TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH TẾ VÀ KINH
DOANH
QUỐC TÊ
CHUYÊN NGÀNH
KINH TẾ
ĐỐI
NGOẠI
KHÓA
LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề
tài:
CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG
NGỪA
HẠN
CHÊ RỦI
RO
TỔN THẤT
TRONG
HOẠT
ĐỘNG
KINH
DOANH
XUẤT
NHẬP
KHÂU
Lòi
nói đầu
Ì
Chuông
1:
Lý
luận
chung
về phòng
ngừa
rủi
ro
trong
hoạt
động
kinh
doanh
xuất
nhập
khẩu
3
ì/
Rủi ro
3
l.Khái niệm
rủi
ro 3
2.
Khái niệm
rủi
Khái niệm tốn
thất
15
2.
Phăn
loại
tổn
thất
17
3.
Mối quan hệ giữa
rủi
ro tốn
thất
18
III/
Khái
niệm
phòng
ngừa
hạn
chế
rủi
ro
tốn
thất
trong kinh
doanh
19
1.
ngừa
và hạn
chế
rủi
ro,
tổn
thất
trong
hoạt
động
kinh
doanh
xuất
nhập
khấu
27
li
Những
rủi
ro
tổn
thất
điển
hình
trong
hoạt
động
kinh
doanh
ngoại
ro
tỷ giá 37
ĩ.
ì
Nghiệp vụ kỳ hạn
với
phòng
rủi
ro
tỳ
giá
38
2.2 Nghiệp vụ hoán đối
với
phòng
rủi
ro
tỷ giá
39
2.3
Nghiệp vụ tương
lai với
phòng
rủi
ro
tỷ giá
41
2.4 Nghiệp vụ quyển chọn
với
phòng
thương mại quác
tê
gia các quác
gia
68
10.3.
Giải quyết tranh
chấp bang thương lượng
trực tiếp
gia các bên
70
ì
OA
Giải quyêt tranh
chóp băng hòa
giải
70
10.5
Giải quyết tranh
chấp
theo
tố
tụng mini 71
10.6.
Giải quyêt tranh
chóp băng
tòa
án 72
lo.
7. Giải quyêt tranh
luật
đồng bộ đáp ứng yêu cầu phát
triền
trong
thời
kỳ hội nhập 75
2. Chính sách
tỷ giá,
quản
lý
ngoại hối 79
3. Hội nhập kinh
tế
quốc
tế
80
4. Tăng cường hỗ
trợ
của các
tố
chức,
cơ quan đại
diện
82
5. Thành lập văn phòng đại diện thương mại tại các khu vểc thị
trường
trọng
điểm 83
ố. Các thành phố, hiệp hội doanh nghiệp của từng ngành, từng vùng
phải thành lập các văn phòng đại diện thương mại
đoi
thông
tin
85
3. Đấy mạnh công
tác,
mở rộng và đa dạng hóa
thị
trường.
86
4. Nâng cao năng
lểc
cán bộ
trong
quản
trị
rủi
ro 87
5.
Xây dểng bộ phận chuyên trách về quản
trị
rủi
ro,
tổn
thất
trong
các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khấu 90
6.
Xử
lý,
rủi
ro và các
biện
pháp hạn chê
rủi
ro
trong
thanh toán
bang L/C của người
xuất
khẩu 51
Biểu 3: Bàng
liệt
kẽ rủi
ro,
nguyên nhân và các
biện
pháp hạn chế rủi ro
trong thanh
toán băng L/C của người nhập khâu 53
Lòi
nói
đầu
Toàn cầu hóa và
hội
nhập
kinh
tê quôc tê đang là một xu thê phát
triển
tất
tế thế
giới
, Việt
Nam đã
gặt
hái
được
những
thành
tựu
đáng khích
lệ:
tốc
độ tăng trưởng
quốc
nội
GDP ở mức
cao, thu
hút đầu tư nước ngoài FDI và FPI ngày càng
lớn,
tình
trạng thất
nghiệp
giảm
rõ
rệt,
đởi
sống
nhân dân được
cải
trong
10 năm
trở
lại
đây
thuộc
loại
cao
nhất thế
giới
,
góp
phần
thu
hẹp
khoảng
cách
với
các nước
trong
khu vực và
thế
giới.Cơ
cấu
xuất
khẩu
ngày càng được cài
thiện,
mặt hàng
xuất
cơ
rủi
ro đối với
các
doanh
nghiệp
ngày càng
lớn.
