ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CÔNG NGHỆ PHẦN MỀM “KĨ THUẬT LƯU LƯỢNG IP/WDM” CHƯƠNG 3_2 - Pdf 20

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CÔNG NGHỆ PHẦN MỀM “KĨ
THUẬT LƯU LƯƠNG IP/WDM”

CHƯƠNG III TÁI CẤU HÌNH TRONG KĨ THUẬT LƯU
LƯỢNG IP/WDM

3.1.4 Dịch chuyển mô hình ảo
Trong mô hình IP chồng lấn mạng WDM có khả năng tái cấu hình, IP và
WDM có thể truyền thông qua UNI quang hoặc WDM NC&M. UNI quang cho
phép một lượng nhỏ thông tin về mạng vật lí (ví dụ như cấu hình và các kết nối
mạng WDM) được chia sẻ với mạng khách. WDM NC&M thể hiện một hệ thống
quản lí IP và WDM tách biệt hoàn toàn. Do vậy, giả thiết trong cấu hình mạng
chồng lấn là ở chỗ mạng WDM có thể hỗ trợ mô hình ảo. Nếu một mô hình ảo
không được hỗ trợ hoặc một đường đi ngắn nhất không được thiết lập do các điều
kiện ràng buộc tại tầng WDM thì giải pháp dịch chuyển dự phòng cho mô hình gốc
sẽ được dùng đến. Nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng thắt cổ chai tài nguyên trong các
mạng IP/WDM xảy ra tại các giao diện IP chứ không phải tại các giao diện WDM.
Các giao diện IP thường đắt và hiếm hơn các giao diện WDM. Nói chung, có một
số lượng giao diện WDM nhất định luôn sẵn sàng. Vì thế nếu một mô hình ảo
không thể được hỗ trợ bởi một vật mang (nghĩa là nhà cung cấp máy chủ mạng) thì
vật mang sẽ xem xét tới cập nhật dung lượng của nó hoặc là từ chối yêu cầu tài
nguyên ngay lập tức. Vật mang có thể không thích chia sẻ thông tin mô hình với
các máy khách. Các kinh nghiệm thiết lập mô hình và kinh nghiệm dịch chuyển
được giới thiệu một cách riêng rẽ. Chúng có thể được coi là các công cụ riêng rẽ và
chỉ được sử dụng khi cần thiết. Nhưng một giả thiết chung trong mô hình liên kết
mạng chồng lấn IP/WDM có khả năng tái cấu hình là ở chỗ mô hình ảo có thể
được hỗ trợ trong mạng WDM.
Việc kiểm tra động các điều kiện ràng buộc vật lí mạng WDM trong tái cấu
hình mô hình đòi hỏi một xu hướng IP/WDM tích hợp mạnh hơn nữa. Ví dụ như,
trong mô hình mạng IP/WDM có khả năng tái cấu hình ngang hàng, thông tin về
mô hình của mạng WDM sẽ được chia sẻ với mạng IP. Chính các mạng IP này làm

