Cạnh tranh trong hoạt động của các Ngân hàng cổ phần hiện nay ở Việt Nam potx - Pdf 20

Chương 1. Những vấn đề lý luận về cạnh tranh, chiến lược cạnh tranh và tăng
cường năng lực cạnh tranh ngân hàng.
1.1. Những vấn đề lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh:
1.1.1 Các quan niệm về cạnh tranh:
Cạnh tranh được hiểu bằng nhiều cách khác nhau. Từ “cạnh tranh” được giải thích
là sự cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức
hoạt động nhằm những lợi ích như nhau.
(1)
Trong tác phẩm “Quốc phú luận” của Adam
Smith, tác giả cho rằng cạnh tranh có thể phối hợp kinh tế một cách nhịp nhàng, có lợi
cho xã hội. Vì sự cạnh tranh trong quá trình của cải quốc dân tăng lên chủ yếu diễn ra
thông qua thị trường và giá cả, do đó, cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với cơ chế thị
trường. Theo Smith, “Nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau, thì cạnh tranh
buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác”, “Cạnh
tranh và thi đua thường tạo ra sự cố gắng lớn nhất. Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao
nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra
được bất kỳ sự cố gắng lớn nào”.
Trong tác phẩm “Về nguồn gốc của các loài”, Charles Robert Darwin đã đề ra tư
tưởng “vật cánh thiên trạch, thích giả sinh tồn”, đó là sự mô tả hay nhất về sự cạnh
tranh trong giới sinh vật. Quả vậy, không có cạnh tranh thì không có sự tiến bộ của
sinh vật, toàn bộ giới sinh vật, trong đó gồm cả loài người sẽ vì thiếu sức sống mà suy
vong.
Trong lý luận cạnh tranh của mình, trọng điểm nghiên cứu của Các Mác là cạnh
tranh giữa những người sản xuất và liên quan tới sự cạnh tranh này là cạnh tranh giữa
người sản xuất và người tiêu dùng. Những cuộc cạnh tranh này diễn ra dưới ba góc độ:
cạnh tranh giá thành thông qua nâng cao năng suất lao động giữa các nhà tư bản nhằm
thu được giá trị thặng dư siêu ngạch; cạnh tranh chất lượng thông qua nâng cao giá trị
sử dụng hàng hoá, hoàn thiện chất lượng hàng hoá để thực hiện được giá trị hàng hoá;
cạnh tranh giữa các ngành thông qua việc gia tăng tính lưu động của tư bản nhằm chia
nhau giá trị thặng dư.


1.1.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh.
Theo Fafchamps, sức cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó
có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị
trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra những sản phẩm có chất
lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác nhưng có chi phí thấp hơn thì
được coi là có năng lực cạnh tranh
Một quan niệm khác cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được
hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi
nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với
đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định”
(2)
Theo PGS, TS Nguyễn Thị Quy, “năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là
khả năng doanh nghiệp đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và
mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên
tục tăng đồng thời đảm bảo sẹ hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ
và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh.”
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp, được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, thể hiện qua
chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh
nghiệp kinh doanh.
1.1.3 Các quan niệm về các cấp độ năng lực cạnh tranh
1.1.3.1 Năng lực cạnh tranh quốc gia.
Là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được
đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống người dân.
1.1.3.2 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh
nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước. Một doanh nghiệp có thể kinh
doanh một hay nhiều sản phẩm dịch vụ, vì vậy, người ta còn phân biệt năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ.

chiến lược kinh doanh cũng sẽ thay đổi để hạn chế sự suy giảm của lợi nhuận. Đặc biệt,
nếu ban lãnh đạo của ngân hàng không đề ra được các chíên lược phù hợp với sự biến
động đó sẽ ngân hàng của mình dần bị thua lỗ.
 Môi trường chính trị- pháp luật
Một đất nước có môi trường chính trị ổn định, luật pháp được quy định rõ ràng,
minh bạch, sự thay đổi luật diễn ra không thường xuyên, phù hợp với thông