Hiện
nay,
trao
đồi
hàng hóa
quốc
tế
nói
chung
và
kinh
doanh
XNK của
Việt
Nam nói
riêng,
đặc
biệt
trong
bối
cành
hội
động XNK của
Việt
Nam. Vấn đề
đặt ra
là làm
thế
nào để phòng
ngừa
và ngăn
chặn
rủi
ro và
những
tổn
thất
một cách
tốt nhất
nhằm nâng cao
hiệu
quà của
hoạt
động
XNK
Việt
Nam, góp
phần
vào tăng trưởng
kinh
tế,
nâng cao vị
1
nguyên nhân
gây
ra
rủi
ro
trong
kinh
doanh
XNK
của
Việt
Nam,
nhằm
đề
ra
các
biện
pháp
khắc phục
và
quản
lý
rủi
ro
góp
phần
nâng cao
hiệu
quả
quyết
định
chổn
đề
tài:
"Các
giải
pháp phòng
ngừa
và
hạn
chế
rủi
ro
tổn
thất
trong
hoạt
động
xuất
nhập khẩu
cùa
doanh
nghiệp
Việt
Nam"
là
đề
tài khóa
luận
chương:
Chương
1:
Lý
luận
chung
về phòng
ngừa
rủi
ro
trong
hoạt
động
kinh
doanh
xuất
nhập
khấu
Chương 2: Thực
trạng
phòng
ngừa
và hạn chế
rủi
ro, tốn
thất
trong
hoạt
động
kinh
nhiều
trải
nghiệm
thực
tế,
bài
viết
khó
tránh
khỏi
những
thiếu
sót.
Em
rất
mong
nhận
được
ý
kiến
đóng góp của các
thầy
cô giáo nhằm hoàn
thiện
vấn đề nghiên cứu.
Hà Nội ngày 23 tháng
6 năm
2008
Sinh
viên
mờ cùa và
hội
nhập
kinh tế
quốc
tế,
cùng
với
sự bùng nổ và hỗ
trợ
đắc
lực
của công
nghệ
thông
tin
hiện đại,
vô số
các cơ
hội kinh
doanh
đang mọ
ra đối với
các
doanh
nghiệp
kinh
doanh
XNK
Việt
rủi ro
càng đa
dạng
và
phức
tạp.
Vậy
rủi ro
là
gi?
Làm
thế
nào đề chế
ngự
rủi
ro?
Dưới
đây
là
một
số
khái
niệm
rủi
ro của
một
số
học
giả:
- Theo
Marilu
Carty
(Học
giả
người
Mỹ): "Rủi ro là một tình
trạng
trong
đó các
biến
cố xảy
ra trong
tương
lai
có
thể
xác định được"
Như vậy đa số các nhà
kinh
tế và học
giả
đều cho
rằng:
Rủi ro là
những
tai họa, tai nạn,
sự cố
bất
ngờ
ngẫu
có
thể
lường trước được
những
rủi
ro có khả năng xảy
ra
cũng
như có
thể
quản
lý,
phòng
ngừa
,
hạn
chế
được
rủi
ro.
3
2.