dụng để cho một dịch chuyển suôn sẻ mặc dù chúng không đảm bảo đó là giải
pháp tối ưu. Một thuật toán dựa trên kinh nghiệm sẽ được cung cấp tuỳ theo mục
tiêu dịch chuyển mô hình đường đi ngắn nhất trong mạng IP/WDM chồng lấn.
Thuật toán dựa trên kinh nghiệm dịch chuyển mô hình
Có bốn hoạt động nguyên thuỷ liên quan tới dịch chuyển và chúng được định
nghĩa như sau:
Hoạt động A: loại bỏ một cạnh
 Cấu hình hai giao diện bộ định tuyến IP liên quan tương ứng
 Loại bỏ hai đường đi ngắn nhất đơn hướng trong tầng WDM
 Cập nhật tập tin sau khi loại bỏ cạnh (bao gồm các chi tiết về đường đi
ngắn nhất như là các giao diện máy khách, tên/địa chỉ của các WADM,
các hop hoặc các WSXC trung gian, các chi tiết về bộ định tuyến và các
bước sóng).
Hoạt động B: bổ sung một cạnh
 Tính toán và thiết lập một tuyến nối ảo trong tầng WDM. Cần chú ý
rằng một tuyến nối IP ảo khi được triển khai sẽ sử dụng hai đường đi
ngắn nhất đơn hướng. Chúng có thể nằm trên cùng một tuyến sợi quang
nhưng chiếm hai kênh bước sóng khác nhau. Nếu vì bất cứ sự thay đổi
nào mà quá trình chèn bổ sung này bị thất bại thì thuật toán sẽ bỏ qua
bằng cách gọi hoạt động R.
 Cấu hình các giao diện bộ định tuyến IP theo các địa chỉ IP giao diện
được cập nhật. Cần chú ý rằng bằng cách sử dụng giao diện IP không
được đánh số hay địa chỉ IP thứ cấp gán trước và một địa chỉ IP sơ cấp
cho một giao diện thì sẽ không cần cập nhật địa chỉ IP giao diện nữa.
 Cập nhật tập tin về sự chèn cạnh (bao gồm cả các thông tin chi tiết về
đường đi ngắn nhất và bộ định tuyến).
Hoạt động E: đánh giá kết nối mạng
 Hoàn toàn kết nối được định nghĩa là khi bắt đầu từ một node bất kì vẫn
có khả năng truyền tới bất cứ một node nào khác. Có thể triển khai điều
này nhờ việc sử dụng thuật toán Depth-First Search.

 Bước 5: Lặp lại bước 3 và bước 4 cho tới khi cả hàng đợi bổ sung và
hàng đợi loại bỏ đều rỗng.
Cần chú ý rằng bước 2 được thực hiện trước bước 3 để giải phóng các giao
diện đang kết nối. Một mạng đang hoạt động thường triển khai tất cả các giao diện.
Do đó nếu không loại bỏ các kết nối đang tồn tại thì mạng sẽ không thể thiết lập
các kết nối mới.
3.2 Tái cấu hình cho các mạng WDM chuyển mạch gói
Rõ ràng là có sự giống nhau giữa các mạng WDM chuyển mạch gói và các
mạng chuyển mạch gói khác, chẳng hạn như các bộ định tuyến IP điện. Tuy nhiên,
các gói quang sẽ có khuôn dạng bản tin khác. Các khuôn dạng bản tin này sẽ tương
tự như các mào đầu nhãn MPLS. Hơn thế, các hệ thống chuyển mạch gói quang
phù hợp cho kích thước gói tin lớn hơn so với lưu lượng đầu cuối người sử dụng
được hỗ trợ bởi các bộ định tuyến IP điện.
3.2.1 Tổng quan về tái cấu hình WDM chuyển mạch gói
Trong các mạng IP thì nhu cầu hỗ trợ là cả chuyển mạch gói lẫn chuyển mạch
kênh. Một mạng IP/OLS có thể được thiết kế theo cách nào đó sao cho bất kì bước
sóng nào trong sợi quang ở tầng WDM cũng có thể thiết lập động ở chế độ kênh
hay chế độ gói. Trong chế độ gói, OLS làm việc giống như chuyển mạch nhãn
MPLS làm việc trong các bộ định tuyến chuyển mạch nhãn ở miền điện. Nhưng
các hoạt động của OLS xảy ra ở miền quang. Trong chế độ chuyển mạch kênh,
OLS làm việc giống như mạng đấu chéo quang. Điều này đòi hỏi pha báo hiệu
riêng để thiết lập kênh liên lạc.
Hình 3.2 chỉ ra một tái cấu hình mạng WDM chuyển mạch gói. Như được chỉ
ra trên hình, tồn tại một mô hình sợi IP/OLS tích hợp ngay phía trên các MPLS
LSP và các đường đi ngắn nhất. Tái cấu hình OLS có liên quan tới tái cấu hình kết
nối và tái cấu hình MPLS LSP. Hiện nay các mạng OLS không hỗ trợ hoàn toàn
chuyển tiếp dựa trên IP đích, nghĩa là trong mặt phẳng dữ liệu, OLSR không đọc
cũng như không hiểu mào đầu IP datagram.
Định tuyến lưu
lượng