(3) Phát triển, cải cách kinh tế và năng lực cạnh tranh ở Việt Nam. Triển vọng và
thách thức, Lê Đăng Doanh www.fetp.edu.vn/events/theFilename/E041208V.ppt

lệ quốc tế sẽ khuyến khích các doanh nghiệp nói chung và các tổ chức tín dụng nói
riêng an tâm hơn trong hoạt động kinh doanh của mình, có khả năng phát huy hết tối đa
lợi thế cạnh tranh của mình. Ngược lại, nếu môi trường chính trị, xã hội luôn biến động
thì dẫn đến sự kém hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng do sự không an toàn và sự
thay đổi liên tục, sự kém minh bạch của hệ thống luật pháp.
 Môi trường văn hoá- xã hội.
Có thể nói, ngân hàng là một ngành kinh doanh lòng tin. Ngân hàng là người giữ
túi tiền cho người dân cũng như các doanh nghiệp, là người nắm hầu bao của nền kinh
tế quốc dân, vì thế, nếu ngân hàng không hiểu được các tập quán văn hoá, xã hội của
người dân như thói quen tiêu dùng, trình độ dân trí, mức thu nhập của người dân thì
sẽ không thể lấy được lòng tin của khách hàng và từ đó sẽ bị đào thải khỏi thị trường.
 Môi trường công nghệ.
Cuộc cách mạng công nghệ đang diễn ra như vũ bão trên toàn thế giới, công nghệ
quyết định đến sự thành công của một doanh nghiệp nói chung và một ngân hàng nói
riêng, nếu ngân hàng có công nghệ lạc hậu hơn đối thủ cạnh tranh thì sớm muộn cũng
sẽ bị đối thủ cạnh tranh đánh bật ra khỏi thị trường.
Một ngân hàng chú trọng đến công nghệ của mình sẽ làm cho khách hàng tin
tưởng và từ đó có thể dễ dàng thu hút khách hàng mới hay lôi kéo khách hàng của đối
thủ cạnh tranh.
 Môi trường quốc tế.

giá cao và do đó có thể hạn chế khả năng sinh lợi của ngân hàng. Vì vậy, chiến lược
của ngân hàng sẽ được thiết kế để giành lợi thế cạnh tranh từ thực tế này. Ví dụ các sản
phẩm thay thế cho các sản phẩm mà ngân hàng cung cấp như vàng, bất động sản,
chứng khoán
 Khả năng thương lượng của khách hàng (người vay)
Những người mua được xem như là một đe dọa cạnh tranh khi họ ở vị thế yêu
cầu giá thấp hoặc yêu cầu cung cấp những dịch vụ tốt hơn. Ngược lại khi người mua ở
vị thế yếu hơn trong đàm phán thì ngân hàng có cơ hội thu được lợi nhuận cao hơn.
Người vay sẽ có quyền lực nhất khi:
- Ngành cung cấp được tạo bởi nhiều công ty nhỏ và người mua là một số ít và
lớn
- Khi người mua mua sắm với khối lượng lớn
- Khi ngành cung cấp phụ thuộc vào người mua vì phần lớn doanh số phụ thuộc
vào các đơn hàng của khách hàng
- Khi chi phí chuyển đổi giữa các nhà cung cấp là thấp
- Khi đặc tính kinh tế của người mua là mua sắm từ vài công ty cùng lúc.
Ngân hàng là đối tác trung gian giữa người vay và khách hàng gửi tiền, sử dụng
tiền của người có nguồn vốn nhàn rỗi để cho người có nhu cầu về vốn vay trong một
khoảng thời gian nhất định. Chính vì vậy, người vay có tác động rất lớn đến hoạt động
của ngân hàng. Nếu ngân hàng huy động nhiều mà giải ngân ít do ít nhu cầu vay thì
vốn sẽ bị ứ đọng, không sinh lãi, khả năng trả lại tiền cho khách hàng gửi tiền sẽ bi hạn
chế, từ đó có nguy cơ dẫn đến phá sản.
 Khả năng thương lượng của nhà cung cấp ( khách hàng gửi tiền)
Những người bán được xem là một đe dọa khi họ yêu cầu tăng giá hoặc giảm
chất lượng đầu vào, do đó làm giảm khả năng sinh lợi của công ty và ngược lại nếu nếu
nhà cung cấp yếu thì công ty có thể mua được với mức giá thấp hơn hoặc yêu cầu chất
lượng cao hơn. Các nhà cung cấp có quyền lực nhất khi:
- Sản phẩm của nhà cung cấp ít có khả năng thay thế và quan trọng đối với công
ty
- Công ty không phải là một khách hàng quan trọng của nhà cung cấp

