Lời nói đầu
Thế kỷ trớc đã diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp. Có lẽ cuộc cách
mạng máy tính đã ra đời vào những năm đầu thập kỷ 1980; nhng ngày nay
không còn nghi ngờ gì nữa, chúng ta đang ở vào giữa cuộc cách mạng chất l-
ợng- một thời kỳ biến đổi đang tác động tới mọi kiểu kinh doanh, xí nghiệp, tổ
chức và mọi ngời.
Dới ánh sáng của Đảng và nhà nớc, trong hơn một thập kỷ qua, kinh tế Việt
Nam đã có những bớc phát triển nhanh chóng, vững chắc và mạnh mẽ. Trong
bối cảnh đất nớc đang chuyển sang nền kinh tế thị trờng, giữa các doanh nghiệp
đã có sự phân cực, cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt hơn. Mà trong bất
cứ nền kinh tế cạnh tranh nào, nếu một doanh nghiệp muốn đứng vững trong
hoạt động kinh doanh thì việc liên tục giảm giá thành và cảỉ thiện chất lợng là
rất cần thiết.
Đối với ngành BC-VT cũng vậy- đây là một ngành sản xuất hạ tầng cơ sở,
chất lợng có ý nghĩa đặc biệt. Các thông tin sản xuất xã hội, t nhân truyền đi
càng nhanh, càng chính xác, hoạt động của các thiết bị và của mạng lới càng tin
cậy thì kết quả sản xuất xã hội, điều hành quản lý buôn bán và điều kiện hoạt
động kinh tế xã hội của con ngời càng đợc nâng. Sự thiếu chính xác về nội dung
truyền tin truyền đa và việc truyền đa chậm chạp sẽ làm giảm hiệu quả truyền
đa tin tức theo không gian và thời gian. Thông tin sẽ mất đi tính ích lợi và giá trị
của mình trong việc quản lý sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế, đồng
thời sản phẩm BC-VT mất đi giá trị sử dụng của mình.
Đứng trớc yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nớc, nhiệm vụ đặt ra cho ngành
Bu điện nói chung và công ty Viễn thông Quốc tế nói riêng là tăng tốc độ phát
triển, hiện đại hoá mạng lới, đảm bảo thông tin liên lạc trong mọi tình huống,
chất lợng ngày càng cao. Một vấn đề đặt ra là để có thể phát triển và tăng trởng
kinh tế, thu hút đầu t nớc ngoài, phát triển kinh tế đối ngoại, hội nhập vào khu
vực và thế giới nhất thiết phải có một hệ thống thông tin quốc tế hoàn hảo.
Trong điều kiện đó lãnh đạo ngành Bu điện đã chọn Viễn thông quốc tế là khâu
1
đột phá. Việc làm này không phải là sự lựa chọn ngẫu nhiên mà là kết quả
đóng góp ý kiến của các thầy cô và các cô chú, anh chị trong công ty để chuyên
đề thực tập của em đợc hoàn thiện với kết quả tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
3
Chơng I
Sự cần thiết nâng cao chất lợng dịch vụ thoả
mãn khách hàng
I. Khái lợc về hoạt động dịch vụ
1. Dịch vụ là gì?
Chúng ta đang sống trong một xã hội dịch vụ. Hiện nay, dịch vụ là khu vực
sản xuất lớn nhất của xã hội hiện đại. Xã hội càng phát triển, hoạt động dịch vụ
càng mở rộng để thoả mãn nhu cầu thờng xuyên tăng lên của xã hội. Tại các n-
ớc phát triển, dịch vụ chiếm đến 70-80% GNP; Chính vì thế xã hội dịch vụ là xã
hội sau công nghiệp; còn ở nớc ta khu vực dịch vụ chiếm hơn 30% các hoạt
động sản xuất vật chất tạo nên GNP của quốc gia.
Thị trờng dịch vụ đã rất sôi động và càng sôi động hơn cùng với sự phát triển
không ngừng của kinh tế thị trờng. Nó không những mang lại cơ hội phát triển
và mang lại lợi nhuận, mà còn đem đến những thách thức và nhiều rủi ro cho
các doanh nghiệp. Nhiều công ty trong quá trình tiêu thụ hàng hoá của mình đã
cung cấp dịch vụ kèm theo, đồng thời biến những dịch vụ đó thành những thuộc
tính cạnh tranh lợi hại trớc các đối thủ. Ngợc lại những doanh nghiệp cũng tích
cực sử dụng những hàng hoá hiện hữu làm đầu mối vật chất nhằm tăng giá trị,
chất lợng trong việc cung ứng và tiêu dùng dịch vụ của công ty.
