NGUYÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG CHƯƠNG TRÌNH LẬP LỊCH TRONG MẠNG IP CHƯƠNG 1_1 - Pdf 20

ĐỒ ÁN HỆ THỐNG MẠNG
Đề tài:
NGUYÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG
CHƯƠNG TRÌNH LẬP LỊCH TRONG
MẠNG IP

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ QoS
1. 1. Giới thiệu chung
QoS là chất lượng truyền tải các thông tin trên mạng theo đúng thời gian,
kiểm soát băng thông, đặt quyền ưu tiên cho các lưu thông, cung cấp mức độ an
toàn cao. QoS còn được kết hợp với khả năng chuyển tải các thông tin phụ thuộc
vào trễ (delay sensitive) như video trực tiếp hay âm thanh mà vẫn có đủ băng thông
cho các lưu thông khác dù ở tốc độ thấp hơn. Quyền ưu tiên liên quan đến việc
đánh dấu một số thông tin để có thể đi qua những mạng đông đúc trước khi những
những thông tin khác có độ ưu tiên thấp hơn đi qua.
Quyền ưu tiên được gọi là cấp dịch vụ (class of service) hay còn gọi la CoS.
Cung cấp QoS đòi hỏi cải tiến cơ sở hạ tầng của mạng. Một kỹ thuật để mở
rộng băng thông là tạo các trục chính trên mạng bằng các bộ chuyển mạch ATM
hoặc Gigabit Ethernet. Điều này cũng có nghĩa là nâng cấp một mạng cục bộ dùng
chung thành một mạng cục bộ chuyển mạch. Hơn nữa, các giao thức mới yêu cầu
phải quản trị các quyền ưu tiên lưu thông và băng thông trên mạng. Ví dụ sau đây
sẽ mô tả cách thức QoS áp dụng vào thực tế.
Giả sử bạn có cơ hội để thiết kế lại hệ thống đường sá trong trung tâm. Hệ
thống đường sá hiện thời không bảo đảm bạn có thể đi đến đích đúng giờ, cũng
không cung cấp được những mức độ ưu tiên cho các lưu thông đặc biệt, như các xe
cấp cứu hoặc có những người sẵn sàng trả tiền để được đi trên các tuyến không tắc
nghẽn. Tình huống này cũng tương tự như mô hình truyền dữ liệu “nỗ lực cao
nhất” (best-effort) trên Internet, mà các gói được ưu tiên như nhau và phải truyền
qua các băng thông có sẵn.
Việc đầu tiên là phải xác định cách thức cải tiến chất lượng dịch vụ được

tín có được qua việc phục vụ cộng đồng. Những người này được xác định và được
cấp quyền qua một hệ thống máy tính hóa để điều khiển những chế độ ưu tiên như
vậy.
Trong môi trường mạng nội bộ, quyền ưu tiên của người sử dụng được thiết
lập bởi những nhà quản trị mạng trên máy chủ dựa trên các policy server. Trên
Internet, quyền ưu tiên và băng thông được cung cấp trên nền tảng trả tiền để sử
dụng. Điều này ngăn cản những ai sử dụng quá nhiều băng thông, nhưng nó đòi hỏi
những nhà cung cấp dịch vụ Internet phải đồng ý với những nhà cung cấp dịch vụ
Internet khác cùng thiết lập một chất lượng dịch vụ (QoS) qua Internet và đòi hỏi
họ có những hệ thống thanh toán để tính tiền khách hàng
1. 1. 1 Chất lượng dịch vụ của ATM
Cung cấp chất lượng dịch vụ trên mạng ATM thì tương đối dễ dàng do nhiều
nguyên nhân. Đầu tiên, ATM sử dụng các cell có kích thước cố định để phân phối
dữ liệu, trái ngược với những khung có kích thước biến đổi được sử dụng trong
môi trường mạng cục bộ. Kích thước cố định sẽ tiện lợi hóa việc đoán trước lưu
lượng và những đòi hỏi về băng thông. Giả sử bạn tìm cách xác định có bao nhiêu
xe cộ đi qua một đường hầm trong một giờ. Sẽ dễ dàng nếu tất cả các xe điều có
cùng kích thước, nhưng nếu chúng là xe con, xe buýt và xe tải trung… kích thước
khác nhau sẽ gây khó khăn cho việc xác định trước lưu lượng. Thuận lợi của
những cell có kích thước của mạng ATM là ở chổ những nhà cung cấp dịch vụ có
thể chỉ định trước băng thông và làm hợp đồng với khách hàng mà đảm bảo được
chất lượng dịch vụ.
Mạng ATM cũng có tính hướng kết nối. Những cell được phân phối qua
những mạch ảo theo thứ tự, một yêu cầu quan trọng đối với hình ảnh và âm thanh
theo thời gian thực. Trước khi gửi dữ liệu, một mạch ảo phải được thiết lập. Mạch
ảo này có thể được thiết lập trước hoặc cài đặt theo yêu cầu (bằng cách chuyển
mạch). Trong trường hợp sau, mạng sẽ cung cấp mạch nếu nó có thể đáp ứng đòi
hỏi của người sử dụng. Chất lượng dịch vụ QoS cho những mạng trong văn phòng
được thiết lập dựa trên giải pháp thuộc về quản trị hoặc các giải pháp khác. Nếu
mạng được nối với mạng ATM của nhà truyền thông thì những thông số của chất

