Một số giải pháp chủ yếu để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam - Pdf 20


Trang 1

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT trang 1
TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT

1.1. NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ LẠM PHÁT trang 1
1.1.1. Quan điểm của phái trọng tiền trang 1
1.1.2. Quan điểm của phái Keynes trang 3
1.2. TÍNH HAI MẶT CỦA LẠM PHÁT trang 6
1.2.1. Những tác động tích cực của lạm phát đối với nền kinh tế trang 6
1.2.2. Những tác động tiêu cực của lạm phát đối với nền kinh tế trang 9
1.2.2.1. Phân bố nguồn lực không hiệu quả trang 9
1.2.2.2. Phân bố thu nhập bò biến dạng trang 10
1.2.2.3. Làm suy thoái kinh tế trang 10
1.2.2.4. Tốn kém chi phí của xã hội trang 11
1.3. MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT trang 12
1.4. KINH NGHIỆM VỀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN
THẾ GIỚI trang 14
1.4.1. Chấm dứt siêu lạm phát ở Bolivia trang 14
1.4.2. Kiểm soát lạm phát ở Trung quốc trang 15
1.4.3. Lạm phát mục tiêu, kinh nghiệm kiểm soát lạm phát ở một số nước kinh
tế phát triển trang 17
Kết luận chương 1 trang 21
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH LẠM PHÁT VÀ KIỂM SOÁT
LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA trang 22

Một số giải pháp chủ yếu để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam


Trang 3
3.3.1. Hoàn thiện phương pháp để đo lường lạm phát ở Việt Nam trang 56
3.3.2. Về chính sách tiền tệ trang 57
3.3.2.1. Hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ trang 58
3.3.2.2. Nâng cao khả năng cạnh tranh của các tổ chức tín dụng, ngân hàng
thương mại trang 64
3.3.2.3. Mở rộng và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trang 65
3.3.3. Về chính sách tài khoá trang 66
3.3.3.1. Đối với chi ngân sách nhà nước trang 66
3.3.3.2. Đối với hệ thống thu thuế trang 68
3.3.4. Các chính sách bổ trợ khác trang 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 trang 73
KẾT LUẬN trang 74

--------------------- Một số giải pháp chủ yếu để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

Trang 4


phải tăng theo. Theo cách lý giải này, bất cứ việc tăng cung tiền nào cũng làm cho
giá cả tăng lên, và như vậy để giảm tỷ lệ lạm phát thì biện pháp duy nhất là ngưng
việc tăng cung tiền vào trong lưu thông. Rõ ràng, cách lập luận này về lạm phát là
quá đơn giản vì đặt nền kinh tế vào trong một trạng thái tónh tại, đó là khi tăng
cung tiền thì sẽ dẫn đến một khối lượng tiền nhiều hơn dùng để mua một khối
lượng hàng hoá như cũ, do đó sẽ làm cho giá cả tăng lên. Điều này sẽ không lý
giải được tại sao giá cả không thay đổi trong trường hợp vẫn tăng cung tiền. Tuy
sự nhìn nhận về lạm phát còn đơn giản, nhưng dẫu sao quan điểm trên cũng đã tạo
ra một tiền đề cho việc nhận thức về lạm phát sau này của các nhà kinh tế.
Để khắc phục nhược điểm trên trong phương trình trao đổi của Irving
Fisher, các nhà kinh tế tiền tệ đã nhìn nhận lạm phát dưới trạng thái động hơn
thông qua công thức trao đổi tiền tệ cải tiến dưới dạng tỷ lệ, đó là %P = %M + %V
- %Y. Theo công thức này, lạm phát xảy ra là do tăng lượng tiền và tăng tốc độ
chu chuyển tiền dẫn đến lạm phát. Hay nói cách khác, lạm phát xảy ra là do tăng
cung tiền nhanh hơn tốc độ tăng của tổng sản phẩm, và nếu tốc độ tăng cung tiền
bằng với tốc độ tăng của tổng sản phẩm thì lạm phát sẽ không xảy ra. Điều này đã
giải thích được việc tăng cung tiền trong một số trường hợp nào đó sẽ không làm
cho giá cả tăng lên. Như vậy, với cách nhìn mới này các nhà kinh tế cũng có cùng
quan điểm với Irving Fisher khi cho rằng tăng cung tiền cũng là nguyên nhân duy
nhất gây ra lạm phát. Tuy nhiên để chống lại lạm phát, khác với I.Fisher, họ cho
rằng không phải bằng việc ngưng tăng cung tiền mà là duy trì sự phát triển cân đối
giữa tăng cung tiền và tăng trưởng kinh tế, điều này sẽ làm cho giá cả được ổn
đònh.

