Luận văn: Thay đổi trong nhu cầu
khách hàng và khai thác loại hình hảo
hiểm mới tại các Cty bảo hiểm
Lời nói đầu
Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, Đảng và Nhà
nước ta luôn coi trọng vai trò con người. Không ngừng cải thiện nâng cao đời
sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân là mục đích hàng đầu của chế độ
xã hội ta. Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một
tất yếu khách quan được Đảng và Nhà nước ta khẳng định trong các kì đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ 6, 7, 8 đã và đang có nhiều ảnh hưởng tích cực đối với
nền kinh tế nước ta. Sau hơn mười năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của
Đảng, nhân dân ta đã gặt hái được nhiều thành công to lớn trên nhiều lĩnh vực
của đời sống kinh tế xã hội. Nên nền kinh tế nước ta dần dần khởi sắc và phát
triển một cách vững chắc, về cơ bản chúng ta đã thoát ra khỏi tình trạng khủng
hoảng kéo dài, sự mất cân đối về cơ cấu kinh tế đang được điều chỉnh, đIều kiện
sống của nhân dân không ngừng được cảI thiện và nâng cao. Trong xu thế phát
Khi nghiên cứu đề tài, ta phải phân tích tình hình triển khai, từ đó đưa ra
một số biện pháp và kiến nghị nhằm tiếp tục phát triển và nâng cao hơn nữa hiệu
quả kinh doanh của công ty trong thời gian tới.
Nội dung đề tài gồm ba phần:
Phần I: Lý luận chung về bảo hiểm nhân thọ.
Phần II: Những nội dung cơ bản về nghiệp vụ An sinh giáo dục trong hệ thống
bảo hiểm nhân thọ.
Phần III: Tình hình triển khai chương trình An sinh giáo dục tại công ty bảo hiểm
nhân thọ.
Phần I
lý luận chung về bảo hiểm nhân thọ.
I. Sự cần thiết của bảo hiểm nhân thọ.
1. Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ.
a. Trên thế giới:
Bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát triển từ rất lâu trên thế giới. Hình thức
bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra đời năm 1583 ở Luân đôn, người được bảo hiểm là
William Gybbon. Như vậy, bảo hiểm nhân thọ có phôi thai từ rất sớm, nhưng lại
không có điều kiện phát triển ở một số nước do thiếu cơ sở kỹ thuật ngẫu nhiên,
nó giống như một trò chơi nên bị nhà thờ giáo hội lên án với lý do lạm dụng cuộc
sống con người, nên bảo hiểm nhân thọ phải tồn tại dưới nhiều hình thức khác
nhau. Tuy nhiên sau đó do sự phát triển kinh tế mạnh mẽ, cuộc sống của con
người được cải thiện rõ rệt, thêm vào đó là sự phát triển không ngừng của khoa
học kỹ thuật nên bảo hiểm nhân thọ đã có điều kiện phát triển trên phạm vi rộng
lớn. Với sự xuất hiện các phép tính xác suất Pascal và Fermat thì sự phát triển
của bảo hiểm nhân thọ là một tất yếu khách quan.
Năm 1759, công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra đời ở châu Mỹ nhưng
chỉ bán các hợp đồng bảo hiểm cho các con chiên trong nhà thờ của họ.
Năm 1762, ở Anh thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable. Đây là
công ty đầu tiên bán các hợp đồng bảo hiểm rộng rãi cho nhân dân và áp dụng
trong những năm qua Chính phủ và Bộ Tài chính rất quan tâm phát triển nghiệp
vụ này. Với sự ra đời của công ty bảo hiểm nhân thọ, chính thức đầu tiên ở Việt
Nam năm 1996 đã khẳng định rõ sự quan tâm của các cơ quan Nhà nước tầm vĩ
mô. Mặc dù chúng ta mới tiến hành nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ gần ba năm,
nhưng trong thực tế bảo hiểm nhân thọ đã xuất hiện ở Việt Nam từ rất sớm dưới
nhiều hình thức khác nhau.