và tỉ lệ đó có thể được vượt qua nếu có đủ băng thông và lúc đó khách hàng sẽ phải
trả thêm tiền.
Một điểm nữa, mạng chuyển gói bảo đảm rằng lưu thông được ưu tiên có thể
đi qua trước, lưu thông không ưu tiên và do đó lưu thông theo thời gian thực có thể
truyền tải qua mạng kịp lúc. Mạng chuyển gói X. 25 hỗ trợ nhiều loại đặc điểm
chất lượng dịch vụ QoS cần cho việc đảm bảo sự phân phối. Tuy nhiên, tốc độ dữ
liệu trên mạng X. 25 còn thấp. Ngược lại, mạng frame relay không có nhiều đặc
tính về chất lượng dịch vụ QoS bởi vì những người thiết kế chỉ nhắm vào tốc độ.
Ngược lại, mạng ATM được thiết kế rất cặn kẽ cho cả tốc độ và chất lượng dịch
vụ, như đã mô tả ở phần trước.
1. 1. 2 Những dịch vụ QoS của hệ điều hành liên mạng Cisco
Các dịch vụ của hệ điều hành liên mạng của Cisco là nền để chuyển giao và
quản lý các dịch vụ mạng. Cisco IOS QoS là tập các mở rộng cung cấp chất lượng
dịch vụ đầu cuối qua các mạng không đồng nhất. Các ISP có thể cung cấp chất
lượng dịch vụ qua mạng của họ và tính cước khách hàng theo mức sử dụng.
Những dịch vụ QoS của hệ điều hành liên mạng Cisco có thể xử lý tắc
nghẽn; ưu tiên cho lưu thông có độ ưu tiên cao hơn; sắp xếp và phân loại các gói
theo các mức dịch vụ hay lớp lưu thông; có khả năng qui định độ rộng của băng
thông và tuân thủ các qui định đó; đo lưu thông trên mạng để thu cước phí và giám
sát năng suất hoạt động trên mạng; cấp phát tài nguyên dựa trên cổng vật lý, địa
chỉ, hoặc những ứng dụng. Một đặc điểm quan trọng khác của những dịch vụ nầy
là chúng hỗ trợ cho những mạng được xây dựng với những đồ hình khác nhau (như
bộ định tuyến, frame relay, ATM và chuyển thẻ (tag switching)) nhằm phối hợp
trong việc cung cấp QoS cho tất cả người dùng. Các dịch vụ này có những đặc
điểm sau:
Quyền ưu tiên IP (IP Precedence) dùng để chia lưu thông thành sáu lớp dịch
vụ. Vì vậy việc xử lý tắc nghẽn và cấp phát băng thông được điều khiển ở mỗi lớp
dựa trên các danh sách điều khiển truy nhập mở rộng ACL (extended access control
list). Quyền ưu tiên này có thể được thiết lập bởi khách hàng hoặc bởi các chính
sách đã được xác định. Những ứng dụng của khách hàng thiết lập loại dịch vụ trong