Khái niệm
rủi
ro trong kinh doanh xuất nhập khâu
Kinh
doanh
XNK là
hoạt
động hàm
như lý
thuyết
của các nhà
Kinh tế
học
cũng
như
xuất
phát
từ thực
tế
khách
quan
trong
hoạt
động XNK,
rủi
ro XNK có
thể
được
hiểu
như sau:
"Rủi ro
trong kinh
doanh
xuất
nhập
khầu
là
những
loại
rủi
ro
trong kinh
doanh xuôi nhập khâu
Có
thể
có
nhiều
tiêu
thức
để phân
loại
rủi
ro
trong
hoạt
động
kinh
doanh
của các
doanh
nghiệp
như:
s Theo tính
chất của
rủi
ro
có
rủi
•S Theo đối tượng của
rủi
ro có
rủi
ro được bào
hiểm
và
rủi
ro
không được bào
hiểm
s Theo tác động của môi trường gây nên
rủi
ro có
rủi
ro do
điều
kiện
tự
nhiên,
chính
trị,
văn hóa
s Theo
hoạt
động
kinh
doanh
XNK có
rủi
môi trường
tự
nhiên,
môi trường
kinh
doanh
quốc
tế,
môi trường
kinh
tế
vĩ mô, môi trường tác
nghiệp
gây
ra.
Sự
thiếu
ổn định các yếu
tố
này có
thể
dẫn đến
rủi
ro cho các
doanh
nghiệp.
Bời
không
giống
như các
trị
khác
nhau
Do vậy,
những
rủi
ro
phát
sinh
từ
môi trường bên ngoài ngày càng
lớn.
Rủi ro
do điều kiên tư nhiên
Là
rủi
ro
do thiên
tai,
lũ
lụt,
hụn
hán,
dịch
bệnh
tác động xấu đến quá
trình sản
xuất,
làm tăng
rủi
Những hậu
quả
này thường
rất
nghiêm
trọng
và có ảnh hưởng
lớn
tới
doanh
nghiệp, nhất
là đối với
một nước đang phát
triển
như
Việt
Nam.
Ví dụ như
trận
động
đất
tụi
Tứ Xuyên -
Trung
Quốc ngày 12/5/2008
vừa
qua đã gây
thiệt
hụi hết
sức
cơ sờ
vật chất
khác.
Theo ước tính sơ
bộ,
thiệt
hụi với
các công
ty
quốc
doanh
và tư nhân
khoảng
67
tì
ND
tệ (9,5
tỉ
USD)
Con số nụn nhân
- theo
thông báo mới
nhất
được Tân Hoa Xã đưa
tin
-
lên
tới
62.664
người
kinh
tế
khiến
cho sức mua cùa các cá nhân
giảm
và vì vậy
doanh
thu
tiêu
thụ
của doanh
nghiệp
cũng
giảm
đi.
- Thâm
hụt
ngân sách chính phủ
lớn
so
với
GDP,
phản
ánh một nền tài
chính kém lành
mạnh,
dễ
tạo ra
sự mất ổn định
kinh tế
- Mất khả năng
thanh
toán do tỷ
lệ
nợ
ngắn
hạn quá
lớn
so
với
dự
trữ
ngoại
tệ
- Dự
trữ ngoại tệ
quá nhỏ so
với
kim
ngạch nhập khẩu
dẫn đến
nguy
cơ
khi
một
trong
các
nguồn
vốn
nhập
ro
về chính sách mà chính phủ áp
dụng
nhằm
điều
tiết
hoạt
động
kinh
doanh
XNK,
rủi
ro
chính
trị
sẽ làm đào
lộn
mọi
chiến
lược
kinh
doanh
của
doanh
nghiệp,
gây khó khăn cho các
doanh
nghiệp
XNK. Một số
loại
tranh
của doanh
nghiệp.
- Chính sách
tuyển
dụng
lao
động:
sự
thay đổi
những
quy định về
quản
lý và
tuyển
dụng lao động,
ví như
thay đổi
tiền
lương
tối thiểu
hoặc
hạn chế
lao
động nước ngoài.
6
- Lãi
suất:
Chính phù có
thể
khỏe,
sự an toàn và
những
quy đốnh liên
quan
đến
kiểm
soát
chất
thải,
quy đốnh về bảo vệ sức
khỏe cộng
đồng.