Trước năm 1954, ở miền Bắc, những người làm việc cho Pháp đã được
bảo hiểm và một số gia đình đã được hưởng quyền lợi bảo hiểm của các hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ này. Các hợp đồng bảo hiểm này đều do các công ty bảo
hiểm của Pháp trực tiếp thực hiện.
Trong những năm 1970 - 1971 ở miền Nam công ty Hưng Việt bảo hiểm
đã triển khai một số loại hình bảo hiểm như “An sinh giáo dục”, “Bảo hiểm
trường sinh” (Bảo hiểm nhân thọ trọn đời), “Bảo hiểm tử kỳ thời hạn 5 - 10 - 20
năm”, nhưng công ty này chỉ hoạt động từ một đến hai năm nên các nghiệp vụ
bảo hiểm không được biết đến rộng rãi.
Năm 1987, Bảo Việt đã có đề án “Bảo hiểm nhân thọ và việc vận dụng
vào Việt Nam”, nhưng vào lúc đó điều kiện đất nước còn gặp nhiều khó khăn
như:
- Tỷ lệ lạm phát rất cao và không ổn định.
- Thu nhập của nhân dân chỉ đủ để chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu
thường ngày, phần tiết kiệm rất ít.
- Chưa có điều kiện để công ty bảo hiểm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư.
Công ty bảo hiểm lúc đó chưa được phép sử dụng quỹ bảo hiểm đi đầu tư, môi
trường đầu tư chưa phát triển.
- Chưa có những qui định mang tính chất pháp lý để điều chỉnh mối quan
hệ giá công ty bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, bảo vệ quyền lợi cho người
được bảo hiểm và khả năng thanh toán của công ty bảo hiểm.
Với những khó khăn trên đã không cho phép công ty Bảo Việt phát triển
nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ. Thay cho bảo hiểm nhân thọ, năm 1990, Bộ Tài
chính cho phép công ty Bảo Việt triển khai “Bảo hiểm sinh mạng con người thời
1996, ở châu á, tổng doanh thu phí bảo hiểm là 61,1 tỷ USD trong đó phí bảo
hiểm nhân thọ là 45,1 tỷ USD chiếm 73,8%. Ơ các nước phát triển có môi trường
đầu tư tốt, bảo hiểm nhân thọ phát triển rất mạnh mẽ.
Bảo hiểm nhân thọ giúp tăng tích luỹ cho ngân sách nhà nước, góp phần giải
quyết một số vấn đề xã hội như vấn đề thất nghiệp, vấn đề giáo dục Hiện nay
hầu hết các công ty lớn trên thế giới đều tham gia bảo hiểm nhân thọ nhằm duy
trì hoạt động của công ty, bù đắp phần thiệt hại do rủi ro trong trường hợp người
chủ công ty phải ngừng làm việc do tử vong hoặc thương tật toàn bộ vĩnh viễn.
Trong điều kiện kinh tế Việt nam, trải qua hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi
mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu đáng
phấn khởi và có ý nghĩa rất quan trọng. Đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dải,
tạo ra được những cơ sở vật chất thuận lợi cho sự nghiệp phát triển đất nước, cho
phép chúng ta chuyển sang thời kỳ mới: "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội văn minh".
Muốn thực hiện được thắng lợi mục tiêu chiến lược kinh tế xã hội đã đề ra thì
nhân tố vốn đầu tư là rất quan trọng. Vốn đầu tư chủ yếu được lấy từ quĩ tích luỹ
của nền kinh tế quốc dân và nguồn vốn vay nước ngoài. Theo kinh nghiệm của
một số nước phát triển và tình hình kinh tế xã hội thực tế của Việt Nam thì nhất
thiết phải tạo nhanh nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế và phải coi đây là
biện pháp chính. Có tích luỹ từ trong nước thì mới tiếp nhận được nguồn vốn từ
bên ngoài. Mà quĩ tích luỹ này được hình thành chủ yếu từ tiết kiệm, để phát huy
nguồn vốn này cần phải đẩy mạnh tiết kiệm, tạo khoản vốn cần thiết để phát triển
kinh tế.