Internet đến bộ định tuyến ở đầu xa). Ở đó, chúng được chuyển trở lại thành những
tín hiệu RSVP. Theo Cisco, phương pháp nầy giữ được lợi ích của RSVP và tránh
được sự lạm dụng nó trên các mạng chính.
Nói chung, dịch vụ QoS của Cisco cung cấp cho những nhà cung cấp dịch
vụ Internet một phương pháp để “sinh lợi bằng cách xác định, đáp ứng khách hàng,
phân phối và thanh toán cho những dịch vụ mạng-trị giá gia tăng, những dịch vụ
mạng được phân biệt”. Nó cho phép các nhà cung cấp dịch vụ Internet cung cấp
nhiều mức dịch vụ với những chính sách giá khác nhau dựa trên mục đích, thời
gian sử dụng, và loại lưu thông.
1. 1. 3 Chất lượng dịch vụ (QoS) trên Internet và Intranet
Có những xu hướng đang cung cấp cơ sở hạ tầng mạng cho việc phân phối
truyền thông đa phương tiện theo thời gian thực qua những mạng nội bộ. Đây là sự
phát triển bùng nổ của những nghi thức Web, của việc sử dụng các mạng chuyển
đổi là những mạng góp phần tạo ra mạng Ethernet, và của việc sử dụng những trục
mạng chính tốc độ cao (ATM hoặc Gigabit Ethernet). Ngoài ra cũng phải kể đến sự
bùng nổ của những giao thức quản lý băng thông.
Cộng đồng Internet đã sử dụng RSVP như một phương tiện để cung cấp chất
lượng dịch vụ QoS trên Internet và trên những mạng intranet. RSVP là một giao
thức đi từ bộ định tuyến nầy sang bộ định tuyến khác trong đó một bộ định tuyến
yêu cầu bộ định tuyến khác dành riêng một băng thông xác định cho một sự truyền
tải nào đó. Mỗi bộ định tuyến dọc theo lộ trình từ nguồn tới đích bị đòi hỏi phải
dành riêng băng thông. RSVP sẽ được bàn kỹ trong phần “RSVP (Resource
Reservation Protocol)”
Một vài nhóm IETF (Internet Engineering Task Force) đang làm việc trên
những giao thức mạng có liên quan đến chất lượng dịch vụ QoS, như được trình
bày dưới đây:
Nhóm làm việc IETF về định tuyến QoS (The IETF QoS Routing (qosr)
Working Group) đang định nghĩa những kỹ thuật định tuyến chất lượng dịch vụ
cho Internet. Việc định tuyến QoS liên quan đến việc tìm những con đường chuyển
các gói tin mà cung cấp các dịch vụ được yêu cầu. Những con đường nầy có thể