Rủi
ro
pháp lý
Rủi
ro
liên
quan
đến pháp lý thường đưa đến
tranh
chấp
kiện
tụng
kéo
dài có
thể
ảnh hưởng đến
hoạt
thiếu
kiến
thức
về pháp lý
- Do
thiếu
chặt
chẽ
trong
hợp đồng
- Do
vi
phạm
luật
quốc
gia
như
luật
chống
độc
quyền, chống
phân
biệt
chủng
tộc
Rủi
ro canh
tranh
Cạnh
tranh
thụ cao,
nâng cao vố
thế
của mình. Vì
vậy,
nếu như
doanh
nghiệp
không xác đốnh cho mình một chỗ
đứng,
có
chiến
lược
kinh
doanh
tốt,
không
ngừng
cải
tiến
chất
lượng sàn phẩm, nâng cao năng
suất
lao
động,
giảm
giá
thành
sản
phẩm sẽ gặp
độ vũ bão
hiện
nay thì thông
tin
đóng
vai
trò không nhò vào sự thành
7
công của các
doanh
nghiệp
đặc
biệt
là các
doanh
nghiệp
XNK.
Tuy
nhiên,
nêu
không
tiếp
cận được
nguồn
thông
tin
hoặc
nắm
bắt sai lệch
thông
khi xuất
khẩu
các mặt hàng
sang
thị
trường
EU
hiện
nay bao
gồm
tất
cà các sàn phẩm
thuộc
ngành công
nghiệp
liên
quan
đến tiêu dùng như hóa
chất,
nhuộm,
in,
vải
sợi,
may
mặc, giày dép,
đồ
chơi,
hàng điện
tớ, vật
dụng
năng
tại
EU, nếu không sẽ bị
phạt
nặng
và
có
thế
mất
thị
trường.
Quy
định
này
bắt
đầu
có
hiệu lực
từ tháng 12/2008
về
đăng
ký,
đánh
giá và
cấp phép
sớ
dụng
hóa
chất với
yêu
(ECHA).
Được
ban hành
từ
tháng
6/2007,
REACH có
hiệu lực theo
các
giai
đoạn,
bắt
đầu
bằng
việc
đãng
ký
từ
ngày 1/6 đến
1/12/2008.
Sau
khoảng
thời
gian
này,
nếu
các
doanh
nghiệp,
nhà sản
REACH
của
EU
bắt
buộc
đăng
ký
cả các
loại
hóa
chất hiện
hành
và
hóa
chất mới,
thậm
chí
phải
đăng
ký cà
những
hóa
chất
dự
định sẽ
sù
dụng
trong
tương
lai.
do sư khác
biệt
về văn hỏa
8
Đối
với
các
doanh
nghiệp,
kinh
doanh
tại
các
quốc
gia với
các
phong
tục
tập
quán, văn hóa, xã
hội
hoàn toàn khác
biệt
sẽ
chứa
đựng khá
nhiều
rủi
ro.Sự
khác
trường
mục tiêu.
Ví dụ ờ
Malaysia, khi giao
dịch
với
các
đối
tác nước này bạn đừng cho
răng hợp đồng đã được ký là
quyết
định
cuối
cùng
giống
như các nước
phương
Tây.
Nên
hiểu
rằng
trong
tập
quán làm
việc
của
người
Malaysia,
việc
tiếp
lắc
đầu được
coi
là cử chỉ
biểu hiện
sự đồng ý, mặc dù
những người
phương Tây
coi
cái
lắc
đầu đó là
biếu hiện
của từ
"không".
Trao
đổi
các món quà
giao
dịch
là
hoạt
động phổ
biến trong
văn hóa
kinh
doanh
Đài
Loan.
cần
đến số 4 cần nên tránh
.
Cũng
theo
cách phiên âm
như
vậy,
số 8 là con số may mắn, số 13
là
biểu
tượng không may.
