CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH
( Computed tomography ) I. KHÁI NIỆM VÀ KỸ THUẬT:
1) Kỹ thuật dựa trên sự đâm xuyên của tia X qua một cấu trúc giải phẫu theo lớp
cắt ngang đã được lựa chọn trước, tỷ trọng của mô mà tia X đi qua trước khi đến
detector sẽ qui định mức độ suy yếu của chùm tia X. Tín hiệu về tỷ trọng của mô
nhận được từ detector sẽ được máy tính xử lý chuyển đổi thành hình ảnh Xquang.
2) Bề dày của lớp cắt thường từ 1-10 mm. Lớp cắt càng dày càng có nhiều tỷ trọng
của cấu trúc lân cận lẫn vào tỷ trọng trung bình của cấu trúc được quan tâm. Lớp
cắt càng mỏng hình ảnh quan tâm càng rõ. Tổn thương được phát hiện phụ thuộc
vào sự chênh lệch tỷ trọng giữa mô bệnh và mô bình thường xung quanh. Lớp cắt
dày thích hợp cho việc phát hiện các bệnh lý của nhu mô phổi. Tỷ trọng của phổi
thấp trong khi tỷ trọng của phần lớn các loại tổn thương nhu mô đều cao (chênh
lệch tỷ trọng lớn). Trên lớp cắt 10 mm có thể phát hiện được tổn thương có đường
kính 1 mm. Bề dảy lớp cắt 10 mm thường dùng để phân biệt hình ảnh tiết diện
ngang của mạch máu với tổn thương dạng nốt. Lớp cắt mỏng hơn thường lợi cho
việc xác định tổn thương ở trung thất, nơi mà sự chênh lệch tỷ trọng giữa tổn
thương và tổ chức lân cận ít hơn. (ví dụ, phát hiện hạch trung thất). Khoảng cách
giữa các lớp cắt phụ thuộc vào kích thước của tổn thương trên Xquang.
Thời gian quét: chuyển động của hô hấp, làm giảm chất lượng hình ảnh CT. Mỗi
lớp cắt cần thời gian của 1 nhịp thở. Thường chụp vào cuối thở vào hoặc cuối thở
ra.
Trường cắt: chất lượng hình ảnh bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố tạo hình ảnh
(pixels). Tốt nhất mỗi pixel nên nhỏ hơn khoảng cách tối thiểu, dưới 0,6-1 mm.
Kích thước pixel lớn hơn làm mất đi sự phân giải không gian. Nhưng kích thước
pixel nhỏ quá cũng không cần thiết vì làm tăng khối lượng xử lý của máy tính. Sự
lựa chọn trường cắt dựa vào đường kính lồng ngực của bệnh nhân. Làm tăng
tương phản (cản quang). Các thuốc cản quang dùng đường tĩnh mạch hay dùng
trong CT, đặc biệt khi xem xét cấu trúc mạch máu rốn phổi-trung thất.
chủ và thường lấn từ TM ban đầu T tới quai động mạch chủ và động mạch phải.
KT thay đổi theo tuổi. Người > 30 tuổi giảm chiều cao và dầy, tỷ trọng ngang mờ.
Tuy nhiên TU vẫn trông rõ mặc dù ở người > 40 tuổi. ậngười 40 tuổi, nếu cso 1
khối hình cầu hoặc trái xoan ở vị trí bình thường của TU, nhất là khi khối đó làm
biến đổi màng phổi lân cận thì rất gợi ý Thymoma.
Bệnh lý TU rất khó loại ở người trẻ vì họ TU chưa bị thấm nhiều mỡ. TU to lan
toả và đối xứng có thể do thấm nhiều bệnh Hodglein. Tia thường làm cho TU xuất
hiện kém hơn và bị đặc lại.
U TU bờ luôn rõ chứng tỏ tính chất lành tính khi hình ảnh xâm lấn TC mờ lân cận
chứng tỏ TC ác tính. CT không phân biệt u lành-ác tới khi có bằng chứng của di
căn vào trung thất, màng phổi. CT không thể phân biệt hạch TT với u tuyến ức.
3. Teratomas
Teratomas khó phân biệt với tổn thương TU nên chỉ dựa vào CT: cả 2 bệnh
thường là u cứng và có thể có canxi hoá. Nhưng không giống như prelvicdermoid
Teratomas cũng rất hiếm có răng. CảTeratomas tổn thương TU có thể có vùng tỉ
trọng thấp lẫn cùng với vùng cứng. Teratomas vùng tỉ trọng thấp có thể là kén
hoặc là mớ ở trong lòng khối u cứng. U tâm thất có tỉ trọng thấp là chính gợi ý
Teratomas dạng kén hặoc u tế bào mầm ở trung thất.
4. Bệnh hạch Lympho:
Bệnh hạch ( trong thất biểu hiện hình ảnh là u cứng. Trong hạch có thể có vùng tỉ
trọng thấp do hoại tử hoặc canxi hoá bệnh u hạt hoặc do ktra ). Hạch đôi khi tăng
tỉ trọng sau tiêm cản quang giúp phân biệt với mạch máu trung thất.