có thể tự tối ưu hoá việc sử dụng băng thông. NetMeeting về căn bản là một giải
pháp hội thảo video hoạt động qua những mạng cộng tác và qua Internet. Nó cho
phép người dùng chuyển các tập tin và giữ chỗ trong những cuộc hội thảo
“whiteboard” (hiển thị và soạn thảo đồ họa) trong suốt cuộc hội thảo qua video.
Microsoft gọi NetMeeting là một ứng dụng “thông minh về băng thông” bởi
vì nó có những kỹ thuật tạo sẵn cho vùng đệm, nén và tối ưu hóa quá trình truyền
thông. Có thể đưa ra nhiều giải pháp để giới hạn băng thông của những ứng dụng
sử dụng hình ảnh và âm thanh để những người quản trị mạng có thể ngăn cản
những ứng dụng sử dụng nhiều băng thông.
Trong suốt quá trình hoạt động của một NetMeeting thông thường, những
dòng âm thanh, hình ảnh và dữ liệu riêng biệt được truyền qua mạng. Những dòng
dữ liệu nầy cấu thành những hội thảo whiteboard và thông tin điều khiển.
NetMeeting xử lý những dòng âm thanh với độ ưu tiên cao nhất theo sau đó là
dòng dữ liệu rồi tới dòng hình ảnh. Bốn chế độ truyền được chọn 14. 4 Kbits/sec,
28. 8 Kbits/sec, ISDN (Integrated Services Digital Network) và tốc độ của mạng
LAN. Sau đó NetMeeting sẽ tự động cân bằng 3 dòng tách biệt theo độ ưu tiên của
chúng và theo băng thông có được. Trong cấu hình có băng thông thấp nhất, hình
ảnh video có thể xuất hiện chủ yếu như một hình ảnh tĩnh chỉ thỉnh thoảng mới
thay đổi.
NetMeeting truyền một khung video đầy đủ trong 15 giây, sau đó làm tươi
hình ảnh với những thay đổi khi chúng xảy ra. Nó cũng làm giảm lượng dữ liệu đi
qua đường truyền. Chẳng hạn, thông tin đồ họa có thể lưu trú trong một hàng đợi
tạm thời trước khi được truyền đi. Nếu những phần của bức ảnh đang chờ đợi thay
đổi trong khi nó vẫn còn trong hàng đợi thì chỉ có những thông tin mới được gởi và
thông tin cũ bị loại bỏ mà không được gởi đi. Sau đó nó lại được chồng lên bởi
hình ảnh mới.
1. 2. Khái niệm
Khuyến nghị của CCITT, E800 đưa ra một tính chất chung của QoS:”Hiệu
ứng chung của đặc tính chất lượng dịch vụ là xác định mức độ hài lòng của người
sử dụng đối với chất lượng dịch vụ”.

hỏi QoS trên một kết nối cho trước và được thiết lập liên tục. Nếu một mạng được
tối ưu hoàn toàn cho một loại dịch vụ thì người sử dụng ít phải xác định chi tiết các
thông số QoS. Ví dụ, với mạng PSTN được tối ưu cho thoại, không cần xác định
băng thông hay trễ cần cho một cuộc gọi. Tất cả các cuộc gọi đều được đảm bảo
QoS như đã qui định trong các chuẩn liên quan cho điện thoại .

Hình 1. 1: Mô hình QoS tổng quan
Trong mô hình có cả chất lượng của từng mạng (NP-Net perfomane) trên
đường truyền từ đầu cuối này tới đầu cuối kia. Ta không nên nhầm lẫn hai khái
niệm chất lượng dịch vụ và chất lượng mạng.
QoS giúp cho các dịch vụ viễn thông và nhà cung cấp mạng đáp ứng được
các nhu cầu dịch vụ của khách hàng. Còn NP được đo trực tiếp hiệu năng trên
mạng không chịu ảnh hưởng của khách hàng và các thiết bị đầu cuối. Thêm nữa
các giá trị của QoS đo được rất khác so với các giá trị NP đo được do một kết nối
A