Một số giải pháp chủ yếu để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

Trang 6
Một vấn đề liên quan đến biện pháp chống lạm phát này là có thể dẫn đến
suy thoái kinh tế kéo dài. Vì kết quả trước tiên của việc giảm tăng cung tiền là sụt
giảm trong tổng cầu. Tổng cầu giảm dẫn đến sản lượng giảm và thất nghiệp gia

của tổng cầu hơn là cung tiền trong việc xác đònh lạm phát. Keynes đã chỉ ra rằng
có bốn nhân tố tác động đến tổng cầu, đó là: chi tiêu của hộ gia đình, chi tiêu của
chính phủ, chi tiêu đầu tư và cán cân ngoại thương. Do đó, để giảm lạm phát do
cầu tăng quá mức cần phải giảm tổng cầu thông qua việc tác động vào các nhân tố
này, chẳng hạn như tăng thuế sẽ làm giảm thu nhập khả dụng và do đó làm giảm
chi tiêu của hộ gia đình, giảm chi tiêu của chính phủ.
Với sự phân tích đó, Keynes cũng đưa ra một khái niệm cơ bản thể hiện mối
quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp gọi là đường cong Phillips (Phillips curve).
Theo đó, có một sự đánh đổi giữa việc ổn đònh giá cả và việc làm. Nếu làm giảm
lạm phát sẽ gia tăng thất nghiệp, và ngược lại, gia tăng việc làm sẽ gây áp lực làm
cho lạm phát tăng cao. Tuy nhiên, sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp trong
thực tế là không chắc chắn, thậm chí không xảy ra khi nền kinh tế rơi vào tình
trạng lạm phát đònh đốn, khi đó lạm phát và gia tăng thất nghiệp cùng xảy ra mà
không có một sự đánh đổi nào. Chính vì lý do đó, có nhiều ý kiến tranh luận cho
rằng mô hình của Keynes là không đúng.
Để lý giải cho trường hợp trên, Keynes và các nhà kinh tế vó mô theo
trường phái Keynes cho rằng phía cung cũng quan trọng trong việc gây ra lạm
phát. Khi có những cú sốc về phía cung như khủng hoảng dầu lửa, đình công đòi
tăng lương, làm cho chi phí sản xuất kinh doanh tăng lên buộc các doanh nghiệp
phải thu hẹp sản xuất và nâng cao giá bán sản phẩm. Điều này sẽ làm dòch chuyển
đường cong Phillips theo hướng suy thoái, nghóa là nền kinh tế phải điều chỉnh ở

Một số giải pháp chủ yếu để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

Trang 8
mức sản lượng thấp hơn và mức giá cao hơn trước. Quá trình điều chỉnh này hàm ý
cả việc lạm phát tăng và gia tăng thất nghiệp, vì thế tình trạng lạm phát đình đốn
không mâu thuẫn với mô hình của Keynes.
Ngoài các lý thuyết trên về lạm phát, các nhà kinh tế vó mô hiện đại theo
phái Keynes còn cho rằng sự “kỳ vọng” trong tương lai cũng là một nguyên nhân