tin liên quan tới kết nối đường đi ngắn nhất và chế độ hoạt động của mỗi một bước
sóng trong tất cả các sợi cũng được truyền thông qua các OSPF mở rộng. Mỗi
thành phần mạng duy trì hai mô hình mạng. Một mô hình là mô hình vật lí mô tả
các thành phần mạng vật lí và các kết nối sợi quang giữa chúng. Mô hình còn lại là
mô hình đường đi ngắn nhất trong đó xác định các kết nối đường đi ngắn nhất. Khi
một thành phần mạng quyết định thiết lập một kết nối đường đi ngắn nhất mới, đầu
và cuối của đường đi ngắn nhất đó sẽ có trách nhiệm định tuyến đường đi ngắn
nhất thông qua mô hình vật lí thoả mãn các điều kiện ràng buộc của mạng. Khi một
node nguồn muốn gửi dữ liệu tới một node đích, có thể tồn tại hoặc không tồn tại
một đường đi ngắn nhất trực tiếp giữa chúng. Hơn thế nữa, việc thiết lập một
đường đi ngắn nhất mới có thể hoặc không thực hiện được tuỳ theo độ khả dụng
kênh và các điều kiện ràng buộc khác. Trong MPLS điện truyền thống, các LSP là
các kênh ảo do dó chúng có thể được thiết lập để hỗ trợ kết nối hình lưới hoàn
toàn. Do vậy, dữ liệu chuyển mạch nhãn trong MPLS có thể được phân phát trong
một hop LSP.
Cho các kết nối không hoàn toàn trong OLS, cần có định tuyến dữ liệu tại mỗi
thành phần mạng và không gian định tuyến tương ứng là mô hình đường đi ngắn
nhất. Do đó ở đây tồn tại hai tầng định tuyến. Cấu trúc xếp tầng này là kết quả tự
nhiên của việc gắn một mô hình gói (IP) trong một miền chuyển mạch kênh
(WDM đấu chéo). Kết quả là kĩ thuật lưu lượng có thể được thực hiện ở mỗi tầng.
Trong khi tại tầng cao hơn, nghĩa là mô hình đường đi ngắn nhất, các giải pháp kĩ
thuật lưu lượng MPLS điện hiện có có thể được ứng dụng. Tầng thấp hơn cần một
thuật toán lí thuyết để xác định cấu hình và tái cấu hình đường đi ngắn nhất trong
mô hình vật lí của mạng WDM. Hơn thế, cũng cần các tương tác kết hợp của hoạt
động kĩ thuật lưu lượng giữa tầng thấp và tầng cao.
Có hai phương pháp để thiết lập một đường mới. Đường mới này có thể là
đường đi ngắn nhất hoặc LSP. Với xu hướng thứ nhất, bất cứ khi nào một node cần
thiết lập một LSP tới một node khác thì đầu tiên, node đầu cuối đó sẽ cố gắng thiết
lập đường đi ngắn nhất trực tiếp tới node đầu cuối. Nếu như tầng vật lí không thể
hỗ trợ đường đi ngắn nhất đó, node đầu cuối đó sẽ cố gắng định tuyến LSP đó