B

NET NET
CE
Q
CE
Q
NP
NP
NP QoS


 Khả năng duy trì
 Khả năng tích hợp dịch vụ
Mô hình tham khảo cho QoS end to end thường có một hoặc vài mạng tham
gia, mỗi mạng lại có nhiều node. Mỗi mạng tham gia có thể đưa vào trễ, tổn thất
hoặc lỗi do việc ghép kênh, chuyển mạch hoặc truyền dẫn, nên nó ảnh hưởng tới
truyền dẫn. Do đó QoS trong mạng phụ thuộc vào nhiều yếu tố:các thành phần
mạng, cơ chế xử lý tại đầu cuối, cơ chế điều khiển trong mạng.
1. 2. 1 Phân cấp QoS
Một cách tự nhiên, có nhiều mức QoS khác nhau cũng giống như là có nhiều
ứng dụng vậy. Các ứng dụng lại thay đổi rất lớn thậm chí cả với những yêu cầu
đơn giản về băng thông. Tín hiệu thoại có thể yêu cầu bất kì số liệu nào trong
khoảng từ 8 đến 64 Mb/s. Truy nhập Web và truyền tập tin sử dụng băng thông
càng nhiều càng tốt trong phạm vi có thể, nhưng lại không cần liên tục…Tuy
nhiên, băng thông trên PSTN và của mạng dữ liệu nhận được từ các đường thuê
riêng dựa trên PSTN lại chỉ phục vụ giới hạn tại tốc độ 64 kb/s hoặc là bỏ phí 28
kb/s trong 128 kb/s. Đây là mặt hạn chế của các mạng chuyển mạch kênh. Một
mạng chuyển mạch gói có thể chia băng thông thành nhiều thành phần thích hợp
cho các ứng dụng dữ liệu bùng nổ, nhưng đó không phải là tất cả. Một mạng cần
phải có khả năng cung cấp QoS yêu cầu cho mỗi ứng dụng, không cần biết băng
thông cần thiết có cố định hay không. Khả năng về phía mạng cấp cho các ứng
dụng các bảo đảm về QoS ví dụ như là bảo đảm về băng thông, được xem như là
phân cấp QoS của mạng. Phân cấp là một khía cạnh quan trọng khác của QoS.
Phân cấp xác định các thông số QoS tốt đến mức nào mà người sử dụng có thể
định rõ cho các ứng dụng cụ thể. Nếu mạng cung cấp QoS không đủ tiêu chuẩn thì
nó có thể giới hạn người sử dụng truy nhập vào mạng. Ví dụ đơn giản, xét một nhà
cung cấp dịch vụ mạng thiết lập nhiều loại lớp dịch vụ cho các ứng dụng của người
sử dụng . Có nhiều lúc lớp dịch vụ được dùng với đầy đủ các tham số của QoS, nhà
cung cấp có thể đưa ra một lớp dịch vụ thoại trên một mạng gói mà nó đảm bảo
băng thông 64kb/sử dụng giữa các đầu cuối và trễ 100ms với jitter nhỏ hơn 10 ms.
Điều này tốt miễn là tất cả người sử dụng thoại đều cần 64kb/s. Nhưng nếu một

thì khách hàng có thể nhận được dịch vụ miễn phí.
Đảm bảo chất lượng mạng trong một môi trường dịch vụ hợp đồng thường
được biểu hiện theo hình thức thoả thuận mức dịch vụ (SLA: Service Level
Agreement) được thiết lập giữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ. SLA có thể là
một phần của hợp đồng dịch vụ hay là một tài liệu độc lập hoàn toàn . SLA đưa ra
các yêu cầu của khách hàng và các hình phạt đối với nhà cung cấp khi gặp phải sự
cố. SLA cũng cung cấp một phương tiện thuận tiện cho khách hàng để so sánh các
dịch vụ do các nhà cung cấp khác nhau đưa ra. Vậy trong phân cấp dịch vụ, đảm
bảo chất lượng và SLA, điều nào phải được thực hiện các dịch vụ thời gian thực
trên môi trường IP?. Tuy rằng bảo đảm và điều chỉnh QoS trở thành một lĩnh vực
khảo sát tích cực giữa các nhà cung cấp dịch vụ mạng công cộng nhưng Internet
nhìn chung vẫn tương đối không bị ảnh hưởng bởi QoS bởi bản chất định hướng IP
là một mạng nỗ lực tối đa, do đó “không tin cậy” khi yêu cầu nó đảm bảo về QoS,
thậm chí nếu tất cả các ISP (Internet Service Provider) đột ngột quan tâm tới QoS
thì cũng không dễ gì thêm QoS vào một mạng IP tại một mức IP.
Cách tiếp cận gần nhất để các nhà cung cấp dịch vụ IP có thể đảm bảo QoS
hay SLA giữa khách hàng và ISP là mạng IP được quản lý. Thuật ngữ quản lý ở
đây là bất cứ cái gì mà nhà cung cấp dịch vụ quản ký thay mặt cho khách hàng .
Vậy cái gì đang thực sự được quản lý trên mạng IP? Đó là QoS mà mạng cung cấp
. Điều này được thực hiện bằng cách cách ly các bộ định tuyến, các liên kết …. sử
dụng để cung cấp dịch vụ IP cho một khách hàng cụ thể và sử dụng các tài nguyên
này trên một nền tảng dành riêng một phần phục vụ cho mình khách hàng đó.
Trong vài trường hợp các bộ định tuyến và các liên kết cần được chia sẻ nhưng chỉ
giữa những khách hàng chung vốn có hợp đồng cho quản lý dịch vụ IP.
Hấu hết các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) lớn đưa ra cả kết nối
Internet công cộng dùng chung và dịch vụ IP được quản lý. Phần IP được quản lý
của các ISP thường sử dụng để kết nối địa chỉ với các vị trí được điều khiển bởi
khách hàng . Không ai có thể dễ dàng đảm bảo băng thông hay bất kỳ một thông số
QoS nào khác trên mạng Internet công cộng, nó cơ bản bao gồm các “đám mây”
ISP liên kết của băng thông và tài nguyên biến đổi trong phạm vi lớn. Chỉ có thể

