghị một địa chỉ khi DHCP
server đáp ứng với thông điệp DHCPOffer chứa
địa chỉ IP và thông tin định cấu hình cho thuê
bao đối với client. Nếu không có DHCP đáp
ứng đối với yêu cầu client, client có thể tiến
hành theo 2 cách:
+ Nếu nó là client Windows 2000 based, và
việc tự định cấu hình IP không thể không có
khả năng, client tự định cấu hình địa chỉ IP cho
interface của nó.
+ Nếu client không phải là client Windows
2000 based hoặc việc tự định cấu hình là
không có thể, sự khởi động mạng client thất
bại. Client tiếp tục gửi lại các thông điệp
DHCPDiscover trong nền tảng(4 lần, mỗi lần 5
phút) cho đến khi nó nhân được thộng điệp
DHCPOffer từ DHCP server.
__________________


đáp ứng phủ định(DHCPNak),client phải
bắt đầu toàn bộ tiến trình thuê bao trở
lại.
VII> Các trạng thái DHCP client trong tiến
trình thuê bao
Các DHCP client quay vòng tròn thông qua
6 trạng thái khác nhau trong suốt tiến
trình thuê bao DHCP, như minh hoạ trong
hình 4.3.
1> Trạng thái khởi tạo:
Trạng thái này xảy ra lần đầu tiên khi xếp
chồng giao thức TCP/IP(protocol stack)
được khởi tạo trên máy tính DHCP client.
Client chưa có địa chỉ IP để yêu cầu từ các
DHCP server. Trạng thái này cũng xảy ra
nếu client đựơc từ chối địa chỉ IP nó đang
yêu cầu hoặc địa chỉ IP nó đã được giải
phóng một cách trước tiên. Hình 4.5 thể
hiện trạng thái khởi tạo.
Khi DHCP client trong trạng thái này, địa
chỉ IP của nó là 0.0.0.0. Để nhận được
một địa chỉ có gía trị, client broadcast một
thông điệp DHCPDiscover từ cổng UDP 68
đến cổng UDP 67, cái mà địa chỉ nguồn
của 0.0.0.0 và đích đến của
255.255.255.255(client chưa biết địa chỉ
của bất cứ DHCP server nào). Thông điệp
DHCPDiscover chứa địa chỉ điều khiển truy
cập đa phương tiện của DHCP client và tên
máy tính.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status