Báo cáo nghiên cứu khoa học: "KHÁI NIỆM, CÁC ĐẶC ĐIỂM (DẤU HIỆU), PHÂN LOẠI VÀ BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA CÁC BIỆN PHÁP THA MIỄN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM" - Pdf 20

KHÁI NIỆM, CÁC ĐẶC ĐIỂM (DẤU HIỆU),
PHÂN LOẠI VÀ BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA
CÁC BIỆN PHÁP THA MIỄN TRONG LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
LÊ CẢM
TSKH, Q. Chủ nhiệm Khoa, Trưởng Bộ môn Tư
pháp hình sự, Khoa Luật thuộc ĐHQG Hà Nội

I. Cách đặt vấn đề
1. Vừa qua với lần pháp điển hóa thứ hai luật hình sự
Việt Nam, ở một chừng mức nhất định, nhà làm luật
nước ta đã điều chỉnh lại về mặt lập pháp và ghi nhận
nhiều biện pháp tha miễn (BPTM) trong BLHS năm
1999 hiện hành. Chính vì vậy, trong giai đoạn xây
dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) việc nghiên cứu
khái niệm BPTM, các đặc điểm (dấu hiệu), phân loại
và bản chất pháp lý của các BPTM trong luật hình sự
Việt Nam có ý nghĩa xã hội – pháp lý quan trọng,
cũng như ý nghĩa khoa học – thực tiễn cấp bách trên
các bình diện dưới đây:
Một là, về mặt lập pháp – bên cạnh các trường hợp
(tình tiết) loại trừ tính chất tội phạm của hành vi, thì
các BPTM trong luật hình sự góp phần thể hiện rõ nét
nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói
chung và của luật hình sự nói riêng, đồng thời còn
cho phép khẳng định trình độ văn hóa pháp lý của
nhà làm luật, cũng như mức độ pháp chế, dân chủ và
bảo đảm các quyền con người bằng PLHS trong một
quốc gia khi chúng (các BPTM đó) được quy định
nhiều hay ít, chặt chẽ hay tùy tiện.
Hai là, về mặt thực tiễn – kể từ khi thi hành BLHS

trong luật hình sự
1. Khái niệm BPTM trong luật hình sự:
Trở ngại lớn nhất, khi nghiên cứu vấn đề này là: về
mặt khoa học, do ít được quan tâm nghiên cứu nên từ
trước đến nay vẫn chưa có nhà hình sự học nào đưa
ra khái niệm “BPTM trong luật hình sự” là gì?
Nghiên cứu bản chất pháp lý của các quy phạm
PLHS Việt Nam hiện hành về các BPTM tại 19 điều
của BLHS năm 1999 (các Điều 23-25, 55-67, 76-77)
cho phép đưa ra định nghĩa khoa học của khái niệm
BPTM (nói chung) như sau: Biện pháp tha miễn
trong luật hình sự là quy phạm (hoặc chế định) mang
tính chất nhân đạo, phản ánh sự khoan hồng của Nhà
nước đối với những người phạm tội và được cơ quan
tư pháp hình sự có thẩm quyền áp dụng chỉ trong một
số trường hợp nhất định khi có đầy đủ các căn cứ và
những điều kiện do PLHS quy định.
2. Các đặc điểm của BPTM trong luật hình sự Việt
Nam:
Xuất phát từ khái niệm nêu trên về BPTM trong luật
hình sự, chúng ta có thể nhận thấy nó có bốn đặc
điểm chủ yếu như sau: a) BPTM trong luật hình sự là
quy phạm (hoặc chế định) mang tính nhân đạo; b)
BPTM trong luật hình sự phản ánh sự khoan hồng
của Nhà nước đối với những người phạm tội; c)
BPTM trong luật hình sự do cơ quan hình sự có thẩm
quyền áp dụng chỉ trong một số trường hợp nhất
định; và d) BPTM trong luật hình sự chỉ được phép
áp dụng khi có đầy đủ các căn cứ và những điều kiện
do PLHS quy định. Dưới đây chúng ta sẽ lần lượt