bùng nổ cùng với nó. Khi điều này xảy ra, các “bùng nổ” phải được đệm lại và xếp
hàng chờ truyền đi độ trễ đó tạo ra trễ trên mạng. Khi được sử dụng như là một
Thông số QoS Các giá trị ví dụ
Băng thông (nhỏ nhất) 64kb/s, 1. 5Mb/s, 45Mb/s
Trễ(Lớn nhất) 50ms trễ vòng, 150ms trễ vòng
Jitter (Biến động trễ) 10%của trễ lớn nhất, 5ms biến động
Loss (Mất thông tin)-các ảnh
hưởng của lỗi
1 trong 1000 gói chưa chuyển giao
Tính sẵn sàng (tin cậy) 99. 99%
Bảo mật
Mã hoá và nhận thực trên tất cả các luồng
lưu lượng
tham số QoS băng thông là yếu tố tối thiểu mà một ứng dụng cần để hoạt động. Ví
dụ, thoại PCM cần băng thông là 64kb/s . Điều này không tạo ra khác biệt khi
mạng xương sống có kết nối 45Mb/s giữa các nút mạng lớn. Băng thông cần thiết
được xác định bởi băng thông nhỏ nhất sẵn có trên mạng. Nếu truy nhập mạng
thông qua một MODEM V. 34 hỗ trợ chỉ 33, 6 kb/s thì mạng xương sống 45mb/s
sẽ làm cho ứng dụng thoại 64kb/s hoạt động được. Băng thông nhỏ nhất phải sẵn
sàng tại tất cả các điểm giữa các người sử dụng .
Các ứng dụng dữ liệu được lợi nhất từ việc đạt được băng thông cao hơn.
Điều này được gọi là các ứng dụng giới hạn băng thông, bởi vì hiệu quả của ứng
dụng dữ liệu trực tiếp liên quan tới lượng nhỏ nhất của băng thông sẵn sàng trên
mạng. Mặt khác, các ứng dụng thoại như thoại PCM 64kb/s được gọi là các ứng
dụng giới hạn trễ . Thoại PCM 64kb/s này sẽ không hoạt động tốt hơn nếu có băng
thông 128kb/s. Loại thoại này phụ thuộc hoàn toàn vào thông số trễ QoS để mạng
có thể hoạt động hiệu quả.
1. 2. 3. 2. Trễ
Trễ liên quan chặt chẽ với băng thông . Với các ứng dụng giới hạn băng
thông thì băng thông càng lớn trễ sẽ càng nhỏ. Đối với các ứng dụng giới hạn trễ