3.1.2 Căn cứ vào đặc
điểm
và tính
chất
của
hoạt
động
kinh
doanh
XNK
Hoạt
động
kinh
doanh
của
doanh
nghiệp
XNK là một quá trình
phức
chuẩn
bị kỹ
hoặc
do
lỗi
của bên
thứ ba.
Qua nghiên cứu
quá trình
kinh
doanh
của các
doanh
nghiệp,
các
rủi
ro có
thể
chia
thành các
nhóm
sau:
9
Rủi
ro
trong
đàm phán
Các hình
thức
đàm phán chủ yếu
những
rủi
ro
khác
nhau:
- Đàm phán qua thư
tín
(đàm phán gián
tiếp):
Doanh
nghiệp
sẽ gặp
phải
rủi
ro
nếu
chuẩn
bị kém về hình
thức
và
nội
dung
thư
tớ hoặc
có sự nhầm
lẫn
về
ngôn
tớ
làm
ngôn ngữ không thông
thạo
linh
hoạt,
doanh
nghiệp
sẽ dễ bị
đối
tác
hiểu
nhầm,
tớ
chối
hợp
tác
doanh
nghiệp
có
thể
mất đi
những
hợp đồng có
giá
trị.
- Đàm phán bàng cách gặp gỡ
trực
tiếp
(đàm phán
trực
tiếp):
những
trường hợp cần
thiết.
Rủi ro
có
thể
xảy
ra
nếu trước
khi
gặp gỡ
đối
tác, doanh
nghiệp
không có sự
chuẩn
bị kỹ
lưỡng
về
những
tài
liệu
liên
quan hoặc
không
hiếu
biết
cặn kẽ về
đối tác,
không đủ kỹ năng và
chế
nhiều
rủi
ro
trong
quá
trinh
thực hiện
hợp
đồng.
Rủi ro
trong
soạn
thào
hợp
đồng là
thiếu
hoặc
có
sai
sót
khi
dẫn
chiếu
đến các văn bản pháp
luật,
tập
quán
quốc
tế
của
10
nước
người
bán, nước
người
mua,
từ
đặc
điểm
và
quan
hệ
giữa hai
bên. Đông
thời
khi
soạn
thảo
hợp
đồng,
doanh
nghiệp cần
chú ý
tới thời
gian thực hiện
hợp
đồng
tương
quan
khoản
cần
thiết.
Một
khi
đã ký
kết
rồi
thì
việc thay đổi
một điều
khoản
nào đó sẽ
rất
khó khăn và
bất
lợi.
Nếu các
doanh
nghiệp
trước
khi
ký
kết
không
kiểm tra
lại
các điều
khoản
ghi trong
trưởng
hoặc
thủy thủ
đoàn
thiếu
kinh
nghiệm,
chủ
quan,
thiếu
thận trọng,
thiếu
mẫn
cán,
không
chấp
hành các quy
định
an toàn hàng
hải
một cách
triệt
đế.
-
Đội
tàu
biển
có độ
tuổi
trung
giao
nhận
hàng hóa là một
trong
những
điều
kiện
để giúp
doanh
nghiệp
có
những
chứng
từ
cần
thiết
để
thanh
toán
tiền
hàng nên
rủi
ro
trong
quá trình
giao
nhận
ảnh hưởng
lớn tới việc thực hiện
hoàn
thời
gian
xếp
dỡ,
thời
gian
tàu
11
đến cảng xếp,
dỡ
hàng,
do đó không chủ động
trong việc
chuẩn
bị
giao
hoặc
nhận
hàng.
- Rủi ro do
doanh
nghiệp
không
thực hiện
nghĩa
vụ thông báo
giao
hàng.
Trước
khi giao
hàng.
Rủi
ro
trong
quá trình mua bào hiêm:
Rủi
ro
trong
quá trình mua bào
hiếm
thường xảy
ra
khi:
- Rủi ro do
doanh
nghiệp
không đánh giá đúng mức độ của
rủi
ro
đối
với
hàng hóa dốn đến
việc
mua bán không đúng
loại
bảo
hiểm cần
thiết.