5. Kén:
Các kén lành tính của TT có hình ảnh thuần nhất, tỉ trọng H2O, không tăng tỉ
trọng sau tiêm cản quang.
Kén màng ngoài tim xuất hiện cả bên phải và trái góc tâm hoành. Kén PQ điển
hình có hình tròn, ô van , tỉ trọng thấp ( = H2O ) chứa cavina hoặc bên phải KQ.
Tỉ trọng của kén màng ngoài tim và PQ đôi khi cao hơn H2O. Mặc dù phần lớn
kén có tỉ trọng cao hơn H2O một chút vì có chứa dịch nhầy và chất hoại tử, việc
khắng định Э = CT lúc đó không thực hiện được. Lúc đó cần sinh thiết hoặc phẫu
Mối quan hệ giữa các thành phần trên được CT xác định tơưng đối tốt.
Phân tích rốn phổi dựa trên GP phế quản ( trên hình ảnh CT ) không cần dùng
thuốc cản quang ( không phải MM ) . Thuốc cản quang dùng phân biệt giữa 2
thành phần tăng cản quang ( MM ) và không tăng cản quang ( không phải MM ).
Thành phần không tăng cản quang thường là hạch hoặc u . Đôi khi ( hiếm gặp ) có
thể thấy L cũng tăng cản quang, do đó khó phân biệt với MM phổi. Hiện tượng
này cũng có thể gặp trong bh hạch L miễn dịch ( angroimmumoblastch
bymphadenopathy ), k tế bào nhỏ, di căn đường máu từ k thận, tuyến giáp, nhiễm
vi rút.
Bệnh lý hạch rốn phổi k xác định được trên phim XQ, có thể xác định = CT, đặc
biệt có hạch ở phía sau rốn phổi. Lúc này CT có giá trị ngang TOMO nghiêng. CT
là PP hình ảnh tốt nhất bệnh lý rốn phổi.
10. U tròn đơn độc:
XQ thường phân biệt u lành và ác phụ thuộc vào cách thức phát triển của nó và sự
có mặt canxi hoá. 1 u tròn lành tính là u phát triển quá 2 năm hoặc có vôi hoá dạng
ngô rang ( popcom ) hoặc trung tâm . Tổn thương canxi hoá khó xác định trên
phim thường qui hoặc cắt lớp qui ước. CT là PP lí tưởng để phân biệt giữa u lành
và u ác tính dựa vào tỉ trọng . 1 hạn chế của CT trong trường hợp này là để chụp
lớp mỏng nhằm nâng cao giá trị tỉ trọng thấp 1 cách nhân tạo để tránh “ trung bình
thể tích “ của tổ chức phổi xung quanh có tỉ trọng thấp.
11. Nhu mô phổi ( cửa sổ phổi ): có nhiều hạn chế , sử dụng CT lớp mỏng phân
giải cao.
- Tổn thương phổi lan toả
- Kén khí
- Tổn thương hang.
Kích thước, bề dày của thành hang, sự đều đặn của bờ có thể nhận định tốt trên
phim CT> XQ thường qui.
- Dâu PQ = (+) .
- Tổn thương MM ( bã đậu hoá ) phát hiện các hang ẩn .
- Phát hiện cácc cấu trúc khác ở trong hang ( u nấm aspergollus )
1. Di căn K đến phổi.
Trên 1 len không bị K ở 1 CQ khác, để xác định có di căn đến phổi không. CT là 1
PP có độ nhạy cao ( XĐ được những di căn còn rất nhỏ ). Phần lớn di căn phổi
nằm dưới MP nên XQ thường qui không xác định được, kể cả cắt lớp thường qui.
CT xác định được những nốt có d < 6 mm. Nốt mỡ do di căn được phân biệt với
bóng mỡ MM như sau:
- ở khu vực ngoại vi: nốt mỡ di căn tách khỏi MM, đường kính lớn hơn bóng mỡ
MM lân cận ( vỏ cùng 1 khoảng cách tính từ thành ngực ).
- Nếu 2 bóng mỡ liên tục với nhau, bóng mỡ MM là bóng mỡ thay đổi về kích
thước và hình dạng.
Tuy nhiên độ đặc hiệu của CT phát hiện di căn thể ẩn không cao. ở Châu âu người
ta thấy có tới 25% người có các nốt mờ ngoại vi không phải do di căn mà là tổn
thương lành tính ( u hạt trong bệnh histo plasmosis ).
Ở người có nguy cơ cao mắc bệnh melanoma CT CT là phát hiện tốt nhất để phát
hiện các nốt di căn không nhìn thấy trên phim.
Bệnh nhân với các bệnh lý ác tính ngoài lồng ngực, khi có 1 chức vụ đơn độc ở
XQ thường qui, CT giúp phân biệt giữa K phổi nguyên phát với di căn phổi.
2. Thymoma.
Bài giảng cao học
PGS.TS. Đồng Khắc Hưng