Mở đầu
Nền kinh tế nớc ta đang vận hành theo cơ chế thị trờng, cùng với quá trình
mở cửa hội nhập cùng thế giới đã tạo ra sự cạnh tranh về mọi mặt ngày càng gay
gắt và quyết liệt. Sức ép của hàng nhập lậu, của ngời tiêu dùng, của hàng nớc ngoài
buộc các nhà kinh doanh cũng nh các nhà quản lý phải hết sức coi trọng vấn đề
đảm bảo và nâng cao chất lợng sản phẩm. Chất lợng sản phẩm ngày nay đang trở
thành một nhân tố cơ bản để quyết định đến sự thành bại trong cạnh tranh, quyết
định sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp nói riêng cũng nh sự tiến bộ
hay tụt hậu của nền kinh tế nói chung.
Công ty May 40 là một doanh nghiệp nhà nớc, hạch toán độc lập, thuộc sở
công nghiệp Hà nội quản lý . Công ty thành lập từ năm 1955 với 30 đồng chí trong
đoàn quân dụng thuộc Tổng cục hậu cần chuyển sang. Từ khi thành lập, Công ty
tồn tại trong một thời gian dài của chế độ bao cấp cũ, với chế độ hạch toán tập
trung, Nhà nớc cấp nguyên liệu vật t đầy đủ và bao tiêu toàn bộ sản phẩm sản xuất
ra. Do vậy, trong giai đoạn này, công tác chất lợng sản phẩm không đợc chú trọng
nhiều. Sản phẩm chỉ đạt đợc ở mức chấp nhận đợc nhng vẫn tiêu thụ hết. Thêm vào
đó, Công ty chỉ quan tâm đến năng suất lao động, số lợng sản phẩm sản xuất ra
hơn là vấn đề nâng cao chất lợng. Sau hơn 30 năm tồn tại nh vậy, khi đất nớc
chuyển sang cơ chế thị trờng, Công ty đã gặp rất nhiều khó khăn do việc thị trờng
các nớc Đông âu tan rã, chất lợng kém không thể cạnh tranh đợc. Do đó, Ban Giám
độc Công ty đã đề ra đờng lối chiến lợc phát triển cho Công ty nhằm đáp ứng yêu
cầu về chất lợng trong tình hình mới. Điều này thể hiện rất rõ qua việc Công ty
phấn đấu áp dụng thành công hệ thống quản lý chất lợng ISO 9002 vào cuối năm
2000 và triết lí kinh doanh của Công ty nh: Để hội nhập tồn tại và phát triển trong
nền kinh tế thị trờng, chất lợng là mục tiêu, mối quan tâm hàng đầu đối Công ty
1
May 40. Để gìn giữ và phát triển mối quan hệ bạn hàng, Công ty May 40 cam kết
chỉ cung cấp những sản phẩm đạt yêu cầu chất lợng của khách hàng.
Nh vậy, vấn đề nâng cao chất lợng sản phẩm ở công ty là một vấn đề vô
cùng quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn.
Vì những lý do trên tôi xin chọn đề tài:
những mục tiêu khác nhau mà ngời ta đa ra nhiều khái niệm về chất lợng sản phẩm
khác nhau.
Trớc đây, các nớc trong hệ thống XHCN nhận thức rằng: chất lợng sản
phẩm là tổng hợp những đặc tính kinh tế kỹ thuật nội tại phản ánh giá trị sử
dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng những nhu cầu định trớc cho nó trong
những điều kiện xác định về kinh tế kỹ thuật. Về cơ bản quan điểm này phản
ánh đúng bản chất của chất lợng. Ta có thể dễ dàng đánh giá đợc mức độ chất lợng
sản phẩm đạt đợc, nhờ đó xác định rõ ràng những đặc tính và chỉ tiêu nào cần phải
hoàn thiện. Tuy nhiên, chất lợng sản phẩm mới chỉ đợc xem xét một cách biệt lập,
tách rời với thị trờng, làm cho chất lợng sản phẩm không thực sự gắn với nhu cầu
và sự biến động của nhu cầu trên thị trờng với hiệu quả kinh tế và điều kiện cụ thể
của từng doanh nghiệp. Khiếm khuyết này xuất phát từ việc sản xuất theo kế
hoạch, tiêu thụ theo kế hoạch của các nớc XHCN. Sản phẩm sản xuất ra không đủ
cung cấp cho thị trờng cho nên chất lợng sản phẩm không theo kịp nhu cầu thị tr-
3
ờng nhng vẫn tiêu thụ đợc. Hơn nữa, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nền kinh
tế phát triển khép kín nên không có sự so sánh hay cạnh tranh về sản phẩm.