-
Rủi ro
quy định
trong
tín
dụng
thư,
đồng
tiền
bảo
hiểm
không đúng
với
quy định
trong
tín
dụng thư,
số
tiền
bảo hiểm
thấp
hơn yêu cầu
trong
tín
dụng
thư
hoặc
hiệu
lực
hợp đồng bảo
hiêm không
bắt
được
người
bán,
người
mua sử
dụng
để
trả
tiền
hàng hóa và
dịch vụ. Trong
số đó phương
thức
tín
dụng chứng
từ được xem là phổ
biến
nhất.
Khoảng
li-
15%
giao
dịch
thương mại
quốc
tế
sù
dụng
phương
thức
khóa
luận,
tác
giả
chỉ
xin
trình bày
rủi
ro
trona
thanh
toán
bằng
phương
thức
tín
dụng chứng
từ:
Phương
thức
tín
dụng chứng
từ là sự
thỏa thuận
trona
đó một ngân
hàng (ngân hàng mờ thư tín
dụng)
theo
yêu cầu của khách hàns
này
xuất
trình cho ngân hàna một bộ
chứng
từ
thanh
toán phù hớp
với
những
quy định
trong
thư
tín dụng.
Trong
thanh
toán L/C,
rủi
ro
xảy
ra khi
quyền
lới
của một
hoặc
các bên
tham
gia
bị
vi
phạm.
toán.
Phương
thức thanh
toán tín
dụng chứng từ
là phương
thức thanh
toán đàm bào
quyền
lới
cho nhà
xuất
khẩu
cao
nhất
so
với
các phương
thức thanh
toán khác.
Tuy
nhiên, L/C không
phải
là phương
thức
tuyệt
đối
an toàn cho cà
nsười
xuất
thế
khác sây
nên,
điên hình là các
rủi
ro sau
đây
s Do
người
xuất
khẩu
không
lập
và nộp bộ
chứng từ
hoàn hảo phù
họp
với
quy định
trona
L/C.
Tại
các ngân
hàng,
hầu
hết
các bộ
chứng từ gửi
tới
thanh
cầu,
hoặc
hối phiếu ahi sai
người
ký
phát
Sai
lầm này dẫn đến
thời
gian thanh
toán bị kéo
dài, thậm
chí
trong
một số trường họp không đước
thanh
toán.
Và
cũng
chính vì
thời
aian
thanh
toán bị chậm nên
doanh
nghiệp xuất
khẩu
có
thể
gặp
trong
những
chu kọ
tiếp
theo.
Bên
cạnh
đó, thường các đơn vị
xuất
khẩu
ta
rất
eo hẹp về vốn và vì vậy họ thường
chọn
thanh
toán L/C
trả
ngay
nhưng do
chứng
từ
phải
sửa đi sửa
lại
nên
thời
gian thanh
toán luôn bị kéo
dài.
Và như
dụng
khác
với
nội dung
thỏa
thuận
hoặc
đưa thêm vào các
điều khoản
mà chưa
thỏa thuận
trước như
quy
định
thời
gian giao
hàng quá gấp không
thể
đáp ứng
được.
Rủi ro có
thể
xảy
ra
khi
người nhập khẩu
quy định
thời
hạn
hiệu
chứng từ
giả
để
lừa
đảo cấu
kết với
những
cá
nhân hay
tổ chức
phi
ngân hàng
lập
nên bộ
chửng từ
giả
để
lừa
đào
cấu
kết với
những
cá nhân hay
tổ chức
phi
ngân hàng
lập
nên bộ
chứng từ
già để
trong
thanh
toán
đối với
người
bán.