 Hành động 1: Một số LSP hiện có được loại bỏ trước để giải phóng
dung lượng tại thắt cổ chai để chứa các LSP mới nếu như chúng có độ
ưu tiên thiết lập cao hơn.
 Hành động 2: Các yêu cầu thiết lập LSP mới sẽ bị từ chối.
Ở một mức độ nào đó, trường hợp thứ nhất có thể xem như một khó khăn
định tuyến dựa trên các điều kiện ràng buộc cụ thể. Trong khi đó trường hợp thứ
hai yêu cầu cân bằng tải MPLS đạt được giới hạn của nó.
Với công nghệ WDM hiện nay, có một lớp kĩ thuật lưu lượng khác phục vụ
cho LSP lớp trên. Vì mô hình đường đi ngắn nhất được cấu thành từ các kết nối
kênh vật lí có khả năng tái cấu hình nên sẽ tồn tại các trường hợp trong đó các
thành phần không kết nối được trong mô hình dư thừa có thể tái kết nối. Mô hình
đường đi ngắn nhất mới này cùng lúc có thể thoả mãn các yêu cầu kết nối cho tất
cả các LSP hiện có. Một thuật toán dựa trên kinh nghiệm tái cấu hình được thiết kế
để tìm kiếm một mô hình đường đi ngắn nhất như vậy sẽ được trình bày trong phần
cuối của phần này.
3.2.3 Một trường hợp thực tế
Trước khi đi vào thuật toán dựa trên kinh nghiệm, hãy xem xét một ví dụ để
thể hiện các ý tưởng cơ bản của thuật toán. Hình 3.3 chỉ ra một mạng WDM ví dụ,
với một mô hình ring có 6 node. Trong hình, các đường liền biểu diễn các sợi
quang, mỗi đường như vậy hỗ trợ hai bước sóng. Hình 3.3(b) miêu tả mô hình
đường đi ngắn nhất tương ứng. Hình 3.3 Sử dụng tái cấu hình đường đi ngắn nhất để tạo thêm LSP
Tại một thời điểm node C cần thiết lập một LSP mới tới node F, và mô hình
đường đi ngắn nhất dư thừa mà node C thấy tại thời điểm nó đang cố gắng thiết lập
LSP mới đó được biểu diễn trên hình 3.3(c). Rõ ràng là, các tài nguyên hiện có sẵn
cho node C là không đủ để hỗ trợ LSP đang yêu cầu. Bây giờ câu hỏi đặt ra là liệu
có khả năng tái cấu hình một số đường đi ngắn nhất để chứa được LSP mới đó
không. Câu trả lời là có thể có. Tuy nhiên, một câu trả lời chắc chắn chỉ có sau một

bởi <N, L> trong đó L là tập các đường đi ngắn nhất. Một đường đi
ngắn nhất là một kênh quang có hướng bắt đầu từ node mạng đầu cuối
không đi qua hoặc đi qua một số các node mạng khác và kết thúc tại
node mạng đích của nó. Do vậy, đường đi của một đường đi ngắn nhất
có thể được biểu diễn dưới dạng một chuỗi các tuyến nối sợi quang
và/hoặc một danh sách các node mạng.
 Việc ghép một mô hình đường đi ngắn nhất lên một mô hình vật lí được
gọi là hoạt động ánh xạ của mô hình đường đi ngắn nhất. Hoạt động
ánh xạ kết hợp mỗi đường đi ngắn nhất trong mô hình đường đi ngắn
nhất với một danh sách các node mạng mà đường đi ngắn nhất đó đi
qua trong mô hình vật lí.
Thuật toán sử dụng các kí hiệu sau:
 Mô hình đường đi ngắn nhất dư thừa (hay đơn giản hơn là mô hình dư
thừa) R(A,Z). Trong đó tập các nguồn còn dư thừa ,NA

và để thiết
lập LSP với đích
NZ

sẽ được biểu thị bởi <N, R> trong đó
NR

. A
không thể thiết lập LSP đó nếu như R(A, Z) là một lược đồ không kết
nối (không luôn luôn có một đường từ một node bất kì tới tất cả các
node khác).
 Một R không kết nối ít nhất hai phần. Phần C của lược đồ G là phần
con kết nối lớn nhất trong G, nghĩa là luôn luôn có một đường nối từ v
1
tới v