Được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như khả năng thanh toán tức thì, khả năng
thanh toán nhanh, đánh giá định tính về năng lực thanh khoản của các ngân hàng
thương mại, đặc biệt là khả năng quản lý rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương
mại.
1.1.5.2 Năng lực công nghệ.
Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ đang ngày càng đóng vai trò như là một
trong những nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của mỗi ngân hàng.
Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như
hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, máy rút tiền tự động
ATM, mà còn bao gồm hệ thống thông tin quản lý MIS, hệ thống báo cáo rủi
ro trong nội bộ ngân hàng. Khả năng nâng cấp và đổi mới công nghệ của các ngân
hàng thương mại cũng là chỉ tiêu phản ánh năng lực công nghệ của một ngân hàng. Vì
thế, năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở số lượng, chất lượng công nghệ hiện tại
mà còn bao gồm cả khả năng mở (khả năng đổi mới) của các công nghệ hiện tại về mặt
kỹ thuật cũng như kinh tế.

1.1.5.3 Nguồn nhân lực, quản trị và điều hành.
Năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực của một doanh nghiệp nói chung thể
hiện ở những yếu tố như: trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn
đấu, mức độ cam kết gắn bó với doanh nghiệp Nếu một ngân hàng có tốc độ lưu
chuyển nhân viên cao hay yếu kém trong nghiệp vụ thì ngân hàng đó sẽ không có khả
năng cạnh tranh.
Ngân hàng có một Ban giám đốc hay Hội đồng quản trị yếu kém, không có khả
năng đưa ra những chính sách, chiến lược hợp lý, thích ứng với những thay đổi của thị
trường sẽ làm lãng phí các nguồn lực và làm yếu đi năng lực cạnh tranh của ngân
hàng đó.
1.1.5.4 Danh tiếng, uy tín, hệ thống phân phối và mức độ đa dạng hoá các
dịch vụ cung cấp.
Uy tín là tài sản vô hình mà không phải bất cứ ngân hàng nào cũng có được. Uy
tín ngân hàng phải được xây dựng và củng cố trên cơ sở mạng lại nhiều lợi ích cho xã

Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh là tổng thể các cam kết và hành động giúp
ngân hàng giành lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực cốt lõi của nó vào
thị trường sản phẩm cụ thế. Ba yếu tố cơ bản tạo nên chiến lược cấp đơn vị kinh doanh:
nhu cầu khách hàng hay điều gì được thỏa mãn, nhóm khách hàng và cách thức mà các
nhóm khách hàng được thỏa mãn.
 Có bốn loại chiến lược kinh doanh chính:
- Dẫn đạo chi phí: cung cấp những sản phẩm có đặc tính được khách hàng
chấp nhận với mức chi phí thấp nhất trong so sánh với các đối thủ cạnh tranh
- Tạo sự khác biệt: tạo ra và cung cấp những sản phẩm được khách hàng cảm
nhận là độc đáo về một vài đặc tính quan trọng
- Chiến lược kết hợp: kết hợp giữa dẫn đạo chi phí và tạo sự khác biệt
- Tập trung vào các khe hở của thị trường: hướng trực tiếp vào phục vụ cho
nhu cầu của nhóm hay phân đoạn thị trường hạn chế, sử dụng cách tiếp cận khác biệt
hóa hoặc chi phí thấp
1.2.3 Khái niệm về chiến lược cấp công ty.
Chiến lược cấp công ty xác định các hành động mà công ty thực hiện nhằm
giành lợi thế cạnh tranh bằng cách lựa chọn, quản trị một nhóm các hoạt động kinh
doanh khác nhau cạnh tranh trong một số ngành và thị trường sản phẩm.
 Có ba loại chiến lược cấp công ty chính:
- Hội nhập dọc: doanh nghiệp tìm cách đầu tư vào các giai đoạn của quá trình
sản xuất kinh doanh hay tìm cách đầu tư để kiểm soát đối thủ và thị trường.
- Đa dạng hoá: doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản phẩm, thị trường hay đầu tư
phát triển những ngành hàng mới. Có ba loại đa dạng hoá: hàng ngang, đa dạng hoá
đồng tầm và đa dạng hoá kết khối.
- Phát triển tập trung: (chiến lược phát triển nhanh) doanh nghiệp chỉ tập trung
vào một lĩnh vực, một ngành hàng, một dãy sản phẩm nhất định (thậm chí chỉ là một
sản phẩm duy nhất) nhằm tạo ra tốc độ phát triển nhanh.
1.2.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
Năng lực cạnh tranh (lợi thế cạnh tranh) của một doanh nghiệp sẽ xác định
nguyên nhân tại sao các công ty trong cùng một ngành nhưng lại có một số công ty thì

nâng cấp các lợi thế cạnh tranh theo thời gian thì những doanh nghiệp đó sẽ đạt được
những lợi thế cạnh tranh lâu dài với những chiến lược kinh doanh của mình.
Dù tất cả các công ty có làm bất cứ điều gì để tạo ra lợi thế đi nữa thì rồi nó cũng
sẽ không còn là lợi thế. Và vì vậy thường xuyên đánh giá và nâng cấp các lợi thế cạnh
tranh, tạo ra những lợi thế mới phù hợp với điều kiện cạnh tranh hiện tại sẽ mang lại
hiệu quả cao.
1.3 Khái niệm về năng lực cốt lõi
1.3.1 Khái niệm năng lực cốt lõi:
Năng lực cốt lõi là các nguồn lực và khả năng của ngân hàng được sử dụng như
nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh. Năng lực cốt lõi làm cho một ngân hàng có tính
cạnh tranh và phẩm chất riêng có của nó.
Năng lực cốt lõi phát sinh theo thời gian qua quá trình học tập, tích luỹ một cách
có tổ chức về cách thức khai thác các nguồn lực và khả năng khác nhau. Các năng lực
cốt lõi là “đồ phục sức sạng trọng của một công ty”, các hoạt động mà công ty thực
hiện tốt so với đối thủ cạnh tranh và thông qua đó, nó làm tăng giá trị cho các hàng hoá
và dịch vụ trong suốt thời gian dài.
Không phải tất cả các nguồn lực và khả năng của ngân hàng đều là các tài sản có
tính chiến lược. Các tài sản có tính chiến lược phải có giá trị cạnh tranh và có tiềm
năng sử dụng như một nguồn lợi thế cạnh tranh.
1.3.2 Các tiêu chuẩn xác định năng lực cốt lõi:
- Đáng giá: cho phép ngân hàng khai thác các cơ hội và hoá giải các đe doạ từ
môi trương bên ngoài. Bằng việc khai thác một cách hữu hiệu các cơ hội, ngân hàng có
thể tạo giá trị cho khách hàng.
- Hiếm: khả năng này không có hoặc rất ít đối thủ cạnh tranh có được khả năng
đó.
- Khó bắt chước: là những khả năng mà các đối thủ không dễ dàng phát triển
được nó.
- Không thể thay thế: có nghĩa là không có chiến lược tương đương.
Chương 2 : Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng Á Châu Việt Nam.
2.1. Ngành ngân hàng Việt Nam trước thách thức cạnh tranh.