Bớc sang cơ chế thị trờng, khi nhu cầu đợc coi là xuất phát điểm của mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh (nh một nhà kinh tế đã nói: sản xuất những gì mà
ngời tiêu dùng cần chứ không sản xuất những gì mà ta có) thì định nghĩa trên
không còn phù hợp nữa.
Quan điểm về chất lợng phải đợc nhìn nhận một cách khách quan, năng
động hơn. Tức là khi xem xét chất lợng sản phẩm phải gắn liền với nhu cầu của ng-
ời tiêu dùng trên thị trờng, với chiến lợc kinh doanh của doanh nghiệp. Những
quan niệm mới đó đợc gọi là quan niệm chất lợng sản phẩm hớng theo khách hàng.
Lý thuyết này cho rằng: Chất lợng phụ thuộc vào cái nhìn đầu tiên của ngời sử
dụng, vì vậy tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá chất lợng là khả năng thoả mãn
những đòi hỏi, những yêu cầu của ngời sử dụng .
Một số nhà kinh tế học phơng Tây theo quan niệm này đã định nghĩa về chất
lợng nh sau:
b> Phân loại chất lợng sản phẩm :
- Chất lợng thiết kế: là giá trị thể hiện bằng các tiêu chuẩn chất lợng đợc
phác thảo bằng các văn bản, bản vẽ.
- Chất lợng tiêu chuẩn: là chất lợng đợc đánh giá thông qua các chỉ tiêu kỹ
thuật của quốc gia, quốc tế, địa phơng hoặc ngành.
- Chất lợng thị trờng: là chất lợng bảo đảm thoả mãn nhứng nhu cầu nhất
định, mong đợi của ngời tiêu dùng.
- Chất lợng thành phần: là chất lợng bảo đảm thoả mãn những nhu cầu mong
đợi của một hoặc một số tầng lớp ngời nhất định.
- Chất lợng phù hợp: là chất lợng phù hợp với ý thích, sở trờng tâm lý ngời
tiêu dùng.
- Chất lợng tối u: là giá trị các thuộc tính của sản phẩm hàng hoá phù hợp
với nhu cầu cuả xã hội nhằm đạt đợc hiệu quả kinh tế cao nhất.
I.2. Vai trò của chất lợng sản phẩm
Cơ chế thị trờng tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển cuả các doanh
nghiệp và nền kinh tế. Đồng thời, nó cũng đặt ra những thách thức đối với doanh
nghiệp qua sự chi phối của các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cạnh tranh.
Nền kinh tế thị trờng cho phép các doanh nghiệp tự do cạnh tranh với nhau
trên mọi phơng diện. Ngời tiêu dùng đợc tự do lựa chọn các sản phẩm theo yêu
cầu, sở thích, khả năng mua của họ. Do đó, doanh nghiệp nào thu hút đợc khách
hàng sử dụng sản phẩm của mình nhiều nhất thì doanh nghiệp đó sẽ tồn tại và phát
triển. Chính điều này đã tạo động lực to lớn buộc các doanh nghiệp ngày càng phải
hoàn thiện để phục vụ khách hàng đợc tốt nhất.
Đối với doanh nghiệp công nghiệp, chất lợng sản phẩm luôn luôn là một
trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định khả năng cạnh tranh trên thị trờng.
Chất lợng sản phẩm là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện chiến lợc Marketing, mở
rộng thị trờng, tạo uy tín, danh tiếng cho sản phẩm cuả doanh nghiệp khẳng định vị
trí của sản phẩm đó trên thị trờng. Từ đó, ngời t iêu dùng sẽ sử dụng sản phẩm của
doanh nghiệp làm cơ sở cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp và
nếu có thể sẽ mở rộng thị trờng ra nớc ngoài.
II. Đặc điểm và hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất l ợng sản phẩm
II.1. Đặc điểm của chất lợng sản phẩm
Chất lợng sản phẩm là một phạm trù KT XH, công nghệ tổng hợp. Nó
luôn gắn bó chặt chẽ với những mong đợi của khách hàng và những xu hớng vận
động của những mong đợi đó trên thị trờng. Bởi vậy, chất lợng là một phạm trù có
ý nghĩa tơng đối, không phải là bất biến mà thờng xuyên thay đổi theo thời gian và
không gian. Chất lợng có thể cao trong thời điểm này nhng sẽ không còn cao nữa
đối với giai đoạn sau hoặc chất lợng cao ở thị trờng này nhng không cao đối với thị
trờng khác.