Một trong những mặt yếu kém của nền kinh tế nước ta thời gian qua là nguồn vốn
đầu tư phát triển bằng nguồn vốn trong nước tăng không đáng kể, mặc dù theo
điều tra, vốn trong dân không phải là nhỏ. Báo Đầu tư số ra gần đây cho biết:
Nguồn vốn trong dân ước tính trong các năm :
- Năm 1992: 9419 tỷ đồng chiếm 9,8% GDP.
- Năm 1994: 21.753 tỷ đồng chiếm 12,8% GDP.
- Năm 1995: 34.382 tỷ đồng chiếm 13,2% GDP.
đình. Và nếu như may mắn trong suốt thời hạn bảo hiểm không có rủi ro thì
người được bảo hiểm vẫn nhận lại được số tiền đã nộp cộng thêm lãi nhờ hoạt
động của công ty bảo hiểm. Nhiều khoản tiền nhỏ lúc đó cộng lại đã thành khoản
tiền lớn để chi tiêu cho những công việc lớn, hoặc như dành dụm cho con bằng
cách mua hợp đồng “An sinh giáo dục” thì khi đứa trẻ 18 tuổi đã có một khoản
tiền để cấp vốn cho nó làm ăn hoặc chi phí cho nó tiếp tục đi học đại học. Chi phí
giáo dục - một vấn đề lớn trong ngân sách của mỗi gia đình hiện nay và càng trở
nên nóng bỏng trong tương lai.
So với các hình thức tiết kiệm, bảo hiểm nhân thọ có ưu điểm sau:
- Bảo hiểm nhân thọ là hình thức tiết kiệm thường xuyên và có kế hoạch.
Khi đã quyết định mua một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thì các khoản phí nhỏ
đóng hàng tháng được coi như là các chi phí thường xuyên như tiền ăn, tiền điện,
tiền nước và người đại lý chính là người thường xuyên nhắc nhở và thu khoản
tiền này.
- Bảo hiểm nhân thọ hỗ trợ khó khăn về tài chính cho thân nhân và gia
đình người được bảo hiểm khi người được bảo hiểm gặp rủi ro bằng một khoản
tiền lớn ngay cả khi họ mới kịp tiết kiệm được một khoản tiền rất nhỏ.
2 . ý nghĩa của bảo hiểm nhân thọ
Cũng giống như các nghiệp vụ bảo hiểm khác , bảo hiểm nhân thọ có vai trò đặc
biệt quan trọng trong đời sống mỗi cá nhân , mỗi gia đình nói riêng và của xã hội
nói chung .
a.Đối với mỗi cá nhân , gia đình .
- Bảo hiểm nhân thọ thể hiện sự quan tâm lo lắng của người chủ gia đình đối với
con cái hay những người phụ thuộc . Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật phát triển ,
các công nghệ hiện đại giúp cho cuộc sống tiện lợi hơn , văn minh hơn nhưng
những rủi ro bất ngờ vẫn có thể xảy ra bất cứ lúc nào , nó cướp đi mạng sống của
con người hoặc gây cho con người những thương tật mà không thể phục hồi trở
lại . Chính vì thế , trong xã hội văn minh hiện nay vẫn có một thực trạng đáng
buồn là nhiều gia đình trở nên khó khăn , túng quẫn khi người trụ cột gia đình
không may gặp rủi ro dẫn tới mất mát hoặc giảm thu nhập. Do đó, nếu tham gia
rỗi trong nhân dân, đầu tư dài hạn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,
nhằm giảm bớt tình trạng vay vốn nước ngoài với lãi suất cao. Với nguồn vốn lớn
thu được từ phí bảo hiểm đã giúp cho công ty đầu tư vào các lĩnh vực, công trình
lớn, đặc biệt là các công trình cơ sở hạ tầng .