không cần thiết phải lần lượt tìm kiếm tất cả các đường đi ngắn nhất trong mô hình
dư thừa để tìm thấy một đường đi ngắn nhất hiện thực. Thay vì thế nó có thể chỉ
tìm kiếm trong một phạm vi nhỏ hơn vì một đường đi ngắn nhất hiện thực giữa hai
điểm cuối phải đi qua ít nhất một sợi quang trong tập giao nhỏ nhất trong hai điểm
cuối đó. Do đó, tìm kiếm đường đi ngắn nhất trong ví dụ của tập giao nhỏ nhất
giữa phần đầu và phần cuối là đủ chấp nhận được. Khi mà một đường đi ngắn nhất
hiện thực đã được tìm ra, sẽ có nhiều cách để tái cấu hình nó. Cách cụ thể được
chấp nhận thường tuỳ thuộc theo các điều kiện xem xét bổ sung. Một giải pháp tái
cấu hình được nói là có thể dùng nếu một đường đi ngắn nhất hiện thực có thể
được xác định. Khi có nhiều đường đi ngắn nhất hiện thực, sự lựa chọn tuyến hiện
thực tái cấu hình sẽ tuân theo trật tự sau:
 Đường đi ngắn nhất được ưa thích nhất chia sẻ cùng node đầu
 Đường đi ngắn nhất ưa thích thứ hai nằm trong phần đầu hoặc phần
cuối.
 Đường đi ngắn nhất ít được ưa thích nhất thuộc phần thứ ba.
Các kinh nghiệm sẽ được sử dụng khi một node cần thiết lập một LSP tới một
node khác nhưng lại không tìm đủ tài nguyên trong mô hình đường đi ngắn nhất
hiện tại. Cần chú ý rằng các kinh nghiệm này có thể được tổng quát hoá trong một
số trường hợp, trong đó các tài nguyên bổ sung là cần thiết giữa hai node cụ thể.
Đầu vào của thuật toán dựa trên kinh nghiệm là mô hình dư thừa. Hơn thế, thuật
toán dựa trên kinh nghiệm phải có thông tin đầy đủ về mô hình đường đi ngắn nhất
và ánh xạ của nó sang mô hình vật lí cũng như chính bản thân mô hình vật lí đó.
Thuật toán trước tiên xác định tập giao nhỏ nhất các sợi giữa phần đầu và phần
cuối, và sau đó xác định tất cả các đường đi ngắn nhất nằm trên tập các sợi quang
đó. Kế đến, thuật toán sẽ tìm kiếm trong mô hình đường đi ngắn nhất một đường đi
mà đi qua phần đầu, một sợi trong tập giao nhỏ nhất và phần cuối. Một giải pháp
tái cấu hình sẽ tồn tại nếu một đường đi ngắn nhất như vậy được tìm thấy. Sự miêu
tả giả mã hoá của thuật toán dựa trên kinh nghiệm tái cấu hình đường đi ngắn nhất
được cho dưới đây:
/* algorithm inputs */