6
Khi nói đến chất lợng, cần phân biệt rõ đặc tính chất lợng chủ quan và
khách quan của sản phẩm.
+ Đặc tính khách quan thể hiện trong chất lợng tuân thủ thiết kế. Khi sản
phẩm sản xuất ra có những đặc tính kinh tế kỹ thuật càng gắn với tiêu chuẩn
thiết kế thì chất lợng càng cao, đợc phản ánh thông qua tỷ lệ phế phẩm, sản phẩm
hỏng, loại bỏ sản phẩm không đạt yêu cầu thiết kế. Loại chất lợng này phụ thuộc
chặt chẽ vào tính chất, đặc điểm và trình độ công nghệ, trình độ tổ chức quản lý ,
sản xuất của các doanh nghiệp. Loại chất lợng này ảnh hởng rất lớn đến khả năng
cạnh tranh về giá cả của sản phẩm.
II.2. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh chất lợng sản phẩm
Khi nói đến chất lợng của một sản phẩm, ta cần phải xem xét thông qua các
chỉ tiêu đặc trng nội tại và bên ngoài sản phẩm thì mới khách quan và chính xác đ-
ợc. Mỗi sản phẩm đợc đặc trng bởi các tính chất, đặc điểm là những đặc tính khách
quan của sản phẩm thể hiện trong quá trình hình thành và sử dụng sản phẩm đó.
Mỗi tính chất đợc biểu thị bởi các chỉ tiêu cơ, lý, hoá nhất định, có thể đo lờng
đánh giá đợc. Từ đó, ta so sánh giữa các sản phẩm với nhau trên cùng một tiêu chí
để nhận ra sản phẩm nào đạt chất lợng cao hơn. Điều này cho chúng ta thấy quan
điểm sai lầm khi cho rằng chất lợng sản phẩm là cái không thể đo lờng, đánh giá đ-
ợc.
Hệ thống chỉ tiêu đó bao gồm:
những sản phẩm đồng loại trên thị trờng.
Ngoài ra, để đánh giá, phân tích tình hình thực hiện chất lợng giữa các bộ
phận, giữa các thời kỳ sản xuất ta còn có các chỉ tiêu so sánh nh sau:
- Tỉ lệ sai hỏng để phân tích tình hình sai hỏng trong sản xuất:
+ Dùng thớc đo hiện vật để tính, ta có công thức:
Trong đó, số sản phẩm hỏng bao gồm sản phẩm hỏng có thể sửa chữa đợc và
sản phẩm hỏng không thể sửa chữa đợc.
+ Dùng thớc đo giá trị để tính, ta có công thức:
Trong đó, chi phí sản phẩm hỏng bao gồm chi phí về sản phẩm sửa chữa đợc
và chi phí về sản phẩm hỏng không sửa chữa đợc.
Trên cơ sở tính toán về tỉ lệ sai hỏng đó ta có thể so sánh giữa ký này với kỳ
trớc, hoặc giữa năm nay với năm trớc. Nếu tỉ lệ sai hỏng kỳ này so với kỳ trớc mà
nhỏ hơn tức là chất lợng kỳ này tốt hơn kỳ trớc và ngợc lại.
- Dùng thứ hạng chất lợng sản phẩm : để so sánh thứ hạng chất lợng sản
phẩm của kỳ này so với kỳ trớc ngời ta căn cứ vào mặt công dụng, thẩm mỹ và các
8
Tỷ lệ sai hỏng
SLSP sai hỏng
SLSP sai hỏng + SLSP tốt
=
x
100 (%)
x
100
(%)
Chi phí về sản phẩm hỏng
Giá thành công xưởng
của sản phẩm hàng hóa
Tỷ lệ sai hỏng
=
thì yêu cầu của ngời tiêu dùng cha cao. Họ cha quan tâm tới sản phẩm có chất lợng
cao. Nhng khi đời sống xã hội tăng lên thì đòi hỏi về chất lợng sản phẩm ngày
càng cao, ngoài tính năng sử dụng còn yêu cầu cả tính năng thẩm mỹ, an
toàn...Ngời ta sẵn sàng mua với giá cao để có đợc những sản phẩm ng ý.