sự Việt Nam
1. Phân loại các BPTM trong luật hình sự Việt Nam:
Nghiên cứu các quy phạm PLHS Việt Nam hiện hành
về các BPTM tại 19 điều của BLHS năm 1999 (các
Điều 23-25, 55-67, 76-77) chúng ta có thể phân chia
chúng thành 10 dạng như sau:
- Không truy cứu TNHS do đã hết thời hiệu (Điều
23).
- Không thi hành bản án kết tội do đã hết thời hiệu
(Điều 55).
- Miễn trách nhiệm hình sự (Điều 25).
- Miễn hình phạt (Điều 54).
- Miễn chấp hành hình phạt (Điều 57).
- Giảm mức hình phạt đã tuyên (các Điều 58-59 và
76).
- Án treo (Điều 60).
- Hoãn chấp hành hình phạt tù (Điều 61).
- Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù (Điều 62).
- Xóa án tích (các Điều 64-67 và 77).
Dưới đây chúng ta sẽ lần lượt nêu lên bản chất pháp
lý của từng BPTM trong luật hình sự Việt Nam đã
được phân chia theo hệ thống nêu trên.
2. Bản chất pháp lý của BPTM thứ nhất: Không truy
cứu TNHS do đã hết thời hiệu là: sau một thời hạn
nhất định do luật định đã qua (kể từ ngày phạm tội),
đồng thời khi có đầy đủ căn cứ và những điều kiện
được ghi nhận trong PLHS thì người phạm tội không
thể bị Nhà nước truy cứu TNHS. Căn cứ và những
điều kiện áp dụng thời hiệu truy cứu TNHS được
BLHS năm 1999 quy định cụ thể (Điều 23), tuy nhiên

tội phạm (Điều 19); b) người chưa thành niên phạm
tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng (khoản 2
Điều 69); c) người phạm tội gián điệp ăn năn hối cải
(khoản 3 Điều 78); d) người đưa hối lộ chủ động khai
báo trước khi bị phát giác (đoạn 2 khoản 6 Điều 289);
đ) người môi giới hối lộ chủ động khai báo trước khi
bị phát giác (khoản 6 Điều 290); và e) người phạm tội
không tố giác tội phạm đã can ngăn người phạm tội
hoặc hạn chế tác hại của tội phạm (khoản 3 Điều
313).
5. Bản chất pháp lý của BPTM thứ tư: Miễn hình
phạt là: Tòa án không quyết định hình phạt trong bản
án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người bị coi là
có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, tức là không áp
dụng đối với người này biện pháp cưỡng chế về hình
sự nghiêm khắc nhất khi có đầy đủ căn cứ và những
điều kiện được quy định trong PLHS. Cụ thể đó là
căn cứ và những điều kiện được quy định tại Điều 54
BLHS năm 1999 như:
- Căn cứ – trong trường hợp phạm tội có nhiều tình
tiết giảm nhẹ do luật định tại khoản 1 Điều 46.
- Những điều kiện – đáng được khoan hồng đặc biệt,
nhưng chưa đến mức được miễn TNHS. Hình phạt
mà người bị kết án có thể được Tòa án miễn là hình
phạt chính, và cả hình phạt bổ sung (nếu có).
6. Bản chất pháp lý của BPTM thứ năm: Miễn CHHP
là: Tòa án quyết định hình phạt nhất định trong bản
án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người bị coi là
có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, nhưng không
buộc người này phải chấp hành toàn bộ hình phạt ấy

mức hình phạt đã tuyên trong bản án kết tội có hiệu
lực pháp luật cho người bị kết án đã chấp hành hình
phạt đó được một thời gian nhất định (đối với phạt
cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù có thời hạn) hoặc
miễn phần hình phạt còn lại (đối với hình phạt tiền)
khi có đầy đủ căn cứ và những điều kiện được quy
định trong PLHS. Cụ thể đó là các căn cứ và những
điều kiện được quy định tương ứng trong năm trường
hợp của BLHS năm 1999 (ba – tại Điều 58, một – tại
Điều 59 và một – tại Điều 76) dưới đây:
- Trường hợp 1 - giảm mức hình phạt đã được tuyên:
a) bị kết án cải tạo không giam giữ; b) nếu người bị
kết án đã CHHP đó được một thời gian nhất định và
có nhiều tiến bộ; c) theo đề nghị của cơ quan, tổ chức
hoặc chính quyền địa phương được giao trách nhiệm
trực tiếp giáo dục, giám sát người CHHP (đoạn 1,
khoản 1 Điều 58).
- Trường hợp 2 - giảm mức hình phạt đã được tuyên:
a) bị kết án tù có thời hạn; b) nếu người bị kết án đã
CHHP đó được một thời gian nhất định và có nhiều
tiến bộ; c) theo đề nghị của cơ quan thi hành án phạt
tù (đoạn 2 khoản 1 Điều 58).
- Trường hợp 3 - miễn chấp hành phần còn lại của
hình phạt đã được tuyên: a) bị xử phạt tiền; b) người
bị kết án đã chấp hành được một phần hình phạt đó;
c) bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn
kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hay bệnh tật
gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần
hình phạt còn lại hoặc lập công lớn; và d) theo đề
nghị của Viện trưởng VKS (khoản 2 Điều 58).