Vậy dịch vụ là gì? Thuật ngữ này rất khó xác định, bởi vì thông thờng dịch
vụ đợc trao đổi/ mua bán cùng với sản phẩm hàng hoá hữu hình. Dịch vụ cần có
sản phẩm vật chất trợ giúp trong quá trình tạo ra dịch vụ đó (bạn cần có máy
bay để cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng không), và hàng hoá vật chất cũng
cần có các dịch vụ trợ lực (để bán một gói muối, một cái áo sơ mi, ít ra ngời ta
cũng cần sự phục vụ của ngời bán hàng, ngời thu tiền...). Hiện nay có nhiều
tranh luận về khái niệm dịch vụ. Có tới hơn mời định nghĩa về dịch vụ, tuy
thêm.
Để hiểu sâu thêm dịch vụ, chúng ta cần tìm hiểu thêm những vấn đề có liên
quan tới sản xuất cung ứng dịch vụ:
5
Dịch vụ cơ bản: Là hoạt động dịch vụ tạo giá trị thoả mãn lợi ích cốt lõi
của ngời tiêu dùng. Đó chính là mục tiêu tìm kiếm của ngời mua.
Dịch vụ bao quanh: Là những dịch vụ phụ hoặc các khâu độc lập của
dịch vụ đợc hình thành nhằm mang lại giá trị phụ thêm cho khách hàng.
Dịch vụ bao quanh có thể nằm trong hệ thống của dịch vụ cơ bản và tăng
thêm lợi ích cốt lõi hoặc có thể là những dịch vụ độc lập mang lại lợi ích
phụ thêm.
Dịch vụ sơ đẳng: Bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ bao quanh của
doanh nghiệp phải đạt tới một mức độ nào đó và tơng ứng phù hợp với
ngời tiêu dùng nhận đợc một chuỗi giá trị xác định nào đó phù hợp với chi
phí mà khách hàng đã thanh toán. Dịch vụ sơ đẳng gắn liền với cấu trúc
dịch vụ, với các mức và qui chế dịch vụ của những nhà cung cấp.
Dịch vụ tổng thể: Là hệ thống dịch vụ bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ
bao quanh, dịch vụ sơ đẳng. Dịch vụ tổng thể thờng không ổn định, nó
phụ thuộc vào các dịch vụ thành phần hợp thành.
Ngời ta phân biệt hai thái cực một đầu chỉ sản phẩm hàng hoá hiện hữu
hoàn toàn và đầu kia cải sản phẩm dịch vụ hoàn toàn. Và một sản phẩm có thể
chứa nhiều phần dịch vụ hơn hay ít hơn tuỳ vào bản chất của hoạt động sản xuất
kinh doanh ra nó. Ranh giới giữa hàng hoá và dịch vụ ngày càng mờ dần vì các
công ty ngày càng đa nhiều những hỗn hợp sản phẩm và dịch vụ để cạnh tranh
trên thị trờng.
Điều này đợc thể hiện nh sau:
Vôtuyến hàngkhông,
Bu điện bảohiểm,tvấn
Nhàhàng,
Muối quán ăn
điểm thực hiện dịch vụ đó. Cuộc phẫu thuật do một giáo s đầu ngành thực hiện
sẽ có chất lợng cao hơn nhiều so với một bác sĩ ngoại khoa mới vào nghề. Và
các cuộc phẫu thuật riêng của giáo s cũng sẽ khác nhau tuỳ theo tình trạng sức
khoẻ và trạng thái tinh thần của ông ta trong lúc tiến hành ca mổ.