Hiện nay ở một số nước trên thế giới, lượng vốn do các công ty bảo hiểm nhân
thọ cung cấp lớn hơn nhiều so với các tổ chức tài chính khác. Ví dụ như ở Mỹ,
năm 1970 số vốn do các công ty bảo hiểm nhân thọ cung cấp vào thị trường là 9
tỷ USD, trong khi đó số vốn do hệ thống ngân hàng cung cấp là 37 tỷ USD.
Nhưng cho đến năm 1991 con số đó đã là: số vốn do công ty bảo hiểm nhân thọ
cung cấp: 90,2 tỷ USD, số vốn do hệ thống ngân hàng cung cấp: 85,7 tỷ USD.
Theo ước tính của các chuyên gia kinh tế, lượng vốn nhàn rỗi trong dân cư Việt
Nam là 11 tỷ USD, trong đó có khoảng 50% là dự trữ bằng vàng. Đây là một
lượng vốn nhàn rỗi lớn, mà các tổ chức tài chính chưa huy động được hết, do đó
đã để lãng phí nhiều. Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, vì thế vốn càng là một nhu cầu tất yếu , bức thiết để tiến hành công
cuộc này,với các chính sách mở cửa đất nước nhằm thu hút vốn đầu tư của nước
ngoài song chúng ta lại chưa khai thác hết tiềm năng trong nước. Trước tình hình
này bảo hiểm nhân thọ cần có biện pháp, kế hoạch huy động nguồn vốn nhàn rỗi
trong dân để phục vụ cho nhu cầu đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước .
- Bên cạnh vai trò huy động vốn trong nước thì bảo hiểm nhân thọ còn có vai trò
thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Vốn đầu tư cho một công ty bảo hiểm lúc đầu
thường rất lớn , khi có một chính sách phù hợp sẽ thu được một lượng vốn đầu tư
bên ngoài đáng kể, vì bảo hiểm nhân thọ là một thị trường hết sức mới mẻ và hấp
dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa đặc điểm của nghiệp vụ bảo
hiểm nhân thọ có tính chất dài hạn nên nguồn vốn cung cấp cho nền kinh tế cũng
lớn. Trong khoảng thời gian này các nhà đầu tư chưa thu được nhiều lợi nhuận,
do đó họ sẽ tiếp tục đầu tư mà không rút khỏi thị trường Việt Nam.
- Bảo hiểm nhân thọ góp phần tạo nên phong cách , tập quán sống mới. Tham gia
bảo hiểm nhân thọ thể hiện một nếp sống đẹp, đó là biết lo lắng cho tương lai
vay vốn ngân hàng , hỗ trợ học tập . . . Tuy nhiên đó chỉ là những biện pháp vĩ
mô và mang tính chất tình thế , chưa thực sự huy động các tầng lớp trong xã hội
tham gia . Bảo hiểm nhân thọ - cụ thể là chương trình An sinh giáo dục là một
biện pháp huy động nguồn vốn dài hạn để đầu tư cho việc giáo dục từ việc tiết
kiệm thường xuyên và có kế hoạch của mỗi gia đình . Đấy cũng là một giải pháp
góp phần xây dựng mục tiêu công bằng xã hội . Tham gia bảo hiểm nhân thọ sẽ
đảm bảo được quỹ giáo dục cho con cái ngay cả khi người trụ cột trong gia đình
mất hoặc giảm thu nhập .
+ Vấn đề xoá đói giảm nghèo
Mặc dù điều kiện sống đã được nâng cao nhưng không ai lường trước được rủi ro
và nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào . Tham gia bảo hiểm nhân thọ là một cách để
bảo vệ mỗi cá nhân trong gia đình chống lại sự bất ổn về mặt tài chính khi rủi ro
xảy ra . Xét về mặt xã hội , bảo hiểm nhân thọ đã góp phần làm giảm người bần
cùng nghèo khổ do những rủi ro gây ra .