tăng giá của các hàng hoá riêng lẻ, nhất thời. Hơn nữa, giá cả là biểu hiện bằng
tiền giá trò của hàng hoá, hay nói cách khác, tiền tệ là thước đo giá trò của hàng
hoá, cho nên giá trò của đồng tiền thay đổi cũng làm thay đổi giá cả hàng hoá,
chính vì vậy, lạm phát xảy ra suy cho cùng ít nhiều đều liên quan đến chính sách
tiền tệ và tài chính của quốc gia.
1.2. TÍNH HAI MẶT CỦA LẠM PHÁT
Lạm phát xảy ra nói chung là một tín hiệu không tốt cho nền kinh tế. Duy
trì lạm phát sẽ làm giảm dần lợi tức thực của những người có thu nhập thấp, những
người hưởng lương hưu và dẫn đến sai lệch trong việc phân phối của cải của xã
hội. Tuy nhiên, lòch sử lạm phát đã cho thấy rằng không phải bất cứ lúc nào lạm
phát xảy ra cũng là xấu, và cũng không phải ai cũng bò thiệt hại khi nền kinh tế bò
lạm phát. Cũng như đa số các hiện tượng kinh tế khác, lạm phát cũng có tính hai
mặt của nó là mang lại lợi ích cũng như gây ra thiệt hại đối với nền kinh tế.
2.3.3. Những tác động tích cực của lạm phát đối với nền kinh tế
Theo lý thuyết kinh tế vó mô, khi nền kinh tế chưa đạt đến mức toàn dụng,
hay nói cách khác, khi các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn, công nghệ…
chưa được khai thác hết thì khi mức giá chung tăng lên sẽ có tác dụng kích thích
các doanh nghiệp gia tăng đầu tư để tăng sản lượng hàng hoá cung ứng trên thò
trường, làm cho sản xuất được mở rộng. Sản xuất mở rộng sẽ tạo ra được nhiều

Một số giải pháp chủ yếu để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

Trang 10
công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu nhập của người dân. Đầu tư
cho sản xuất tăng, thu nhập của người dân tăng sẽ góp phần làm tăng tổng cầu.
Tổng cầu tăng lại tạo điều kiện cho sản xuất phát triển. Sản xuất và tiêu dùng liên
tục phát triển, mở rộng sẽ góp phần duy trì sự tăng trưởng ổn đònh của nền kinh tế.
Trên giác độ này, lạm phát được xem là một nhân tố kích thích kinh tế phát triển.
Giá cả chung tăng tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, nhưng không phải
tất cả các ngành trong nền kinh tế đều phát triển. Giá cả tăng sẽ làm cho các yếu

hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.
Giá cả tăng lên, đồng tiền bò mất giá, điều này sẽ có lợi cho một số bộ phận
trong xã hội đó là: chính phủ, các doanh nghiệp và người vay nợ.
- Chính phủ là người hưởng lợi trước tiên từ lạm phát. Giá cả tăng sẽ làm
tăng thu nhập của nhà sản xuất, và vì thế mức lương của người lao động cũng tăng
theo. Khi thu nhập của xã hội tăng thì thuế trả cho nhà nước cũng tăng. Trong khi
đó, các khoản chi trả lương, trợ cấp hưu trí… của nhà nước thường mang tính ổn
đònh trong một thời gian dài, hoặc nếu thay đổi cũng không bằng nguồn thu tăng
thêm vào ngân sách do tăng giá, cho nên nhà nước vẫn được lợi từ lạm phát. Hơn
nữa, chính phủ thường là chủ nợ lớn nhất trong xã hội dưới dạng các tài sản tài
chính như trái phiếu chính phủ, lạm phát sẽ làm cho phần lãi suất thực mà chính
phủ chi trả cho các khoản nợ bằng tiền trong nước sẽ giảm đi. Và nếu lạm phát
xảy ra là do phát hành tiền thì chính phủ càng được lợi hơn nữa, vì năng lực mua
sắm của những đồng tiền hiện có sẽ bò sụt giảm và chuyển dòch vào những đồng
tiền phát hành mới. Như vậy, rõ ràng chính phủ sẽ rất có lợi vì chỉ cần bỏ ra một ít
chi phí để in tiền là có thể dùng để mua sắm một khối lượng hàng hoá lớn hơn trên

Một số giải pháp chủ yếu để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

Trang 12
thò trường. Cũng chính vì những mối lợi này mà đa số các chính phủ đều cố gắng
duy trì lạm phát trong nền kinh tế.
- Các doanh nghiệp cũng có lợi từ lạm phát đứng trên giác độ tăng giá bán
so với sự thay đổi tiền lương của người lao động. Thông thường, khi lạm phát xảy
ra các doanh nghiệp thường sẽ tăng giá bán trước khi có những quyết đònh để thay
đổi tiền lương cho người lao động. Sự thay đổi lương này thông thường được thực
hiện vào thời điểm đầu năm, và nếu có tăng lương thì mức tăng cũng thể không
cao hơn mức tăng giá vì thế lợi nhuận của nhà sản xuất thường cao hơn so với
trước.
- Đối với những người đi vay, nếu lãi suất đi vay không gắn với sự thay đổi