Cuối cùng là tính không lu giữ đợc (inventory): Dịch vụ không thể lu kho đ-
ợc. Nếu máy bay vắng khách thì giờ đến vẫn phải cất cánh với nửa khoang ghế
trống. Trong khi nhu cầu về dịch vụ thờng dao động rất lớn, có những thời điểm
7
rất đông khách (trong ngày, trong tuần, trong tháng, trong năm) thì ngời cung
ứng dịch vụ phải có nhiều phơng tiện cung ứng lên gấp bội để đảm bảo phục vụ
trong giờ cao điểm. Ngợc lại, khi vắng khách vẫn phải tốn các chi phí cơ bản
nh trả lơng cho nhân viên, thuê địa điểm... Để khắc phục đợc vớng mắc này và
cân đối cung cầu tốt hơn, có thể định giá phân biệt, hệ thống đặt chỗ trớc, thuê
nhân viên bán thời gian...
2.2. Phân loại dịch vụ
Trong Marketing, thuật ngữ sản phẩm đợc dùng để chỉ cả hàng hoá vật chất
và dịch vụ. Đầu tiên t duy marketing đợc phát triển gắn liền với việc bán những
sản phẩm vật chất từ kem đánh răng đến vô tuyến và ô tô. Sau đó lĩnh dịch vụ
ngày càng phát triển và chiếm chỗ đứng quan trọng trong cuộc sống thờng ngày
cũng nh trong nền kinh tế quốc dân. Các ngành dịch vụ hết sức đa dạng và
phong phú.
Theo phơng pháp loại trừ: Dịch vụ là một bộ phận của nền kinh tế ngoài
công nghiệp sản xuất hàng hoá hiện hữu, nông nghiệp ,và khai khoáng.
Bao gồm:
Thơng mại
Vận chuyển, phân phối, lu kho
Ngân hàng, bảo hiểm
Kinh doanh bất động sản
Dịch vụ bu chính viễn thông
Dịch vụ công cộng, dịch vụ khối công quyền
9
3. Bản chất của Marketing dịch vụ
Phạm vi hoạt động của Marketing dịch vụ rộng lớn hơn nhiều so với hoạt
động trong hàng hoá hiện hữu. Vì thế t duy về hàng hoá hiện hữu sẽ không
thích hợp đối với dịch vụ. Marketing dịch vụ đòi hỏi một sự đổi mới, mở rộng
giới hạn trong cách suy nghĩ và phơng thức hoạt động của các nhà Marketing.
Muốn hiểu đợc bản chất của Marketing dịch vụ, trớc hết ta cần hiểu thế nào là
Marketing dịch vụ?
Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết vào thị trờng dịch vụ bao
gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá, và thoả mãn nhu cầu thị trờng
mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ
quả trình tổ chức sản xuất cung ứng tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối
các nguồn lực của tổ chức. Marketing đợc duy trì trong sự năng động qua lại
giữa sản phẩm dịch vụ với nhu cầu của ngời tiêu dùng và những hoạt động
của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp,
ngời tiêu dùng và xã hội.
Hoạt động Marrketing dịch vụ diễn ra trong toàn bộ quá trình sản xuất và
tiêu dùng dịch vụ, bao gồm giai đoạn trớc tiêu dùng, tiêu dùng, và sau khi tiêu
dùng.
3.1. Quá trình diễn tiến của một chơng trình Marketing dịch vụ: Quá trình
này bao gồm Marketing hỗn hợp các nhân tố nội tại hay những thành phần tạo
nên một chơng trình Marketing của doanh nghiệp.
Marketing hỗn hợp các nhân tố nội tại: Tới nay ngời ta đã thừa nhận7
yếu tố cơ bản thuộc công cụ Marketing dịch vụ. Đó là: Sản phẩm dịch
vụ, phí dịch vụ, truyền thông Marketing, phân phối, con ngời, quá
trình dịch vụ và dịch vụ khách hàng.