+ Vấn đề người về hưu và cao tuổi
Điều kiện sống được cải thiện thì đời sống của con người cũng được nâng cao ,
dẫn tới tỉ lệ người già ngày càng cao trong dân số . Chính vì thế ta cần phải lo
cho tương lai khi về hưu , bảo hiểm nhân thọ chính là một công cụ để thực hiện
điều đó . Nói cách khác bảo hiểm nhân thọ đã góp phần giảm bớt gánh nặng trách
nhiệm cho xã hội đối với người về hưu , người già
- Bảo hiểm nhân thọ góp phần nâng cao phúc lợi xã hội
Tham gia bảo hiểm nhân thọ là quyền lợi của mỗi công dân , sự xuất hiện của
bảo hiểm nhân thọ đã làm cho cuộc sống con người được bảo đảm và phát triển
một cách có kế hoạch . Sự phát triển này khiến chúng ta có độ thoả mãn cao hơn
về vật chất và tinh thần . Khi tham gia bảo hiểm nhân thọ chúng ta sẽ sống thoải
mái hơn vì đã có sự đảm bảo nhất định của công ty bảo hiểm . Do vậy, đứng trên
phương diện nào đó thì bảo hiểm nhân thọ đã và đang nâng cao phúc lợi xã hội .
Thêm vào đó ,bảo hiểm nhân thọ đang góp phần hạn chế các tệ nạn xã hội như
cướp bóc , mãi dâm , cờ bạc v.v Nếu như không có bảo hiểm nhân thọ thì khi
một người là lao động chính trong gia đình gặp tai nạnvà mất khả năng lao động,
doanh nghiệp tham gia bảo hiểm nhân thọ thì sẽ đảm bảo cho quá trình kinh
doanh của công ty và cái chết của người này có thể gây thiệt hại về tài sản của
công ty.
Không chỉ có thế, bảo hiểm nhân thọ góp phần tạo lập nên mối quan hệ vững
chắc giữa chủ doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên trong công ty thông qua
chế độ đãi ngộ. Với việc doanh nghiệp tham gia bảo hiểm nhân thọ cho các nhân
viên, doanh nghiệp đã góp phần ổn định đời sống cho người lao động nếu không
may họ gặp rủi ro.
3. Đặc trưng của bảo hiểm nhân thọ
a. Tính đa mục đích của bảo hiểm nhân thọ:
Đối với các loại bảo hiểm khác, người mua bảo hiểm chỉ có một mục đích là khi
xảy ra rủi ro được trả một số tiền đủ để thanh toán các chi phí phát sinh. Trong
bảo hiểm nhân thọ, người tham gia trông mong nhiều hơn và thực sự bảo hiểm
nhân thọ mang tính đa mục đích hơn, thể hiện ở:
Thứ nhất, bảo hiểm nhân thọ tạo ra một khoản tiền đáng kể giúp người được bảo
hiểm thực hiện được các ý định, công việc của mình.
Thứ hai, khi người được bảo hiểm đóng vai trò là người trụ cột trong gia đình
không may tử vong, số tiền bảo hiểm lúc này là khoản thu nhập quí giá giúp gia
đình người được bảo hiểm trang trải các chi phí cần thiết.
Thứ ba, trong một giới hạn nhất định, hợp đồng bảo hiểm trong thời hạn hiệu lực
được coi như một Tài sản thế chấp để người được bảo hiểm vay tiền của ngân
hàng.
Thứ tư, bảo hiểm nhân thọ đảm bảo được cuộc sống cho chính người được bảo
hiểm lúc tuổi già hay không may bị tàn tật.
b. Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm duy nhất cho phép bảo hiểm hai sự
kiện trái ngược nhau trong cùng một hợp đồng:
Đó là hai sự kiện sống và chết. Trong bất kỳ một loại hình bảo hiểm nào khác, sự
kiện được bảo hiểm chỉ là một rủi ro gây thiệt hại cho người được bảo hiểm. Nếu
như không có rủi ro xảy ra trong thời hạn bảo hiểm nhà bảo hiểm sẽ hết trách
nhiệm với người được bảo hiểm. Nhưng trong bảo hiểm nhân thọ cụ thể trong
Trong các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, cần phải duy trì sự công bằng trung thực
giữa nhà bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm.