9
=
=
ì
=
n
1i
n
1i
Qi
PkiQi
P
Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần phải sản xuất những sản phẩm có chất
lợng đáp ứng đợc nhu cầu của thị trờng. Để làm đợc việc này, doanh nghiệp cần
phải tiến hành nghiêm túc, thận trọng công tác điều tra nghiên cứu nhu cầu thị tr-
ờng, phân tích môi trờng KT XH, xác định chính xác nhận thức của khách
hàng, thói quen, truyền thống, phong tục tập quán, lối sống văn hoá, mục đích sử
dụng sản phẩm, khả năng thanh toán, ...nhằm đa ra những sản phẩm phù hợp với
từng loại thị trờng; có nh vậy doanh nghiệp mới đáp ứng đợc tốt nhất những yêu
cầu, đòi hỏi của từng loại khách hàng. Lúc này việc nâng cao chất lợng sản phẩm
mới đi đúng hớng.
Trình độ tiến bộ khoa học công nghệ :Trong thời đại ngày nay, sự tiến bộ
khoa học công nghệ có ảnh hởng mạnh mẽ và quyết định đến việc nâng cao
chất lợng sản phẩm . Nhờ những thành tựu khoa học mà các sản phẩm có đợc độ
trình ôxy hoá mạnh gây ra gỉ sét, xám xỉn...làm biến đổi hoặc giảm chất lợng sản
phẩm .
- Vi sinh vật, côn trùng chủ yếu tác động vào quá trình lên men, độ tơi sống
hay an toàn vệ sinh thực phẩm.
Nh vậy, các doanh nghiệp cần chú ý bảo quản sản phẩm của mình nhằm
tránh mọi sự giảm giá trị sản phẩm do các điều kiện môi trờng tự nhiên gây ra.
Thông qua việc hiểu rõ tính chất cơ, lý, hoá của sản phẩm để phòng tránh và giữ
gìn sản phẩm tốt hơn.
Nhân tố kinh tế xã hội :
- Vấn đề về kinh tế của ngời tiêu dùng cũng nh thói quen, tập quán sử dụng
sản phẩm cũng ảnh hởng mạnh đến chất lợng sản phẩm mà các nhà sản xuất phải
cố gắng đáp ứng. Khi mà mức thu nhập của ngời dân đợc nâng cao dẫn đến số tiền
dùng chi tiêu cho việc mua sắm sản phẩm phục vụ cho đời sống của họ cũng nâng
cao. Họ sẵn sàng trả giá cao để có đợc sản phẩm tốt nhất. Đối với các doanh
nghiệp sản xuất, họ có thể bán sản phẩm với giá cao, với điều kiện đáp ứng tốt nhất
những đòi hỏi của họ có nghĩa là chất lợng sản phẩm phải đảm bảo.
- Về mặt xã hội: Đối với ngời tiêu dùng có độ tuổi khác nhau, trình độ nhận
thức khác nhau, phong cách tiêu dùng sản phẩm khác nhau dễ gây ra trào lu mua
bán các loại sản phẩm khác nhau làm ảnh hởng đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp.
b> Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp.
Lực l ợng lao động trong doanh nghiệp : Đây là nhân tố có ảnh hởng quyết
định đến chất lợng sản phẩm. Dù trình độ công nghệ có hiện đại đến đâu nhân tố
con ngời vẫn đợc coi là nhân tố căn bản nhất tác động đến hoạt động quản lý và
nâng cao chất lợng sản phẩm. Bởi ngời lao động chính là ngời sử dụng máy móc
thiết bị để sản xuất ra sản phẩm. Bên cạnh đó, có rất nhiều tác động, thao tác phức
tạp đòi hỏi kỹ thuật khéo léo, tinh tế mà chỉ có con ngời mới có thể làm đợc.
Hiện nay, rất nhiều nhà kinh tế đã đề ra phơng hớng quản trị chất lợng dựa
trên nguyên tắc coi trọng yếu tố con ngời. Trình độ chuyên môn, tay nghề, kinh
nghiệm, ý thức trách nhiệm, tính kỷ luật và sự phối hợp hành động giữa các thành
doanh quan tâm đến vấn đề chất lợng. Trên cơ sở đó, các cán bộ quản lý tạo ra sự
phối hợp đồng bộ nhịp nhàng giữa các khâu, các yếu tố của quá trình sản xuất
nhằm mục đích cao nhất là hoàn thiện chất lợng sản phẩm. Trình độ của cán bộ
quản trị sẽ ảnh hởng đến khả năng xác định chính sách, mục tiêu chất lợng và cách
thức tổ chức chỉ đạo thực hiện chơng trình, kế hoạch chất lợng. Cán bộ quản lý
phải biết cách làm cho mọi công nhân hiểu đợc việc đảm bảo và nâng cao chất l-
ợng không phải là riêng của bộ phận KCS hay của một tổ công nhân sản xuất mà
nó phải là nhiệm vụ chung của toàn doanh nghiệp. Đồng thời, công tác quản lý
chất lợng tác động mạnh mẽ đến công nhân sản xuất thông qua chế độ khen thởng
hay phạt hành chính để từ đó nâng cao ý thức lao động và tinh thần cố gắng hoàn
thành tốt nhiệm vụ đợc giao.