thách từ 1 năm đến 5 năm đối với người bị án treo.
9. Bản chất pháp lý của BPTM thứ tám: Hoãn CHHP
tù là: Tòa án quyết định tạm dừng lại việc CHHP tù
đã được tuyên trong bản án kết tội có hiệu lực pháp
luật đối với người bị kết án (nhưng chưa chấp hành
hình phạt đó) trong một thời hạn nhất định khi có đầy
đủ căn cứ và những điều kiện do PLHS quy định.
Căn cứ đó là khi người bị kết án chưa CHHP tù đã
được tuyên trong bản án kết tội và có đầy đủ những
điều kiện được quy định tương ứng trong bốn trường
hợp cụ thể tại khoản 1 Điều 61 BLHS năm 1999 như:
- Hoãn CHHP tù cho đến khi sức khỏe được hồi phục
– đối với người bị kết án là người mắc bệnh nặng
(điểm “a” khoản 1).
- Hoãn CHHP tù cho đến khi con đủ 36 tháng – đối
với người bị kết án là phụ nữ có thai hoặc phụ nữ
đang nuôi con dưới 36 tháng (điểm “b” khoản 1).
- Hoãn CHHP tù đến một năm – đối với người bị kết
án là người lao động duy nhất trong gia đình mà nếu
bắt người này CHHP đó, thì gia đình sẽ gặp khó khăn
đặc biệt (trừ trường hợp bị kết án về tội xâm phạm an
ninh quốc gia hoặc tội khác là tội rất nghiêm trọng
hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng (điểm “c” khoản 1).
- Hoãn CHHP tù đến một năm – đối với người bị kết
án về tội ít nghiêm trọng và do nhu cầu công vụ
(điểm “d” khoản 1).
10. Bản chất pháp lý của BPTM thứ chín: Tạm đình
chỉ CHHP tù (Điều 62 BLHS năm 1999) là: Tòa án
quyết định tạm dừng lại việc CHHP tù đã được tuyên
trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với

tiễn xét xử là chức năng quan trọng của các luật gia –
các nhà hình sự học Việt Nam.
2. Ngoài các đặc điểm chung của các BPTM trong
luật hình sự Việt Nam, mỗi BPTM đều có bản chất
pháp lý, cũng như căn cứ và những điều kiện áp dụng
riêng của nó như đã được phân tích trên đây.
3. Đại xá và đặc xá là hai BPTM quan trọng trong
luật hình sự nhưng vẫn chưa được điều chỉnh với tính
chất là các chế định riêng biệt trong BLHS năm 1999,
vì vậy chúng cần phải được các nhà hình sự học quan
tâm nghiên cứu để đưa mô hình lý luận dưới góc độ
nhận thức – khoa học nhằm góp phần hoàn thiện
PLHS Việt Nam hiện hành.
4. Trong số các BPTM do BLHS năm 1999 quy định
vẫn còn có một số biện pháp mà các dạng khác nhau
của chúng thường xuất hiện trong thực tế khách quan
nhưng lại chưa được ghi nhận về mặt lập pháp và do
đó, việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa về mặt lý
luận để luận chứng cho tính hợp lý và sự cần thiết
phải điều chỉnh chúng về mặt lập pháp chính là một
trong những nhiệm vụ cấp bách của khoa học luật
hình sự nước ta trong giai đoạn xây dựng NNPQ hiện
nay.

(1) Trịnh Tiến Việt, Chế định thời hiệu thi hành bản
án hình sự trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân
chủ và pháp luật, số 12/2000.
(2) Lê Cảm, Về các dạng miễn trách nhiệm hình sự
được quy định tại Điều 25 BLHS năm 1999, Tạp chí
Tòa án nhân dân, số 1/2001.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status