cho xã hội vì thế việc đầu tư nhiều vào các tài sản này sẽ làm giảm hiệu quả của
nền kinh tế.
1.2.2.2. Phân bố thu nhập bò biến dạng
Như đã phân tích ở phần trên, đứng trên giác độ phân phối thu nhập trong
xã hội thì lạm phát xảy ra sẽ có lợi cho người đi vay, nhà sản xuất và người phát
hành tiền, chính phủ, ngược lại, những người cho vay và những người hưởng lương,
trợ cấp sẽ bò thiệt hại.
Đối với người hưởng lương, trợ cấp thì khi lạm phát xảy ra, lương của họ
thường được điều chỉnh sau khi giá cả tăng lên, nhưng hầu như tốc độ tăng lương
không bằng với tốc độ tăng giá cả, vì thế lượng hàng hoá mà họ tiêu dùng sẽ thấp
hơn so với trước, kết quả là thu nhập thực sự của họ giảm xuống, do đó mức sống
sẽ ngày càng thấp nếu lạm phát ngày càng cao. Hơn nữa, do tốc độ tăng lương
chậm hơn tốc độ tăng giá sẽ làm cho lợi nhuận của nhà sản xuất tăng lên, do đó

Một số giải pháp chủ yếu để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

Trang 14
một phần những khoản thiệt hại mà người lao động phải chòu đã chuyển thành
phần lợi mà nhà sản xuất được hưởng. Điều này làm cho nhà sản xuất dường như
ngày càng giàu hơn, trong khi đó người lao động, hưu trí ngày càng nghèo đi.
Đối với những người cho vay, thường là họ cho vay dưới dạng lãi suất cố
đònh, khi lạm phát xảy ra, những đồng tiền mà họ nhận được từ việc cho vay sẽ có
giá trò thấp hơn lúc cho vay, vì thế phần lãi suất thực mà họ được hưởng sẽ giảm
sút, thậm chí còn bò âm nếu lạm phát quá cao. Trong số những người cho vay, có
thể nói dân chúng là người cho vay nhiều nhất dưới dạng tiền gửi tiết kiệm và mua
trái phiếu chính phủ, nên cũng là những người chòu thiệt hại nhiều nhất.
1.2.2.3. Làm suy thoái kinh tế
Lạm phát xảy ra làm cho nguồn lực phân bố không hiệu quả, các khoản đầu
tư không sản xuất gia tăng làm cho các khoản đầu tư vào sản xuất sụt giảm, làm
giảm cầu về các yếu tố sản xuất, do đó làm giảm tổng cầu của nền kinh tế. Tổng

mặt trong thời kỳ lạm phát để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu tối thiểu hàng ngày.
Hơn nữa, do tiền gửi tiết kiệm trong dân cũng rất lớn, do đó, người dân cũng phải
tốn nhiều thời gian, chi phí để đến các ngân hàng rút tiền và thanh toán các khoản
nợ mua hàng hoá, dòch vụ.
Khi lạm phát gia tăng, để có thể chủ động đối phó với các tình huống xấu
có thể xảy ra các doanh nghiệp phải tốn nhiều tiền hơn cho việc tổng hợp, phân
tích và dự báo thông tin kinh tế liên quan đến thò trường. Hơn nữa, để tránh bò lỗ
các doanh nghiệp cũng buộc phải thay đổi giá bán. Họ phải mất thời gian và tốn
kém chi phí để tính toán lại giá bán, in ấn lại bảng giá. Đối với những hàng hoá
mà giá in sẵn trên sản phẩm thì phải tốn thêm chi phí để điều chỉnh lại giá. Các