t1 = bit cuèi cïng ra
t1 = bit ®Çu tiªn ra
các băng thông biến đổi phụ thuộc vào hoạt động và sự bùng nổ của ứng dụng .
Băng thông biến đổi tức là trễ cũng biến đổi trên mạng . Các nút mạng được nhóm
với nhau cũng có thể đóng góp vào sự thay đổi của trễ. Tại các nút mạng đều có
quá trình xếp hàng. Trễ xảy ra do cần thời gian để chuyển gói tới hàng đợi đầu ra
(output queue) và trễ do gói bị giữ trong hàng đợi. Tuy nhiên với các thuật toán
xếp hàng có ưu tiên có thể giảm trễ xuống dưới 10ms. Ngoài ra cũng có thể kể đến
trễ khi các bridge, switch và router chuyển dữ liệu, nó phụ thuộc vào tốc độ của hệ
thống mạch, CPU cũng như kiến trúc bên trong các thiết bị mạng. Tham số QoS trễ
chỉ xác định được trễ lớn nhất mà không đặt bất kì một giới hạn nhỏ hơn nào cho
trễ của mạng.
1. 2. 3. 3. Jitter (Biến động trễ)
Thông số QoS jitter thiết lập giới hạn lên lượng biến đổi của trễ mà một ứng
dụng có thể gặp trên mạng. Một cách đúng đắn hơn thì jitter được xem như là biến
động trễ, bởi vì thuật ngữ jitter cũng được sử dụng trong mạng với nghĩa là sự khác
biệt thời gian mức thấp trong kỹ thuật mã đường dây. Tuy nhiên, sử dụng thuật
ngữ jitter đồng nghĩa với biến động trễ cũng là phổ biến, và ngữ cảnh sẽ phân biệt
nghĩa nào đang được đề cập. Jitter không đặt một giới hạn nào cho các giá trị tuyệt
đối của trễ, nó có thể tương đối thấp hoặc cao phụ thuộc vào giá trị của thông số
trễ.
Jitter theo lí thuyết có thể là một giá trị mạng tương đối hay tuyệt đối. Ví dụ,
nếu trễ mạng cho một ứng dụng được thiết lập là 100ms, jitter có thể đặt là cộng
hoặc trừ 10% của giá trị này. Theo đó nếu mạng có trễ trong khoảng từ 90 đến
110ms thì vẫn đạt được yêu cầu về jitter (trong trường hợp này rõ ràng trễ không
phải là lớn nhất). Nếu trễ là 200ms, thì 10% giá trị jitter sẽ cho phép bất kỳ giá trị
trễ nào trong khoảng 180 đến 220ms. Mặt khác jitter tuyệt đối giới hạn cộng trừ
5ms sẽ giới hạn jitter ở các ví dụ trên trong khoảng từ 95 đến 105ms và từ 195 tới
205ms.
Các ứng dụng nhạy cảm nhất đối với các giới hạn của jitter là các ứng dụng

1
D
3

D
2

D
1
1. 2. 3. 4. Loss (Mất thông tin)
Mất thông tin là một tham số QoS không được đề cập thường xuyên như là
băng thông và trễ đặc biệt là đối với Internet, độ trễ bản chất tự nhiên của mạng
Internet là “nỗ lực tối đa”. Nếu các gói tin IP không đến được đích thf Internet
không hề bị đổ lỗi và đã làm mất chúng. Điều này không có nghĩa là ứng dụng sẽ
tất yếu bị lỗi, bởi vì nếu các thông tin bị mất vẫn cầc thiết đối với các ứng dụng thì
nó sẽ phải tự yêu cầu bên gửi gửi lại bản sao của thông tin bị mất. Bản thân mạng
không quan tâm giúp đỡ vấn đề này, bởi vì bản sao của thông tin bị mất không
được lưu lại tại bất cứ nút nào của mạng.
Tại sao các mạng không chỉ Internet lại bị mất thông tin? Thực sự là có
nhiều lí do, nhưng hầu hết trong số chúng có thể truy nguyên từ các ảnh hưởng của
lỗi trên mạng. Ví dụ, nếu một kết nối bị hỏng, thì tất cả các bit đang truyền trên
liên kết này sẽ không thể tới được đích. Nếu một nút mạng ví dụ như bộ định tuyến
hỏng thì tất cả các bit ở trong bộ đệm và đang được xử lý tại nút đó sẽ biến mất
không để lại dấu vết. Do những loại hư hỏng này có thể xảy ra trên mạng bất cứ
lúc nào nên việc một vài thông tin bị mất độ trễ lỗi trên mạng là không thể tránh
khỏi.
Ví dụ việc truyền tín hiệu thoại:

Hình 1. 4 Phát lại gói cuối cùng thay thế gói bị mất
Thu

các mạng (đặc biệt là mạng IP) chỉ cung cấp phương tiện vận chuyển thụ động còn
việc xác định lỗi, khắc phục lỗi thường được để lại cho các ứng dụng (hay người
dùng).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status