C_A2
R(Ae,Ze)R(A2,Z2)
R(A1,Z1)
A2
A1
C_Z1

Hình 3.4 Một ví dụ khi áp dụng một thuật toán dựa trên kinh nghiệm mở rộng
Thuật toán tái cấu hình trên có thể được mở rộng để giải quyết với mạng LSP
trong đó n<m tái cấu hình. Nhu cầu m tái cấu hình có thể đạt được bằng cách lần
lượt áp dụng thuật toán dựa trên kinh nghiệm cơ sở cho mỗi trường hợp. Tuy
nhiên, một giải pháp được tối ưu hoá và tốt hơn có thể có cho các yêu cầu nhiều
LSP. Ý tưởng này được giải thích nhờ sử dụng hình vẽ 3.4. Giả thiết rằng điểm đầu
A1 của LSP mong muốn có điểm cuối Z1, nhìn thấy một mô hình không kết nối dư
thừa R (A1, Z1) và điểm đầu A2 của LSP mong muốn với điểm cuối Z2, nhìn thấy
mô hình dư thừa không kết nối R (A2, Z2). Thuật toán tái cấu hình đường đi ngắn
nhất mở rộng có thể giải quyết một vấn đề tương tự, trong đó giải pháp mục tiêu
thoả mãn nhu cầu của cả A1 và A2 (tuỳ thuộc vào các điều kiện cụ thể).
Vấn đề tái cấu hình tương đương có thể được biểu diễn theo các bước sau
đây. Mỗi bước chỉ được xử lí nếu các bước trước đó đã thành công. Việc thất bại
trong bất kì bước nào cũng có nghĩa là vấn đề tái cấu hình tương đương là không
thể xác định được, và do đó, một giải pháp tái cấu hình duy nhất sẽ không tồn tại
cho tập các nhu cầu tái cấu hình riêng rẽ. Trong các trường hợp như vậy, mỗi vấn
đề tái cấu hình phải được giải quyết một cách riêng rẽ. Các bước như vậy bao gồm:
 Bước 1: Kết hợp lựa chọn của vấn đề tái cấu hình đầu tiên Q1 và của
vấn đề tái cấu hình thứ hai Q2.

Qe = Q1

Q2. Điều này đảm bảo rằng

điểm này đã được tiếp cận, một giải pháp tái cấu hình duy nhất có thể có bằng cách
áp dụng phiên bản cơ sở của thuật toán tái cấu hình đường đi ngắn nhất cho vấn đề
tương đương. Trong ví dụ này, chỉ có hai yêu cầu tái cấu hình. Xu hướng này làm
việc tốt khi số lượng vấn đề tái cấu hình là nhỏ (ví dụ như 3 hoặc 4). Để hiệu quả
hơn, trật tự của các bước tính toán nên được thay đổi. Một điều kiện cần thiết để
một vấn đề tương đương tồn tại là sự tồn tại của các thành phần đầu và cuối tương
đương. Khi số lượng vấn đề tái cấu hình lớn hơn hoặc bằng 3, các tập giao này có
thể không tồn tại cho tất cả các phần tử của một tập vấn đề. Tuy nhiên, chúng vẫn
có thể được áp dụng cho một vấn đề/yêu cầu con. Do vậy, thuật toán mở rộng
trước tiên nên kiểm tra khi nào có nhiều tái cấu hình đồng thời. Sau đó, kết hợp các
chấp nhận được nên được thực hiện sau khi một tập các vấn đề ghép lại được đã
được biết. Giả mã hoá của phiên bản tăng cường được trình bày dưới đây, đã xem
xét tới vấn đề đó.
/* algorithm inputs */
G; // physical topology
P; // lightpath topology
M; // lightpath to fibre mapping
{Q}; // qualifier set
{A}; // head end node set
{Z}; // tail end node set
{R ({A},{Z})}; // residual lightpath topology set per corresponding pairs in
{A} and {Z}
/* compute intersection of head/tail components of {R({A}, {Z})}, note
xinstanceList contains IDs of problem with which x instances asscociate */
assign two empty lists, headInstanceList and tailInstanceList, to every node in
P
for each R(i) in {R ({A},{Z})} {
for each node in P {
if node is in the head component of R(i)
headInstanceList (node) + = i;