Một số giải pháp chủ yếu để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

Trang 16
chi phí giao dòch với khách hàng cũng tăng lên để thông báo, giải thích về việc
thay đổi giá. Trong thời gian ngắn, sự sụt giảm về khối lượng hàng hoá bán ra là
không tránh khỏi do điều chỉnh tăng giá.
Lạm phát xảy ra ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, trên giác độ
là người quản lý kinh tế vó mô chính phủ cũng phải tìm các biện pháp để kiểm soát
lạm phát sao cho có lợi nhất cho nền kinh tế. Các biện pháp này cũng đòi hỏi phải
tốn thời gian, công sức và chi phí để thực hiện. Chẳng hạn như để chống lại tình
trạng lạm phát do một số loại nguyên vật liệu nhập khẩu tăng đột biến làm mức
giá chung tăng lên trên diện rộng, chính phủ có thể áp dụng biện pháp giảm thuế
nhập khẩu, chi bù lỗ cho các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng này... Điều
này sẽ làm giảm nguồn thu vào ngân sách nhà nước và tăng chi tiêu của chính
phủ.
1.3. MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT
Hiện nay có nhiều phương pháp được dùng để đo lường lạm phát. Tùy vào
điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia mà chính phủ lựa chọn phương pháp phù hợp
sao cho kết quả đo lường có thể phục vụ một cách đắc lực nhất cho việc điều hành

t
i
p
: giá bán lẻ của sản phẩm i ở thời điểm t.
0
i
q
: lượng sản phẩm i ở thời điểm 0.
Tỷ lệ lạm phát:
Tỷ lệ lạm
phát năm t
100x
CPI
CPI - CPI
1-t
1-tt

=

Chỉ số giá tiêu dùng được dùng để phản ánh mức giá trung bình của một rổ
hàng hoá, dòch vụ ở kỳ hiện hành so với kỳ gốc. Nhược điểm chính của chỉ số này
là sự giới hạn của rổ hàng hoá cũng như sử dụng trọng số cố đònh trong tính toán.
Do đó, chỉ số giá không phản ánh được sự thay đổi chất lượng của hàng hoá, cơ
cấu hàng hoá tiêu dùng và sự biến đổi chi tiêu của người tiêu dùng cho những
hàng hoá khác nhau theo thời gian. Còn chỉ số giảm phát GDP được tính dựa vào
toàn bộ khối lượng hàng hoá, dòch vụ cuối cùng được sản xuất trong một năm và
giá cả ở kỳ hiện hành so với kỳ gốc. Về cơ bản thì chỉ số giảm phát GDP sẽ tính
toán lạm phát chính xác hơn chỉ số giá tiêu dùng theo đònh nghóa về lạm phát, vì
nó thể hiện được xu hướng tăng mức giá chung của hàng hoá. Tuy nhiên, chỉ số
giảm phát GDP chỉ tính được lạm phát của một năm sau khi đã có thông báo chính

tuyên bố chương trình chống lạm phát, gọi là “Chính sách kinh tế mới”. Để kìm
chế sự tăng trưởng tiền tệ và thiết lập lòng tin, chính phủ mới tiến hành những
biện pháp mạnh mẽ để giảm thâm hụt ngân sách bằng cách đóng cửa nhiều xí
nghiệp quốc doanh làm ăn kém hiệu quả, hủy bỏ trợ cấp, giữ yên tiền lương của
khu vực nhà nước, và tăng thuế thu nhập. Ngân sách nhà nước được giữ thăng
bằng trên cơ sở hàng ngày và không có ngoại lệ, bộ trưởng tài chính không cho

Một số giải pháp chủ yếu để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

Trang 19
phép chi quá số thuế đã thu được từ ngày hôm trước. Kết quả là lạm phát ở Bolivia
đã dừng lại trên đường đi của nó trong vòng một tháng và mức tụt giảm sản phẩm
rất ít, không đến 5% GDP.
Như vậy, kinh nghiệm rút ra từ việc kiểm soát lạm phát ở Bolivia là khi rơi
vào tình trạng siêu lạm phát, chính phủ cần phải kiên quyết thực hiện các biện
pháp triệt để và đồng bộ nhằm hạ nhiệt cơn sốt lạm phát.
1.4.2. Kiểm soát lạm phát ở Trung quốc
Kể từ khi thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, nền kinh tế Trung quốc
đã có những bước phát triển rất nhanh, tốc độ tăng trưởng bình quân vào khoảng
10% một năm. Đặc biệt, từ năm 2003 cho đến nay, nền kinh tế Trung Quốc đã
phát triển quá nóng so với các nước khác trên thế giới, điều này tạo ra một áp lực
rất lớn cho nguy cơ xảy ra lạm phát cao. Gần cuối năm 2004, Trung Quốc đã trở
thành nước lớn thứ ba trên thế giới về kim ngạch ngoại thương và đạt trên 1.000 tỷ
USD. Trước tình hình đó, chính phủ Trung Quốc đã đề ra các biện pháp cấp bách
nhằm hạ nhiệt nền kinh tế và giảm nguy cơ lạm phát cao.
Biện pháp trước tiên mà chính phủ Trung Quốc thực hiện là cắt giảm đầu tư
và chi tiêu một cách nhanh chóng. Từ năm 2003, Trung Quốc bắt đầu giảm mạnh
việc phát hành trái phiếu chính phủ xuống còn 150 tỷ NDT, và dự kiến năm 2004
còn giảm thấp hơn năm 2003. Bên cạnh đó, chính phủ Trung Quốc cũng thực hiện
việc cắt giảm chi ngân sách và chi đầu tư. Ngay từ trung tuần tháng 05/2004,