Quá trình diễn tiến: Các nhà quản trị Marketing thực hiện phát triển
một chơng trình Marketing là việc sử dụng các khung Marketing hỗn
hợp bảo đảm một sự tiếp cận giữa các yếu tố bên trong của doanh
Là một ngành chủ chốt với hai chuyên ngành lớn là Bu chính- phát hành báo
chí và Viễn thông, sản phẩm của ngành BC-VT có những đặc điểm riêng có, tạo
11
cho ngành những đặc điểm sản xuất kinh doanh khác biệt so với các ngành
khác, đó là:
Trớc tiên là tính phi vật chất của sản phẩm bu điện:
Sản phẩm Bu điện không phải là sản phẩm hiện vật mới mà là hiệu quả có
ích của việc truyền đa tin tức. Vì vậy đòi hỏi ngành BC-VT phải đảm bảo truyền
đa thông tin nhanh chóng, chính xác, đầy đủ... và đặc biệt phải coi chất lợng là
yếu tố quan trọng nhất. Hơn nữa, do sản phẩm của ngành không mang tính vật
chất nên trong tổng chi phí phát sinh sẽ không có chi phí nguyên vật liệu để tạo
ra thực thể sản phẩm, tỷ trọng tiền lơng chiếm rất lớn trong tổng chi phí . Do đó,
không phải lo nguồn nguyên liệu và không có sản phẩm dở dang.
Hai là, trong ngành BC-VT, quá trình sản xuất sản phẩm cũng chính là
quá trình tiêu thụ sản phẩm. Đặc điểm này là sự khác biệt rõ nét giữa sản phẩm
BC-VT với sản phẩm của các ngành khác đặc biệt là sản phẩm viễn thông. Điều
này làm cho sản xuất của ngành Viễn thông không cần có các khâu đóng gói, lu
kho, bảo quản và vận chuyển sản phẩm. Hàng hoá, dịch vụ đợc định giá và đợc
khách hàng chấp nhận trớc khi đợc tạo ra sản phẩm dở dang.
Ba là, trong ngành BC-VT, quá trình sản xuất sản phẩm cũng chính là
quá trình tiêu thụ sản phẩm. Đặc điểm này là sự khác biệt rõ nét giữa sản phẩm
BC-VT với sản phẩm của các ngành khác đặc biệt là sản phẩm viễn thông. Điều
này làm cho sản xuất của ngành Viễn thông không cần có các khâu đóng gói, lu
kho, bảo quản và vận chuyển sản phẩm. Hàng hoá, dịch vụ đợc định giá và đợc
khi đợc tạo ra.
Thứ t, các cơ sở sản xuất dịch vụ BC-VT chỉ sản xuất khi có ngời mua,
không thể chủ động sản xuất sẵn sản phẩm và dự trữ. Vì vậy tình hình sản xuất
thờng không đều, khi dồn đập, khi tha thớt và có khi phải chờ việc.
Tiếp theo, mọi dịch vụ BC-VT đợc thực hiện khi có sự tham gia của hai
hay nhiều đơn vị trong ngành Bu điện.
trị của những đặc tính ấy. Quan điểm này hoàn toàn khách quan, nó
không tính đến sự khác biệt về thị hiếu, sở thích cá nhân và nhu cầu ngời
tiêu dùng. Ví dụ: điện thoại có thêm một số chức năng nh bộ phận hiện
13
số vừa gọi, màn hình, loa,....hoặc kiểu dáng cầu kỳ hơn, nhỏ gọn
hơn...thì đợc coi là chất lợng cao hơn
Quan điểm định hớng chất lợng theo ngời sử dụng: Chất lợng nằm trong
con mắt ngời sử dụng; họ đồng nghĩa chất lợng với thoả mãn cao nhất.
Đây là cách nhìn nhận mang tính chủ quan và thể hiện xu thế của nhu
cầu để nhận biết sự khác biệt trong ý thích của từng nhóm khách hàng
Quan điểm định hớng chất lợng theo sản xuất: Ngợc lại đây là quan
điểm định hớng từ nhà sản xuất và nó quan tâm chủ yếu đến việc tuân
thủ đúng những yêu cầu, tiêu chuẩn, quy cách đã đợc xác định trớc.
Quan điểm này mang nặng tính kỹ thuật và quy trình sản xuất, và thờng
đặt ra với mục tiêu tăng năng xuất lao động và cắt giảm chi phí.
Quan điểm định hớng chất lợng theo giá trị: Định nghĩa chất lợng trong
khuôn khổ tơng quan giữa giá trị và giá cả. ở đây thể hiện sự đánh đổi
giữa giá và chất lợng. Chất lợng cao thì giá cao, và ngợc lại.