}
if (Ae ! = empty) AND (Ze ! = empty) {
Re (Ae (e), Ze (e)): = Qe * intersection (R(A(list), Z(list)));
E + +;
}
}
Trong trường hợp tái cấu hình đơn, các node đầu và node cuối nhiều khả năng
là đã được biết nhưng các cần phải tính toán các thành phần đầu và cuối. Sau đó,
tái cấu hình được tìm kiếm giữa thành phần đầu và cuối này. Trong trường hợp tái
cấu hình đa, cả thành phần đầu (tương đương) Ae và thành phần cuối Ze đều đã
biết. Do đó, thuật toán không cần tính toán các thành phần đầu và cuối.
3.2.5 Thảo luận về thuật toán
Ví dụ tái cấu hình và thuật toán trình bày ở trên chủ yếu tập trung vào tìm
kiếm một đường đi ngắn nhất khi tầng trên MPLS không thể định tuyến một LSP
mới thông qua mô hình đường đi ngắn nhất hiện có. Thực tế, tái cấu hình có thể
theo một xu hướng khác nghĩa là nối hai đường đi ngắn nhất. Giả sử một LSP đa
đường chỉ là LSP sử dụng các đường đi ngắn nhất đó. Các đường đi ngắn nhất đó
có khả năng tái cấu hình lại bằng cách loại bỏ các node trung gian bằng cách móc
nối các đường đi ngắn nhất đó lại. Việc quyết định xem có móc nối hai đường đi
ngắn nhất tại node tiếp xúc hay không là một quyết định cục bộ dễ dàng tại node
đó. Đối với một node tiếp xúc, nếu tất cả các LSP trong đường đi ngắn nhất đến
L_in tiếp tục trên cùng đường đi ngắn nhất ra L_out và tất cả các LSP trong L_out
là mở rộng của các LSP đến từ L_in, nghĩa là không có LSP nào bị loại bỏ khỏi
L_in và/hoặc bổ sung vào L_out tại node đó, thì cặp đường đi ngắn nhất L_in và
L_out này có thể móc nối với nhau. Trong thực tế, có thể có nhiều trường hợp khác
có thể kết hợp trong việc xem xét liệu có nên móc nối hai đường đi ngắn nhất như
vậy hay không. Ví dụ như, quá trình bổ sung/loại bỏ của LSP trong các đường đi
ngắn nhất đó trong quá khứ gần, cấp tải của các đường đi ngắn nhất đó…
Tái cấu hình theo kiểu nào cũng đòi hỏi điều khiển dịch chuyển nhất định sao
cho các dịch vụ được hỗ trợ bởi các LSP quan tâm vẫn được đảm bảo trong quá

Khi móc nối hai đường đi ngắn nhất tại một node, hoạt động căn bản là cho
phép node dòng biết việc ánh xạ nhãn LSP đó tại node tiếp xúc. Hình 3.5 có thể
được dùng như một kiểu đặt trước. Giả thiết rằng, ban đầu, một đường đi ngắn nhất
màu cam tồn tại từ node A tới node B, và một đường đi ngắn nhất khác từ node B
tới node C. Chúng là hai đường đi ngắn nhất riêng rẽ nhưng ngẫu nhiên lại cùng
màu. Chúng là hai LSP chuyển tiếp đi vào từ đường đi ngắn nhất màu cam AB và
tiếp tục trên đường đi ngắn nhất màu cam BC. Bây giờ node B quyết định móc nối
hai đường đi ngắn nhất này lại với nhau. Khi các đường đi ngắn nhất này được
móc nối mà không có sự trợ giúp của dịch chuyển cấu hình, node C sẽ không hiểu
các nhãn mà các gói tin đến từ đường đi ngắn nhất màu cam từ node A đang mang.
Điều này là bởi vì ý nghĩa của nhãn chỉ là một sự đồng thuận tại thời điểm thiết lập
LSP giữa hai node liền kề. Do đó, node B phải cho node C biết ánh xạ của nó từ
một nhãn của node A tới nhãn của nó cho các LSP như vậy. Trong ví dụ này, hai
đường đi ngắn nhất trên móc nối ngẫu nhiên có cùng màu. Nhưng điều này là
không nhất thiết khi lập kế hoạch để móc nối hai đường đi ngắn nhất miễn là node
đó có khả năng chuyển đổi bước sóng hoàn toàn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status