người dân nông thôn, và duy trì sự ổn đònh của giá cả lương thực. Từ đầu năm
2004, Trung quốc bắt đầu thực hiện việc cắt giảm thuế nông nghiệp và dự kiến
trong vài năm nữa sẽ tiến tới xoá bỏ thuế nông nghiệp. Bên cạnh đó, chính phủ
Trung quốc cũng gia tăng đầu tư vào các cơ sở hạ tầng nông thôn và các doanh

Một số giải pháp chủ yếu để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

Trang 21
nghiệp kinh doanh trong lónh vực nông nghiệp. Tăng cường quản lý các loại vật tư,
phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và thực hiện việc trợ cấp trực tiếp cho
nông dân trồng cây lương thực.
Với những biện pháp quyết liệt và đồng bộ nêu trên, tình hình tăng trưởng
kinh tế quá nóng của Trung quốc đã có dấu hiệu chững lại, các nguy cơ gây áp lực
tăng giá đã có dấu hiệu giảm xuống. Theo dự đoán, năm 2004 tốc độ tăng trưởng
của Trung Quốc sẽ đạt 9,3% và lạm phát là 5%.
Qua kinh nghiệm kiểm soát lạm phát của Trung Quốc, có thể thấy rằng tăng
trưởng quá cao sẽ làm gia tăng nguy cơ xảy ra tình trạng lạm phát cao. Vì vậy, cần
phải có các liệu pháp thích hợp để “hạ nhiệt” nền kinh tế một cách an toàn, tránh
gây ra những tác động bất lợi đối với tăng trưởng kinh tế.
1.4.3. Lạm phát mục tiêu, kinh nghiệm kiểm soát lạm phát ở một số nước kinh
tế phát triển
Trong suốt nhiều năm, một số nước có nền kinh tế phát triển như Anh, New
Zealand, Canada, Phần Lan, Thụy Điển,... đã bò thất bại trong việc kiểm soát lạm
phát bằng các phương pháp truyền thống khi sử dụng những mục tiêu trung gian
như lãi suất, tỷ giá hối đoái, kết quả là lạm phát thường ở mức cao và các chi phí
để kiểm soát lạm phát dường như rất tốn kém. Để khắc phục tình trạng trên, chính
phủ các nước đã nghiên cứu và áp dụng một phương cách để kiểm soát lạm phát
mới và bắt đầu tập trung vào mục tiêu chính là tỷ lệ lạm phát. Sự thay đổi này
trong việc kiểm soát lạm phát, chủ yếu sử dụng trong việc điều hành chính sách
tiền tệ được gọi là lạm phát mục tiêu. Tức thay đổi cách thức kiểm soát lạm phát,

điều hành chính sách tiền tệ ở một mức độ tương đối độc lập, ít chòu tác động của