Chất l ợng dịch vụ
Nội dung của việc tăng cờng định hớng trọng tâm các hoạt động vào khách
hàng thực ra phân tích môí quan hệ giữa một tổ chức dịch vụ khách hàng và
khách hàng của nó. Khái niệm về các mối quan hệ Marketing nh vậy đã gộp cả
ba nội dung: Chất lợng, Dịch vụ khách hàng và Marketing lại với nhau và nó đ-
ợc cụ thể hoá trong hình vẽ sau:
14
Các cấp độ dịch vụ khách hàng phải
đợc xác định dựa trên cơ sở của các Chất lợng phải đợc xác định,
thớc đo đợc tim ra qua nghiên cứu
nhu cầu khách hàng, cũng nh hoạt nhìn nhận từ giác độ khách hàng
thành phần, các yếu tố khác của Marketing hỗn hợp. Do vậy dịch vụ khách
hàng có thể xem nh là một hoạt động mang lại những lợi ích về thời gian và địa
điểm cho khách hàng,đồng thời chứa đựng các mối quan hệ trớc giao dịch,
trong giao dịch và sau khi giao dịch liên quan tới quá trình trao đổi với khách
hàng.
Những hãng dịch vụ đã ý thức đợc tầm quan trọng của việc xây dựng cơ sở
dữ liệu khách hàng hiện tại, tăng cờng sự hiểu biết về nhu cầu khách hàng, tạo
ra những mối quan hệ tốt đẹp, tạo ra những cơ hội lớn để ràng buộc khách hàng
với mình. Do vậy các nhân viên cần đợc đào tạo để có trách nhiệm cung cấp
những dịch vụ tốt nhất để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
2.Các yếu tố chất lợng theo quan điểm khách hàng
So với vật chất hữu hình thì chất lợng dịch vụ rất khó xác định, khó đo lờng
khó kiểm soát và khuyếch trơng hơn nhiều. Thế nhng trong ngành dịch vụ thì
chất lợng lại là điểm tối quan trọng trong việc tạo nên thành công hay thất bại
của công ty, là chìa khoá tạo nên lợi thế cạnh tranh dài hạn để phân biệt các nhà
cung ứng dịch vụ với nhau.
Cho dù chất lợng có khó xác định đến đâu chăng nữa thì các cấp quản lý
hiểu một điều rằng: Chất lợng đợc xác định bởi khách hàng chứ không phải bởi
ngời cung ứng hay ngời bán. Điều đáng để ý ở đây là khách hàng đánh giá nh
thế nào về dịch vụ. Nếu ngời thợ làm đầu có thể rất thích thú với kiểu tóc cầu kỳ
mà họ vừa tạo ra, nhng khách hàng lại thấy kiểu đầu mới của mình trông rất dị
dạng, nh thế là dịch vụ có chất lợng tồi. Nếu chất lợng dịch vụ mà không phù
hợp với đúng những gì mà khách hàng mong muốn thì sẽ có kết quả là khách
hàng hiện tại bỏ đi và tất nhiên cũng sẽ không thu hút thêm đợc khách hàng
mới.
Dới đây là 10 yếu tố quyết định chất lợng dịch vụ theo quan điểm khách
hàng:
1. Độ tin cậy: Sự nhất quán trong vận hành đáng tin cậy; thực hiện đúng chức
năng ngay từ đầu; thực hiện đúng những lời hứa hẹn.
16
vụ
Sự thoả mãn= nhận thức kỳvọng
Kỳ vọng của khách hàng đợc hình thành nh thế nào?
Trong bốn nguồn thông tin tạo nên kỳ vọng của hàng _ thông tin truyền
miệng,các nhu cấu cá nhân,kinh nghiệm đã trải qua và các thông tin giao tiếp
quảng cáo của công ty thì chỉ có nguồn thứ t là nằm trong tầm kiểm soát của
công ty.Bởi vậy mà giao tiếp khuyếch trơng thế nào làđiều rất quan trọng.
Quảng cáo cần hấp dẫn để thu hút khách hhàng, nhng đồng thời cũng không đ-
ợc phóng đại quá những gì mà công ty có thể cung cấp, phục vụ, dễ tạo nên kỳ
vọng quá cao cho khách hàng, công ty không đáp ứng đợc và kết quả là khách
hàng không đợc thoả mãn.