NHTM Việt Nam. Nhất là Agribank hiện nay có tới 2.200 chi nhánh các loại trong toàn
quốc, đến tận các thị tứ, liên xã Nhưng hiện nay gần 50 % số chi nhánh Ngân hàng
nước ngoài chỉ có Chi nhánh hoặc ở Hà Nội, hoặc ở TP.Hồ Chí Minh. Khoảng 4-5
ngân hàng có chi nhánh tại hai nơi. Một số ngân hàng Liên doanh tình tình có khá hơn,
nhưng cũng chỉ có mạng lưới ở một vài chi nhánh chính. Mà một trong các lợi thế cạnh
tranh là phải gần khách hàng, hiểu khách hàng.
Không những thế, với gần 800 máy ATM của các NHTM Việt Nam có đến thời
điểm hiện nay đều đã và đang chiếm các vị trí thuận lợi cho giao dịch, như: khách sạn
lớn, trung tâm thương mại, siêu thị, sân bay,…. Sau này các Ngân hàng có vốn đầu tư
nước ngoài có lắp đặt máy ATM sẽ rất khó tìm được vị trí lắp đặt thuận lợi cho giao
dịch đối với khách hàng như hiện tại.

(Nguồn: tổng hợp từ các báo cáo của các ngân hàng Việt Nam)
 Thị phần ổn định.
Do tâm lý của người dân Việt Nam vẫn chưa tin tưởng lắm vào các ngân hàng
nước ngoài, đồng thời mạng lưới chi nhánh rộng khắp nên thị phần cho vay cũng như
nhận tìên gửi của các ngân hàng Việt Nam rất cao và tương đối ổn định.
Các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng Liên doanh mặc dù có người
Việt Nam làm việc, nhưng cũng không thể hiểu phong tục tập quán, có phong cách
giao dịch thân thiện, ngôn ngữ giao dịch bản xứ như người Việt Nam trong các NHTM
Việt Nam. Bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng như cá nhân người Việt Nam giao dịch
với các NHTM Việt Nam khi xảy ra vấn đề gì dễ linh hoạt gặp nhau giải quyết hơn,
không cứng nhắc như các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài.
2.1.1.2 Thách thức:
 Môi trường kinh tế khó khăn:
Nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn của nền kinh tế thế giới. Trong
những năm gần đây.
- Tác động của lạm phát:
Trong nhiều năm trở lại đây, kinh tế thế giới có nhiều biến động, đạt được tốc
độ tăng trưởng cao trung bình khoảng 5,1% mỗi năm, nhưng nhiều biến động thất

các quy định về bảo đảm tiền vay, về đăng kí giao dịch bảo đảm với các quy định của
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD và Bộ luật Dân sự 2005; hay các
quy định về thương phiếu cũng không đồng nhất với các quy định của Luật Thương
mại 2005… Không những thế, các quy định trong Luật các TCTD cũng đã bộc lộ nhiều
nhược điểm về phát triển thương mại dịch vụ ngân hàng.
 Tính thống nhất trong hệ thống pháp luật ngân hàng còn cần phải được
đặt trong mối tương quan với hệ thống pháp luật kinh tế đã và đang được hoàn thiện.
 Một số văn bản vừa mới ban hành trong thời gian ngắn đã phải sửa đổi,
bổ sung hoặc bị thay thế do không phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Nguyên nhân do quá trình soạn thảo chưa lường hết được biến động của thực
tiễn, trình độ, năng lực của cán bộ tham gia soạn thảo văn bản còn hạn chế Việc ký,
ban hành văn bản hành chính của một số đơn vị trực thuộc có trường hợp chưa phù
hợp.
 Những thiết chế thị trường tiền tệ còn khá sơ khai, nhiều chỉ tiêu hoạt
động theo thông lệ quốc tế chưa được áp dụng - Đặc biệt là những chỉ tiêu về an toàn
vốn, về chất lượng tín dụng, về kế toán, kiểm toán và thanh tra.
 Hệ thống chính sách, pháp luật ngân hàng hiện nay còn góp phần tạo ra
sự phân biệt đối xử giữa các loại hình tổ chức tín dụng, giữa các nhóm ngân hàng và
giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài, gây ra sự cạnh tranh thiếu lành
mạnh. Điều đó đặt ra thách thức phải sửa đổi tạo môi trường kinh doanh bình đẳng
thông thoáng theo nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO.
 Với những biến động trong môi trường pháp lý như một sự tất yếu thì đòi
hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải thường xuyên cập nhật những sự thay đổi trong hệ
thống luật, từ đó đưa ra các chiến lược cụ thể cho hoạt động của ngân hàng để vừa đáp
ứng được sự thay đổi đó, đồng thời vừa tận dụng nó để đem lại lợi ích cho ngân hàng
và nâng cao năng lực cạnh tranh
 Cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Theo lộ trình gia nhập WTO từ 1/4/2007, các tổ chức tín dụng (TCTD) nước
ngoài được phép thành lập và hoạt động dưới hình thức 100% vốn nước ngoài tại Việt
Nam. Sau lộ trình 5 năm gia nhập WTO các TCTD nước ngoài sẽ được hưởng các ưu

