LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT
ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm về rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm rủi ro
Trong kinh tế học, rủi ro là những biến cố không mong đợi gây thiệt hại cho một
công việc cụ thể, rủi ro có thể xảy ra trong mọi hoạt động, mọi lĩnh vực mà không phụ
thuộc vào ý muốn con người. Như vậy rủi ro mang tính chất khách quan, con người
không thể triệt tiêu hoàn toàn rủi ro mà chỉ có thể phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong
mức độ có thể chấp nhận được. Hiện nay có 4 chiến lược quản trị rủi ro đó là: 1) Tránh
né rủi ro; 2) Đề phòng rủi ro; 3) Chấp nhận, tự gánh chịu rủi ro; 4) Chuyển giao rủi ro
bằng các công cụ bảo hiểm.
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng cũng luôn gắn liền với rủi ro.
Khi rủi ro xảy ra đối với các ngân hàng, nó thường mang lại những hậu quả vô cùng
nghiêm trọng, gây tổn thất về doanh thu, uy tín của ngân hàng và ở mức nghiêm trọng
hơn có thể gây phá sản. Do vậy,một trong những nhiệm vụ quan trọng của các nhà quản
lý ngân hàng là có các biện pháp quản trị rủi ro.
1.1.2 Phân loại rủi ro
Các ngân hàng thương mại thường xuyên phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro, trong đó
có những loại rủi ro chủ yếu sau đây:
- Rủi ro tín dụng: là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do
khách hàng vay không trả nợ đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi.
- Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản phát sinh khi ngân hàng thương mại
không đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng gửi tiền. Khi gặp phải trường hợp
này các ngân hàng phải bán các tài sản có tính lỏng thấp với giá rẻ hay vay từ thị trường
tiền tệ hay từ Ngân hàng trung ương.
- Rủi ro lãi suất: Là những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu khi lãi suất thị
trường có sự biến đổi.
- Rủi ro hối đoái: là những tổn thất của ngân hàng do sự biến động của tỷ giá
hoái đoái trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ
- Rủi ro hoạt động: Là các rủi ro đối với các ngân hàng xảy ra trong quá trình
hoạt động của ngân hàng như rủi ro do những sai phạm của nhân viên ngân hàng.
loại rủi ro này.
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng:
Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh,thì rủi ro tín dụng được phân chia thành :
-Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh
do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng và được phân chia
thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
+ Rủi ro nội tại là rủi ro xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của người đi
vay hoặc ngành kinh tế, làm cho một số doanh nghiệp và ngành có độ rủi ro cao hơn so
với các ngành khác.
+ Rủi ro tập trung là rủi ro gặp phải khi thực hiện các khoản vay có mối tương
quan chặt chẽ với nhau. Nó bắt nguồn từ việc thiếu đa dạng hoá, dẫn đến mức dư nợ
cho vay chỉ tập trung vào một số đối tượng khách hàng hay một số thành phần kinh tế.
- Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh
là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách
hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm:
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng
diễn ra không được tốt, việc lựa chọn dự án không hiệu quả, gây tổn thất cho ngân
hàng.
+ Rủi ro đảm bảo phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều kiện trong
hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo, điều
kiện đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến hoạt động quản trị cho vay như xây
dựng và thực hiện chính sách tín dụng để định hướng cho việc thực hiện cho vay và
kiểm soát danh mục cho vay.
1.2.3 Các chỉ tiêu xác định rủi ro tín dụng
1.2.3.1 Các chỉ tiêu định lượng
• Phân loại nợ
Theo Quyết định 493/2005/ QD-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 và quyết
định 18/2007/QD-NHNN sửa đổi và bổ sung một số điều của Quyết định
493/2005/QD-NHNN ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
+ Các cam kết ngoại bảng mà tổ chức tín dụng đã phải thực hiện nghĩa vụ theo
cam kết đã quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày.
_ Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn
+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
+ Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần thứ hai.
+Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, chưa kể bị quá hạn hay
đã quá hạn.
+ Các khoản nợ khoanh chờ xử lý.
+Các cam kết ngoại bảng mà tổ chức tín dụng đã phải thực hiện nghĩa vụ theo cam
kết đã quá hạn từ 91 ngày trở lên.
Theo Quyết định 18/2007/QD-NHNN thì tổ chức tín dụng có thể phân loại lại
các khoản nợ vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn trong các trường hợp sau đây:
a) Đối với các khoản nợ quá hạn, tổ chức tín dụng phân loại vào nhóm nợ có rủi ro thấp
hơn ( kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Khách hàng trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi quá hạn ( kể cả lãi áp dụng đối với
các khoản nợ gốc quá hạn ) và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời
gian tối thiểu sáu tháng đối với các khoản nợ trung và dài hạn, ba tháng đối với các
khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn;
- Có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ bị quá hạn đã
được xử lý, khắc phục;
- Tổ chức tín dụng có đủ cơ sở ( thông tin, tài liệu kèm theo ), đánh giá là khách
hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.
b) Đối với các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tổ chức tín dụng phân loại vào nhóm
nợ có rủi ro thấp hơn ( kể cả nhóm 1 ) khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:
- Khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại trong
thời gian tối thiểu sáu tháng đối với các khoản nợ trung và dài hạn, ba tháng đối với các
khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn đã được
+ Khách hàng không thực hiện đúng các nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các
cam kết này đã hết hạn.
+ Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có
khả năng ngân hàng không thể thu hồi được cả vốn lẫn lãi
+ Tài sản đảm bảo được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ gốc
và lãi
Theo Quyết định 493/2005/QD-NHNN ngày 22/4/2005 và Quyết định
18/2007/QD-NHNN nợ xấu của các tổ chức tín dụng bao gồm các khoản nợ thuộc
nhóm 3,4, 5 được quy định theo Quyết định 493/2005/QD-NHNN và được bổ sung sửa
đổi bởi Quyết định 18/2007/QD-NHNN:
+ Nhóm nợ dưới tiêu chuẩn: các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có
khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn và có khả năng tổn thất một phần gốc và lãi.
+Nhóm nợ nghi ngờ: các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn
thất cao.
+ Nhóm nợ có khả năng mất vốn: các khoản nợ được các tổ chức đánh giá là không có
khả năng thu hồi,mất vốn.
*Hệ số rủi ro tín dụng
Hệ số rủi ro tín dụng = Tổng dư nợ cho vay/ Tổng tài sản có
Hệ số này cho ta thấy tỷ trọng của các khoản mục tín dụng trong tài sản có,
khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn đồng thời rủi ro tín
dụng cũng sẽ cao. Thông thường, tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng đựoc chia
thành 3 nhóm:
-Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng xấu: là các khoản cho vay có
mức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao cho ngân hàng. Đây là các khoản
nợ chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng.
- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình: là những khoản
cho vay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và thu nhập mang lại cho ngân hàng là
vừa phải. Đây là khoản mục tín dụng chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng dư nợ cho vay
của ngân hàng.
- Nhóm dư nợ của các khoản mục tín dụng có chất lượng tốt: là những khoản