Điều này được thể hiện rõ qua việc định phí bảo hiểm đối với các rủi ro có độ
trầm trọng tăng lên hoặc trong trường hợp rủi ro rất xấu. ở trường hợp thứ nhất
phải tăng phí, hoặc trong trường hợp thứ hai thì phí phải rất cao. Đó là điều quan
trọng đối với người làm bảo hiểm.
Trong bảo hiểm tử kỳ thuần tuý, để đảm bảo sự công bằng, người tham gia bảo
hiểm không được phép thu về những khoản tiền tiết kiệm tích luỹ được khi họ bị
tử vong hay sắp bị tử vong.
Trên đây là những đặc trưng của bảo hiểm nhân thọ, thể hiện sự khác biệt giữa
các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ với các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ trong
hệ thống bảo hiểm.
III . Các loại hình bảo hiểm nhân thọ và chương trình An sinh giáo dục trong bảo
hiểm nhân thọ
Như trên đã nêu, bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ mang ý nghĩa kinh tế - xã
hội sâu sắc . Trong đó, người tham gia bảo hiểm sẽ định kì đóng những khoản phí
trong một thời gian thoả thuận trước vào một quỹ lớn do công ty bảo hiểm quản
lívà công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một khoản tiền khi kết thúc thời hạn hợp
đồng bảo hiểm hoặc khi có sự kiện rủi ro xảy ra cho người được bảo hiểm hoặc
cho người thừa kế hợp pháp . Do đó bảo hiểm nhân thọ được hiểu như một sự
đảm bảo , một hình thức tiết kiệm và mang tính chất tương hỗ .Bảo hiểm nhân
thọ trên một phương diện nào đó còn mang tính chất bổ sung cho bảo hiểm xã hội
khi đời sống của nhân dân đưọc nâng cao mà chế độ bảo hiểm xã hội chưa đáp
ứng được .
1 . Các loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản đang được triển khai
Hiện nay , hầu hết các công ty bảo hiểm nhân thọ ở các nước trên thế giới đang
triển khai 4 loại hình bảo hiểm nhân thọ sau :
a. Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn
Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn bao gồm các loại hình bảo hiểm trong đó tiền
bảo hiểm chỉ được trả khi người được bảo hiểm bị chết trong thời hạn bảo hiểm.
- Nếu người được bảo hiểm chết trước khi hợp đồng hết hạn , Bảo Việt sẽ trả số
tiền đã chọn khi kí hợp đồng cho người thừa kế hợp pháp của người được bảo
hiểm . Nếu khi qua đời ( không phải do tai nạn ) hợp đồng chưa đủ 1 năm thì Bảo
Vệt Nhân Thọ sẽ hoàn lại 80 % số phí bảo hiểm đã nộp .
- Nếu người được bảo hiểm bị thưong tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn , Bảo Việt
Nhân Thọ sẽ trả toàn bộ số tiền bảo hiểm, đồng thời ngừng thu phí nhưng hợp
đồng vẫn tiếp tục có hiệu lực và bảo đảm đầy đủ các quyền lợ bảo hiểm .
- Ngoài số tiền bảo hiểm , tuỳ thuộc vào kết quả đầu tư công ty sẽ trả cho người
được bảo hiểm một khoản lãi trích từ kết quả kinh doanh của Bảo Việt tại nghiệp
vụ này vào ngày kết thúc hợp đồng bảo hiểm .
- Trong thời hạn bảo hiểm hợp đồng có hiệu lực từ 2 năm trở lên , nếu người
tham gia bảo hiểm gặp khó khăn về tài chính thì có thể yêu cầu huỷ bỏ hợp
đồngvà nhận được số tiền gọi là giá trị hoàn lại hoặc duy trì miễn phí với số tiền
bảo hiểm giảm .
b. Chương trình đảm bảo cho trẻ em đến tuổi trưởng thành ( chương trình An
sinh giáo dục ) .