đặc biệt trong các tổ chức dịch vụ có liên quan đến việc giao dịch trực tiếp đối với
khách hàng như ngân hàng, môi giới chứng khoán, khách sạn, nhà hàng v.v Có thể
nói, việc phát triển và ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động ngân hàng đã tạo
điều kiện thức đẩy hoạt động kinh doanh của các NHTM tăng trưởng và phát triển,
nâng cao hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh, thu hút nhiều khách hàng giao dịch
và giảm các chi phí liên quan.
Nhờ công nghệ các dịch vụ ngân hàng phát triển đa dạng và phong phú, cho đến
nay các tổ chức tín dụng đã triển khai và phát triển nhiều sản phẩm mới, đặc biệt là
dịch vụ ngân hàng điện tử: internet-banking, mobil-banking, phonebanking, dịch vụ
thẻ, thanh toán điện tử.
Như vậy, sự phát triển của công nghệ hiện đại cho phép các NHTM nâng cao năng
lực cạnh tranh, phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập, khi mà các ngân hàng
nước ngoài đã đi trước và có bước phát triển nhanh mạnh về công nghệ và dịch vụ
ngân hàng.
 Các nhà quản trị ngân hàng phải đặt yếu tố công nghệ là ưu tiên hàng đầu
trong chiến lược phát triển, mở rộng ngân hàng, thường xuyên học hỏi, tìm hiểu các
công nghệ ngân hàng hiện đại, chú trọng đầu tư vào hệ thống công nghệ để ứng dụng
trong ngân hàng. Có như thế mới nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, cạnh tranh
được với các ngân hàng trong nước cũng như nước ngoài.
 Những xu hướng thay đổi gần đây trong hệ thống phân phối dịch vụ ngân hàng.
+ Trước đây tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của ngân hàng.
Nhưng hiện nay với sự phát triển của các kênh thu hút vốn khác như thị trường chứng
khoán, bảo hiểm, bất động sản Nếu ngân hàng chỉ đơn thuần thực hiện dịch vụ huy
động vốn để cho vay thì chắc chắn lợi nhuận sẽ bị giảm sút, thị phần bị thu hẹp, và đến
một lúc nào đó sẽ bị phá sản. Cho nên việc các ngân hàng lấn sân kinh doanh các dịch
vụ khác là điều không tránh khỏi như bảo hiểm, cho vay trả góp, kinh doanh hàng hoá
và bất động sản

Trích đoạn Môi trường vi mô: sử dụng mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter. Ưu và nhược điểm của các chiến lược: Tính tất yếu của việc lựa chọn chiến lược tạo sự khác biệt: Ưu và nhược của các chiến lược: Những ảnh hưởng khi thực hiện chiến lược đa dạng hoá
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status