Kết hợp kỳ vọng của khách hàng và 10 yếu tố chất lợng dịch vụ đã nêu ở
trên ,các học giả đã đa ra mô hình thể hiện mối quan hệ giữa hai khía cạnh này
nh sau:
18
Thông tin
Truyền miệng
Nhu cầu
Cá nhân
Kinh nghiệm
đã trải qua
Quủng cáo,
Khuyếch trương
Dịch vụ của
ĐTCT
Dịch vụ của
Công ty
Kỳ vọng của khách
Hàng
độ tin cậy
trách nhiệm
năng lực
khả năng tiếp cận
tác phong
giao tiếp
sự tín nhiệm
tính an toàn
thấu hiểu khách hàng
tính hữu hình
A.dịch vụ
mong muốn
B.Dịch vụ
nhận thức được
Mức độ thoả mãn
của khách hàng
1.Vượt quá kỳ vọng
((A<B,chất lượng
dịch vụ tuyệt hảo)
2.Đáp ứng kỳ vọng
của khách hàng
(A=B,chất lượng hài
lòng)
3.Không đáp ứng kỳ
vọng
(A>B,chất lượng
không đạt)
Những đòi hỏi tất
yếu vàcác đặc
điểm
Gợi ý về những tác động quản trị dịch vụ cần thiết để lấp đầy những
khoảng cách đó.
Mô hình các khoảng cách trong chất lợng dịch vụ
20
Khách hàng
Nhân viên
Marketing
Mô tả bản chất của các khoảng cách dịch vụ nói trên:
Khỏang cách1:
Là sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng và nhận thức của ban lãnh đạo
công ty về những kỳ vọng đó. Chênh lệch nổi lên là do ban lãnh đạo không hiểu
biết đầy đủ về việc khách hàng hình thành những mong muốn của họ nh thế
nào,không tìm hiểu những xuất phát điểm tạo nên kỳ vọng của họ;quảng cáo
kinh nghiệm đã trải qua khỉ dụng dịch vụ của công ty và của đối thủ cạnh tranh,
nhu cầu cá nhân và qua những giao tiếp với bạn bè.Chiến lợc để lấp đầy khoảng
cách 1 là tăng cờng nghiên cứu thị trờng, liên lạc nhanh hơn và kịp thời hơn nữa
giữa nhân viên phục vụ trực tiếp với ban lãnh đạo công ty, giảm các nấc thang
từ ban lãnh đạo tới khách hàng.
Khoảng cách2:
Khoảng cách thứ hai là ban lãnh đạo công ty không có khả năng diễn đạt các
mục tiêu chất lợng dịch vụ ở các mức độ khác nhau để đáp ứng đợc kỳ vọng của
khách hàng và không chuyển đợc những mục tiêu đó thành những tiêu
21
Giao tiếp bên ngoài tới
khách hàng
Thông tin
truyền miệng
Nhu cầu cánhân
Kinh nghiệm
đã trảiqua
nhân chủ yếu là do thông tin quảng cáo, giao tiếp đã quá phóng đại,gây cho
khách hàng những kỳ vọng cao hơn thực tế công ty có thể phục vụ.Hoặc có thể
do khách hàng không nhận đủ thông tin tại nơi ngời nhân viên tiếp xúc
Khoảng cách 5:
Thể hiện sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng và chất lợng dịch vụ thực tế
nhận đợc.Đó là những mắc mớ về chất lợng dịch vụ.Mức độ trầm trọng của
khoảng cách 5 tuỳ thuộc vào quy mô và xu hớng của bốn khoảng cách đầu
5.Chất lợng dịch vụ BC-VT và ý nghĩa của việc nâng cao chất lợng:
Tình hình chất lợng dịch vụ BC_ VT phần nhiều do hiện trạng máy móc thiết
bị mạng lới quyết định. Chúng không đáp ứng đợc yêu cầu thời sự của quản lý
kinh tế và cơ sở hạ tầng thị trờng, đặc biệt các vấn đề phát triển dịch vụ mới ;
truyền đa tin tức từ ngời cung cấp tới ngời sử dụng ; nâng cao vai trò của ngời
trung gian giữa ngời cung cấp và ngời sử dụng, tức là sự tham gia của bu điện
vào các thành phần của quá trình thông tin hoá, nh tích luỹ , cập nhật, xử lý và
điều phối các thông tin theo yêu cầu.
