NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1.1. Khái niệm rủi ro
Bàn về khái niệm rủi ro: Cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về
rủi ro. Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định
nghĩa rủi ro khác nhau. Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng tập
trung lại có thể chia thành hai trường phái lớn: trường phái truyền thống và trường
phái hiện đại.
Theo trường phái truyền thống, rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm
hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có
thể xảy ra cho con người.
Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang
tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực.
1.1.2. Khái niệm lãi suất
Lãi suất là một phạm trù rất quan trọng của kinh tế học, của thị trường và của
cuộc sống kinh doanh. Chúng ta hiểu lãi suất theo nghĩa "giá cả" giống như mọi
loại giá cả hàng hóa khác trên thị trường. Điều khác biệt duy nhất của lãi suất so
với các loại giá cả khác là nó chính là giá của một loại hàng hóa rất trừu tượng.
Một cách ngắn gọn “lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng
tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với
việc trì hoãn chi tiêu”.
1.1.3. Khái niệm rủi ro lãi suất
Tài sản có
2 năm
Khi lãi suất thị trường biến động, các khoản mục nhạy cảm lãi suất trên bảng
cân đối kế toán bị tác động. Ngoài ra sự thay đổi của lãi suất cũng ảnh hưởng đến
giá trị thị trường của tài sản và nợ, làm thay đổi giá trị vốn chủ sở hữu của NH. Do
đó, chúng ta xem xét khái niệm RRLS trên hai khía cạnh:
- RRLS là những tổn thất tiềm tàng mà NH phải gánh chịu khi lãi suất thị trường
biến động.
+ Rủi ro cơ bản: là rủi ro phát sinh khi sự định giá lại không hoàn hảo hoặc
giống nhau giữa những khoản mục khác nhau, nghĩa là xuất hiện sự khác nhau về
mức độ thay đổi lãi suất thu được từ TSC và lãi suất phải trả cho TSN mặc dù
những khoản mục này có cùng thời hạn định giá lại.
2 năm
1 năm
Tài sản có
Tài sản nợ
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro phát sinh khi KH không tôn trọng cam kết về kỳ hạn
ban đầu. Ví dụ: Khi lãi suất thị trường tăng lên, KH có xu hướng rút trước hạn các
khoản tiền gửi có kỳ hạn để gửi vào các khoản tiền gửi mới với lãi suất cao hơn
hay khi lãi suất thị trường giảm xuống, KH có xu hướng trả nợ trước hạn các
khoản vay dài hạn để vay lại khoản vay mới với lãi suất thấp hơn.
- Rủi ro giảm giá trị tài sản: là khả năng giá trị tài sản ròng của NH bị suy giảm
khi lãi suất thị trường biến động. Bao gồm:
+ Rủi ro kỳ hạn: là rủi ro giảm giá trị ròng của NH khi tồn tại sự không cân
xứng về kỳ hạn của TSC và TSN.
Giả sử NH huy động 100 tỷ đồng với kỳ hạn 3 năm để cho vay với kỳ hạn 1
năm. Nếu lãi suất thị trường tăng từ 9%/năm đến 10%/năm thì giá trị TSC (A) và
TSN (L) của NH sẽ biến động:
ΔA =
3
%)101(
100
+
-
3
%)91(
100
+
lãi suất đang có xu hướng tăng, ngược lại, người vay tiền cần một thời gian dài để
sử dụng vốn vay dầu tư vào sản xuất và sinh lời. Điều này làm cho việc cân xứng
kỳ hạn giữa tài sản và nợ là thực sự khó khăn.
+ NH thường không quy định KH bắt buộc phải tôn trọng thời hạn trong hợp
đồng để làm vừa lòng các KH của mình, tạo điều kiện cho KH vay vốn có thể trả
nợ NH bất cứ khi nào có tiền và các KH gửi tiền có thể rút trước hạn nếu có việc
đột xuất.
+ Các NH thường có khuynh hướng duy trì kỳ hạn của TSC lớn hơn TSN vì
mục tiêu lợi nhuận. Chúng ta biết rằng các NH huy động ngắn hạn với lãi suất và
cho vay dài hạn với lãi suất cao sẽ thu được lợi nhuận cao.
1.2.2. Lãi suất thị trường biến động
Lãi suất hay giá cả của các khoản tín dụng được xác định tại mức cân bằng giữa
lượng cung và cầu quỹ cho vay (thể hiện trong hình 1.3)
Lãi suất
Quy mô vốn cho vay
Đường cầu quỹ cho vay
Đường cung quỹ cho vay
i S’
Hình 1.3. Cân bằng cung cầu quỹ cho vay trên thị trường
Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất:
- Lạm phát dự tính. Mức lạm phát dự tính tăng sẽ làm tăng tỷ suất
lợi tức dự tính của tài sản thực và làm giảm tỷ suất lợi tức dự tính của tài sản nợ so
với tài sản thực. Lượng cầu công cụ nợ giảm và đường cung quỹ cho vay dịch
chuyển sang trái.
Mức lạm phát dự tính tăng lên cũng làm cho chi phí thực dự tính của việc vay
tiền ở mức lãi suất cho trước giảm xuống. Điều này làm tăng nhu cầu vay vốn của
các chủ thể kinh tế, đường cầu dịch chuyển sang phải.
Hình 1.4. Tác động của lạm phát
Q
Q
nợ đó tăng ở mọi mức lãi suất. Lượng cung quỹ cho vay cũng tăng theo và làm cho
đường cung quỹ cho vay dịch phải.
S
S
S’
D
i1
i2
i
0
Q1 Q2 Q
S
D’
D
i2
i1
i
Q1 Q2 Q
0
Hình 1.6. Tác động của chính sách tiền tệ
- Rủi ro của các công cụ nợ. Khi mức độ rủi ro của các công cụ nợ tăng lên so
với các công cụ đầu tư khác làm cho lượng cầu về các công cụ nợ đó giảm, cung
quỹ cho vay giảm, đường cung quỹ cho vay dịch sang trái.
- Chính sách tài khóa. Cụ thể là thâm hụt Ngân sách nhà nước, khi mức bội chi
ngân sách nhà nước tăng, nhu cầu vay vốn tài trợ thiếu hụt ngân sách nhà nước
tăng ở mọi mức lãi suất làm tăng lượng cầu quỹ cho vay, đường cầu quỹ cho vay
dịch chuyển sang phải.
Hình 1.7. Tác động của chính sách tài khóa
1.3. LƯỢNG HÓA RỦI RO LÃI SUẤT
1.3.1. Mô hình kì hạn đến hạn
W
Lj
: tỷ trọng của TSN j trong tổng TSN (giá trị tính theo giá thị trường)
M
Ai
: kì hạn đến hạn của TSC i
M
Lj
: Kì hạn đến hạn của TSN j
Mức chênh lệch kì hạn = M
A
- M
L
Công thức trên nói lên kì hạn đến hạn của một danh mục TSC hoặc TSN bằng
tỷ trọng trung bình của tất cả các kì hạn cấu phần trong danh mục tài sản. Ảnh
hưởng của lãi suất lển bảng cân đối tài sản phụ thuộc vào tính chất và mức độ của
sự không cân xứng các kì hạn giữa danh mục TSC và danh mục TSN của NH, tức
là phụ thuộc vào tính chất của (M
A
– M
L
) là lớn hơn, bằng hay nhỏ hơn 0 và mức
độ chênh lệch (M
A
– M
L
).
Ví dụ: Xét một bảng cân đối tài sản đơn giản sau
Bảng 1.2 – Bảng cân đối tài sản đơn giản của NH
Tài sản có Tài sản nợ