Rủi
ro
đối với
người nhập khẩu
/ Do
người
xuất
khẩu
thiếu
trung
thực
đã
lập
bộ
chứng
từ không
đúng
với thực trạng
hàng hóa
miễn
là phù hợp
với
L/C. Ngân hàng
tiến
không đúng yêu cầu có thể là cả về
chất
lượng
cũng
như số lượng và làm ảnh
hưởng đến
hoạt
động kinh
doanh
đặc biệt làm mất uy tín
trong
kinh
doanh
của
người
mua.
s Rủi ro xảy ra
trong
trường họp
người
bán xuất trinh các
chứng
từ
phù hợp vựi quy định của L/C và được ngân hàng
thanh
toán nhưng hàng hóa
không được
giao
đúng hợp đồng.
Hoặc
được
chứng
tò
thanh
toán, như vậy họ
cũng
không
nhận
hàng được.
s Rủi ro do
người
xuất khẩu không gửi hàng đã lập nên một bộ
chứng
từ già
nhằm
rút được
tiền
từ phía nhà
nhập
khâu, do vậy
người
nhập
khấu không
nhận
được hàng hóa.
Loại
rủi ro này tuy không chiếm tỷ lệ lựn
song
vẫn tồn tại do ngân hàng không thể và không có trách nhiệm
kiểm
Rủi
ro là sự
kiện
không may mắn của con
người
nhưng rủi ro không tự
thân
phản
ánh đầy đủ mức độ nghiêm trọng của nó. Đe có thể đo lường và
phàn ánh mức độ nghiêm trọng của rủi ro cần thiết phải làm rõ hậu quả của
rủi
ro qua việc xây
dựng
khái niệm về tổn thất.
15
Tốn
thất
là
những
mất mát,
thiệt
hại
vật
chất
và
tinh
thần
có
thể
xác
xuống
biển,
hàng hóa tự
giảm
giá
trị )
nhưng
cũng
có
thể
là hậu quả của nguyên nhân
không mong
đợi
(chẳng
hạn như động
đất,
núi
lửa
phun,
sụt giá, sai
lầm
trong
quyết
định
quản
lý )-
Trong
thực
tế,
những
lại,
chù yếu
người
ta quan
tâm và nghiên cứu
rất nhiều
đến
nhũng tốn
thất
không mong
đợi
có nguyên nhân khách
quan hoặc
chủ
quan,
bời
từ
đó có
thể
giúp các nhà
nghiên cứu
cũng
như các nhà quàn
trị
đề
ra
các
biện
pháp phòng
chống,
khác. Ví dụ:
Chiến
tranh
là
hành động có chù ý
của
các
thế lực
chính
trị,
nhưng
lại
là
rủi
ro
gây
ra
tổn thất
cho mọi
người.
Vậy, tổn
thất
được đề cập ở đây có
quan
hệ
chặt
chẽ
với
rủi
ro và hậu
những
nguyên nhân
từ
các
rủi
ro
gây
ra.
Như
vậy,
thông qua các khái
niệm
về
rủi
ro
và
tổn
thất
cho
thấy
chúng
có liên
quan
chặt
chẽ đến một sự
kiện
bất
lợi
không may mắn. Sự
kiện
16
mất
mát về
vật
chất
và
tinh
thần
có nguyên nhân
từ rủi ro
gây
ra.
Qua đó
thấy
rằng,
rủi ro
và
tổn thất
là
hai
phạm trù khác
nhau,
nếu xét về hình
thức
thì
rủi
ro
và
tổn thất
cùng
cũng
gây
ra tổn thất,
nghĩa
là có
rủi ro
gây
ra tổn thất,
có
rủi ro
không gây
ra tốn
thát .
Nhưng
theo
quan
điểm
cùa tác
giả: bất
cứ một
rủi
ro nào xảy
ra
đều gây ra
những
hậu quả
(tổn thất) vỉi
mức độ khác
nhau
tùy
hội
mất
hưởng
Đôi
khi
những
thiệt
hại
về
tinh
thần,
sức
khỏe,
pháp
lý,
cơ
hội
mất
hường,.,
còn
lỉn
hơn
tồn thất
về
tài sản rất
nhiều
lần.