Một số giải pháp chủ yếu để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

Trang 23
chính phủ. Dó nhiên không có ngân hàng trung ương nào hoàn toàn độc lập khỏi
chính phủ, nhưng nó phải được tự do trong việc chọn các công cụ để đạt được tỷ lệ
lạm phát mà chính phủ cho là thích hợp. Để tuân thủ với điều kiện này, một quốc
gia không thể biểu lộ sự thống trò của chính sách tài chính, tức chính sách tài chính
không được chi phối chính sách tiền tệ. Sự độc lập khỏi chính sách tài chính ngụ ý
rằng chính phủ mượn tiền từ ngân hàng trung ương cao hay thấp là tùy thuộc thò
trường tài chính trong nước có đủ khả năng để tiếp nhận các khoản nợ hay không.
Điều này cũng đồng nghóa với việc thu nhập của chính phủ không được dựa vào
nguồn thu nhập từ việc đúc tiền. Nếu vò thế tài chính tồn tại, áp lực lạm phát do
nguyên nhân tài chính sẽ làm suy yếu những kết quả của chính sách tiền tệ bằng
việc ràng buộc ngân hàng trung ương đáp ứng các nhu cầu tiền tệ của chính phủ
như nới lỏng lãi suất để đạt được các mục tiêu tài chính. Điều kiện thứ hai để thực
hiện lạm phát mục tiêu là sự sốt sắng và khả năng của các quan chức điều hành
chính sách tiền tệ không chuyển sang việc thực hiện các mục tiêu khác như: việc
làm, tỷ giá hối đoái. Chẳng hạn như, một quốc gia lựa chọn hệ thống tỷ giá hối
đoái cố đònh thường theo đuổi mục tiêu tỷ giá, do đó sẽ không có khả năng để
điều hành một hệ thống lạm phát mục tiêu, đặc biệt khi vốn được tự do lưu chuyển
ra vào khỏi quốc gia. Vì vậy, mọi người sẽ không chắc chắn được rằng các quan
chức điều hành sẽ ưu tiên cho việc thực hiện lạm phát mục tiêu hay là tỷ giá hối
đoái, điều này làm cho chính sách tiền tệ không có được sự đáng tin cậy, một điều
kiện cần thiết cho việc thành công của chính sách.
Như vậy, về mặt lý thuyết nếu thỏa mãn hai điều kiện căn bản này, một
quốc gia có thể điều hành chính sách tiền tệ của mình tập trung vào lạm phát mục
tiêu. Trên thực tế, để lựa chọn tỷ lệ lạm phát mục tiêu các quan chức điều hành
cũng phải thực hiện một vài bước sơ bộ. Họ phải thiết lập những mục tiêu đònh

Một số giải pháp chủ yếu để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

Trang 25
Kết luận chương 1
Lạm phát là một hiện tượng của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ, khi nào còn
tiền tệ thì lạm phát vẫn còn xuất hiện. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau liên
quan đến vấn đề lạm phát, nhưng đa số các nhà kinh tế đều có một thống nhất
chung rằng lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung trong nền kinh tế.
Mức giá chung tăng lên là do nhiều nguyên nhân, trong đó có ba nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến việc tăng giá đó là do tăng cung ứng tiền tệ, do cầu kéo và do chi phí
đẩy. Nếu xét trong dài hạn, việc tăng mức giá chung bao giờ cũng liên quan đến
việc tăng cung tiền trong nền kinh tế và tình trạng lạm phát cao bao giờ cũng gắn
liền với việc phát hành quá mức tiền giấy vào trong lưu thông. Chính vì thế, việc
kiểm soát lạm phát luôn là đối tượng của chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá
của một quốc gia.
Tùy vào đặc điểm và tình hình kinh tế ở mỗi nước, các quốc gia khác nhau
có thể lựa chọn các phương thức khác nhau để kiểm soát lạm phát, hoặc đưa ra các
biện pháp kiểm soát khi lạm phát đã xảy ra hoặc đưa ra các biện pháp phòng ngừa
ngăn chặn lạm phát xảy ra. Thực tế kiểm soát lạm phát ở các nước hiện nay cho
thấy, việc thực hiện các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa tỏ ra có hiệu quả và ít
tốn kém hơn trong việc kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, cho dù thực hiện theo
phương cách nào các biện pháp kiểm soát đưa ra muốn đạt được thành công đều
phải dựa trên sự phân tích kỹ càng các nguyên nhân gây ra lạm phát cũng như các
nhân tố gây áp lực lên lạm phát, có như vậy, các biện pháp đưa ra sẽ có tác động
nhanh hơn đến lạm phát và ít tốn kém hơn.

Một số giải pháp chủ yếu để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status