22
Do tính không tách rời giữa quá trình tiêu dùng với quá trình cung cấp dịch vụ
BCVT, đặc điểm chất lợng bcvt thể hiện không chỉ ở quá trình sản xuất mà còn
cả trong quá trình sử dụng nó.
Chất lợng bcvt là đặc tính tổng quát về việc làm của doanh nghiệp ,của tổ chức
bcvt và của từng nhân viên theo các thông số khai thác kỹ thuật mạng lới, tâm
lý đạo đức, kinh tế xã hội. CgiuwaxBCVT phụ thuộc vào tập hợp các yếu tố
bên ngoài và bên trong và quyết định bởi các điều kiện phát triển tài chính kinh
tế, trình độ kỹ thuật của mạng lới , tổ chức sản xuất, tình trạng các điểm chủ
chốt trong mạng lới, các thiết bị kỹ thuật khai thác và các công trình xây dựng
BCVT, thành tựu khoa học kỹ thuật trong công nghệ và trong hệ thống truyền
đa tin tức , hiệu quả sử dụng các nguồn vật chất, các nguồn tài chính,các nguồn
nhân lực, nhu cầu đáp ứng các dịch vụ cho ngời tiêu dùng cả về chất và lợng.
Thành phần quan trọng nhất của chất lơng công việc bcvt là chất lợng dịch vụ.
Chất lợng dịch vụ là tập hợp các tính chất và mức độ tính ích lợi của nó về đáp
hệ thống thiết bị kỹ thuật mạng lới.
-Sự tiện lợi của việc sử dụng các dịch vụ BCVT.
Nếu thiếu một trong các tính chất trên sẽ gây ra mất mát cho giá trị sử dụng
của dịch vụ BCVT và mang lại thiệt hại cho ngời sử dụng.Trong ngành BCVT
chất lợng là tính chất cơ bản của dịch vụ. Không hoàn thành yêu cầu về chất l-
ợng dịch vụ trong nhiều trờng hợp sẽ mất đi ý nghĩa phục vụ đối với ngời sử
dụng.Chất lợng đợc thể hiện bằng các tham số tiêu chuẩn kỹ thuật :ví dụ, yêu
cầu về tốc đọ truyền tin ,thời gian quy định ; yêu cầu về đọ chính xác và độ tin
cậy của của việc cung cấp dịch vụ BCVT bằng các định mức kinh tế kỹ thuật
.Trình đọ công nghệ ngày càng cao ,mức sống ngày càng cao đọi hỏi cao hơn
đặt ra đói với dịch vụ mà sự vi phạm quy cách có thể dẫn đến hậu quả lớn làm
tăng mức phí chi trả của ngời tiêu dùng lên rất nhiều lần.
Trong điều kiện chống độc quyền chất lợng dịch vụ BCVT trở thành sự đảm
bảo hiệu quả hoạt đọng và phát triển hệ thống BCVT,đảm bảo mức doanh lợi và
khả năng cạnh tranh của các dịch vụ BCVT .Chính vì thế, tất cả các hoạt động
sản xuất , khai thác và kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp nhằm vào việc
nâng cao chất lợng các dịch vụ truyền thống và đảm bảo chất lợng cao cho các
24
dịch vụ mới, đa ra các mức chất lợng quy định phù hợp với các nhu cầu hiện
hành hoặc nhu cầu dự báo của các chủ thể kinh tế và nhân dân.
Từ sự đa dạng của các tham số chất lợng dịch vụ BCVT, ta lựa chọn ra các chỉ
tiêu có ý nghĩa nhất và cơ bản nhất, có tính đến các tính chaat squan trọng nhất,
những yêu cầu cơ bản của khách hàng. Những chỉ tiêu này dựa trên các mức độ
khác nhau của quá trình truyền đa tin tức. Nh vậy, liên quan đến các chỉ tiêu
chất lợng hiện hành có ý nghĩa hơn cả là tốc độ, độ chính xác của việc truyền đa
tin tức, độ tin cậy của các thiết bị BCVT.
Yêu cầu về việc truyền đa tin tức đợc xác định bởi các định mức nhận, truyền
và đa tin.những định mức này gọi là những thời gian quy định.Có ba loại :thời
gian quy định chung , thời gian giai đoạn và thời gian khai thác.
Thời gian quy định chung: là mức thời gian chuẩn để thực hiện tất cả