Tóm
lại,
khi
cuộc
sống
cùa
họ.
Ngược
lại,
nghiên cứu về
tốn thất
phải
đồng
thời
nghiên cứu về
rủi
ro đề
biết
được
nguyên nhân nào gây
ra tổn thất.
Nghiên cứu mối
quan
hệ
giữa
rủi
ro và
tổn
thất
là
những
điều
kiện
như
rủi ro, trong kinh
doanh
cần phân
biệt
các
loại
tồn thất
khác
nhau
làm cơ sờ cho
việc
nghiên cứu mức độ nghiêm
trọng
cùa
thiệt
hại,
hậu
quà để
lại,
mức độ ảnh hường đến con
người
và
hoạt
động của con
người.
Phân
loại
tổn thất
có
thất
về
tài
sàn và
tổn
thất
về
sức
khỏe,
con
người,
tinh
thần.
s
Trong
lĩnh
vực
kinh
doanh
bảo
hiểm
- Căn cứ vào mức độ
tổn
thất:
chia
thành
tổn
thất
bộ
phặn
thực
tế
rủi
ro
là sự
kiện bất
lợi
đã
xảy ra
và đã gây
ra
những
thiệt
hại
về
người
và
của.
Mặt
khác,
tổn
thất
là
những
hặu quả xác định
khi
rủi
ro
đã xảy
ra.
(tổn
thất
không
mong
đợi)
về
vặt chất
và
tinh
thần
cho con
người.
Một sự
kiện bất
lợi
không may xảy
ra
được
phản
ánh thông qua
hai mặt: thứ nhất,
rủi
ro
phản
ánh về mặt
chất
của sự
kiện,
bao
gồm nguyên nhân
qua
đó
thấy
được mức độ nghiêm
trọng
của sự
kiện.
Có
thế
nói
rằng,
rủi
ro
và
tồn
thất
là
hai
phạm trù khác
nhau
nhưng
lại
có
quan
hệ
chặt
chẽ
với
nhau;
rủi
nghĩa
là có
rủi
ro gây
ra tổn
thất,
có
rủi
ro không gây
ra tổn
thất
cho con
người.
Nhưng sự
thực
là
bất
cứ một
rủi
ro
nào xảy
ra
đều gây
ra
những
hặu quả (
tổn
thất)
với
mức độ khác
hại
về
tinh
thần,
sức khóe,
cơ
hội
mất
hường.,
có
thể
quy ra
tiền
bạc.
Đôi
khi những
thiệt
hại
vê
tinh
thần,
sức
khỏe,
pháp
lý,
cơ
hội
mất
hường
còn
hợp
đồng,
mất uy
tín
Tóm
lại
nghiên cứu về
rủi
ro buộc
chúng
ta phải
nghiên cứu về
tốn
thất,
bời
qua
việc
nghiên cứu về
tổn
thất
sẽ
thấy
được sự
nguy hiểm
tác
hại,
mức
độ nghiêm
trọng
của
hạn
chế
một cách có
hiệu
quà.
IU/
Khái
niệm
phòng
ngừa
hạn
chế
rủi
ro
tổn
thất
trong kinh
doanh
1.
Những
biện
pháp đồng bộ
về
phòng ngừa hạn
chế
rủi
ro ton
thất trong
kinh
doanh
thiên
nhiên,
chiến
thang
bệnh
tật,
đói
nghèo
Cuộc đấu
tranh
của loài
người
còn không
ngừng
tiếp
diễn
và không
biết
mệt
mỏi. Trong
kinh
doanh
cũng vậy, từ
chỗ
chấp nhận
phó thác cho sự may
rủi thi
nay các nhà
quản
trị
doanh
khác,
bời
sự khác
nhau
của
nguồn
luật
áp
dỡng,
chủ
thể kinh
doanh
có
quốc
tịch
khác
nhau,
có sự
di
chuyển
hàng hóa
vượt
qua
đường
biên
giới
quốc
gia,
di chuyển chứng