CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG - Pdf 64

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
NGÂN HÀNG
1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG:
1.1.1 Khái niệm :
Tín dụng là quan hệ vay mượn sử dụng vốn của lẫn nhau dựa trên nguyên
tắc hoàn trả và sự tin tưởng lẫn nhau. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng
giữa ngân hàng và các chủ thể khác trong nền kinh tế.
Sự phân công lao động xã hội và sự xuất hiện của sở hữu tư nhân về TLSX
là cơ sở ra đời tín dụng. Xét về mặt xã hội, sự xuất hiện của chế độ tư hữu về
TLSX là cơ sở hình thành sư phân hoá xã hội: của cải, tiền tệ có xu hướng tập
trung vào một nhóm người, trong lúc đó một nhóm người khác có thu nhập thấp
hoặc thu nhập không đáp ứng đủ nhu cầu tối thiểu của cuộc sống, đặc biệt là khi
xảy ra những biến cố rủi ro bất thường xảy ra. Trong điều kiện đó đòi hỏi sự ra
đời của tín dụng để giải quyết mâu thuẫn nội tại của xã hội, thực hiện điều hoà
nhu cầu vốn tạm thời của cuộc sống. Sản xuất hàng hoá là nguyên nhân ra đời
của tín dụng. Vì vậy bất cứ xã hội nào có sản xuất hàng hoá là có sự hoạt động
của tín dụng. Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, các doanh nghiệp có vốn kinh
doanh phải có một số vốn nhất định. Do đặc điểm của vốn tuần hoàn theo công
thức T-H-T và do tính chất thời vụ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mà mỗi
doanh nghiệp có lúc thừa vốn có lúc thì thiếu vốn. Nhu cầu về tín dụng là một
nhu cầu không thể thiếu được.
Tín dụng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau, nhưng ở bất
cứ phương thức nào tín dụng cũng biểu hiện ra bên ngoài như là vay mượn tạm
thời một vật hoặc một số tiền tệ, nhờ vậy mà người ta có thể sử dụng được giá trị
của hàng hoá hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua trao đổi.
Tín dụng là quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay, giữa họ
có mối quan hệ với nhau thông qua vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiện
dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hoá.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các tổ chức tín
dụng khác với các doanh nghiệp và cá nhân. Trong nền kinh tế ngân hàng đóng

Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn tại các ngân hàng thương mại thường cao hơn
tín dụng trung và dài hạn: các ngân hàng chủ yếu tài trợ cho tài sản lưu động
của khách hàng. Tín dụng trung và dài hạn thường có tỷ trọng thấp hơn do rủi ro
cao hơn, nguồn vốn đắt và khan hiếm hơn. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ
lệ này như kì hạn và tính ổn định của nguồn vốn, khả năng quản lí thanh khoản
của ngân hàng, khả năng dự báo và dự phòng rủi ro trong trung và dài hạn…
B_ Theo hình thức tài trợ tín dụng được chia thành cho vay, bảo lãnh,
cho thuê..
 Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng
phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Cho vay là tài sản
lớn nhất trong khoản mục tín dụng. Cho vay thường được định lượng theo 2 chỉ
tiêu: Doanh số cho vay trong kì và dư nợ cuối kì. Doanh số cho vay trong kì là
tổng số tiền mà ngân hàng đã cho vay ra trong kì. Dư nợ cuối kì là số tiền mà
ngân hàng hiện đang còn cho vay vào thời điểm cuối kỳ. Khi lập các báo cáo tài
chính( thời điểm), cho vay dưới hình thức dư nợ. Một số ngân hàng thường ghi
giảm dư nợ phần trích lập dự phòng tổn thất hoặc lãi được nhận trước.
 Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để
sở hữu một số thương phiếu chưa đến hạn ( hoặc một giấy nợ)
 Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo
những thoả thuận nhất định. Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trả cả gốc
lẫn lãi cho ngân hàng. Cho thuê tài sản trung và dài hạn( Leasing) được ghi vào
khoản mục tài sản theo giá trị tài sản cho thuê trừ đi phần tiền thuê ngân hàng
đã thu được (dư nợ cho thuê)
 Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách
hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra, song ngân hàng đã cho khách
hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.
C_ Tín dụng được chia theo đảm bảo :
Không có đảm bảo, có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố. Về nguyên
tắc, mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều có đảm bảo. Tuy nhiên, ngân hàng

khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn…
 Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn đã lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản thế
chấp nhở hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…
E_ Phân loại khác:
 Theo ngành kinh tế: công, nông nghiệp…
 Theo đối tượng tín dụng: Tài sản lưu động, tài sản cố định
 Theo mục đích: Sản xuất, tiêu dùng…
Các cách cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá trong cấp tín dụng
của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộng phạm vi tài
trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế. Ví dụ ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, bên cạnh việc đa dạng hoá
các ngành tài trợ, vẫn tập trụng tài trợ cho lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn.
Cách phân loại trên cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi gắn liền với
những lĩnh vực tài trợ để có chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn mức và chính
sách mở rộng phù hợp.
1.1.3 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng:
- Các chủ thể tham gia gồm một bên ngân hàng và các chủ thể khác trong nền
kinh tế như: các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân…
- Vốn tín dụng chủ yếu là tiền tệ, cũng có thể là tài sản.
- Thời hạn tín dụng của ngân hàng cũng rất linh hoạt có thể là ngắn hạn, trung
hạn hoặc dài hạn.
- Công cụ của tín dụng ngân hàng cũng rất linh hoạt, có thể là kỳ phiếu, trái
phiếu ngân hàng, các hợp đồng tín dụng..v..v
- Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng mang tính chất gián tiếp, trong đó ngân
hàng là người trung gian tín dụng giữa người gửi tiền và người vay tiền.
- Mục đích của ngân hàng là nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc tiêu
dùng qua đó thu được lợi nhuận.
1.1.4 Chức năng của tín dụng ngân hàng:
1.1.4.1 Chức năng phân phối lại tài nguyên:
Tín dụng là sự vận động của vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác. Chính

gồm:
 Tiền tệ: Tiền giấy và tiền kim loại không đủ giá trị.
 Bút tệ.
Nhờ vào công cụ nói trên mà tốc độ lưu thông hàng hoá nhanh hơn và do
vậy, hàng hoá đi từ hình thái tiền tệ vào sản xuất và ngược lại được thúc đẩy
mạnh mẽ hơn. Nói cách khác, tín dụng thúc đẩy lưu thông hàng hoá và phát
triển kinh tế.
1.1.5 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế:
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, tín dụng có các vai trò sau:
• Thứ nhất: Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất được liên
tục đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế.
Việc phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền
kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục. Tín dụng còn là cầu
nối giữa tiết kiệm và đầu tư. Nó là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là
phương tiện đáp ứng nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển.
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, tín dụng là một trong những nguồn
vốn hình thành vốn lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp, vì vậy tín dụng
đã góp phần động viên vật tư hàng hoá đi vào sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa
học kỹ thuật đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội.
 Thứ hai: Thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.
Hoạt động của ngân hàng là tập trung vốn tiều tệ tạm thời chưa sử dụng,
trên cơ sở đó cho vay các đơn vị kinh tế. Mặt khác quá trình đầu tư tín dụng
được thực hiện một cách tập trung, chủ yếu là cho các xí nghiệp kinh doanh
hiệu quả.
 Thứ ba: Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển
và ngành kinh tế mũi nhọn.
Trong thời gian tập trung phát triển nông nghiệp và ưu tiên cho xuất
khẩu… Nhà Nước đã tập trung tín dụng để tài trợ phát triển các ngành đó, từ đó
tạo điều kiện phát triển các ngành khác.
 Thứ tư: Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status