III.2. Các biện pháp chủ yếu nâng cao chất lợng sản phẩm đối với các
doanh nghiệp
ứ ng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
12
Các doanh nghiệp sản xuất ở nớc ta có một điểm yếu cơ bản đó là trang thiết
bị máy móc lạc hậu, h hỏng nhiều, lao động thủ công vẫn chiếm tỉ lệ cao. Điều này
đã hạn chế sự phát triển sản xuất, làm giảm năng suất lao động cũng nh không đảm
bảo chất lợng sản phẩm. Vì lẽ đó, các mặt hàng sản phẩm sản xuất tại Việt Nam
rất khó tìm đợc chỗ đứng trên thị trờng thế giới. Hơn nữa, nhờ thành tựu khoa học
kỹ thuật mà hàng hoá đợc sản xuất với hàm lợng kỹ thuật cao do các nớc ngoài
thâm nhập vào thị trờng Việt Nam tác động mạnh mẽ đến tâm lý ngời tiêu dùng
theo hớng chất lợng cao và hiện đaị hơn. Giải pháp cơ bản nhng đặc biệt quan
trọng hiện nay là cần phải ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để
cải tạo toàn bộ nền kinh tế theo hớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Sản phẩm hàng hoá là kết quả của sự tác động của con ngời vào đối tợng lao
động thông qua các công cụ lao động. Việc ứng dụng rộng rãi khoa học kỹ
thuật trong lĩnh vực sản xuất, vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ ... trực tiếp tạo
điều kiện cho quá trình sản xuất có đợc các sản phẩm đạt chất lợng cao, hiện đại,
phù hợp với xu thế tiêu dùng. Đây là một hớng đi đạt hiệu quả nhất và cũng tạo đ-
nhân sản xuất trực tiếp đi đào tạo nâng cao tại các trờng đại học, cao đẳng và trung
học dạy nghề... theo từng đợt hợp lý không ảnh hởng đến công tác, sản xuất. Th-
ờng xuyên tổ chức các cuộc thi tay nghề để lựa chọn ngời làm gơng sáng trong lao
động và học tập để phát động phong trào thi đua, sản xuất trong toàn doanh
nghiệp. Thực hiện tốt điều này không những làm cho chất lợng sản phẩm đợc bảo
đảm, mà còn tạo ra năng suất lao động cao hơn giúp doanh nghiệp hoạt động ổn
định và từng bớc mở rộng thị trờng.
Tăng c ờng quản lý các lĩnh vực, đặc biệt là quản lý kỹ thuật.
Đội ngũ cán bộ quản lý là bộ phận cấp cao trong doanh nghiệp. Vì vậy, họ
phải là những ngời đi đầu trong các hoạt động, các phong trào hớng dẫn ngời lao
động hiểu rõ từng việc làm cụ thể. Ban giám đốc phải nhận rõ vai trò của mình
trong việc cải tiến và nâng cao chất lợng sản phẩm, từ đó, đề ra đờng lối chiến lợc,
từng bớc dìu dắt doanh nghiệp vơn lên. Bộ máy quản lý là yếu tố chủ yếu của quá
trình kiểm tra và kiểm soát. Bộ máy quản lý tốt là bộ máy phải dựa vào lao động
quản lý có kinh nghiệm, năng lực, có trách nhiệm đối với sự phát triển và tồn tại
của doanh nghiệp. Phải biết cách huy động khả năng của công nhân vào quá trình
cải tạo và nâng cao chất lợng sản phẩm, hợp tác khoa học kỹ thuật trong quá
trình sản xuất nhằm nâng cao khả năng công nghệ, trình độ quản lý và trình độ
sản xuất. Cán bộ quản lý phải đi sâu, đi sát hiểu rõ nhu cầu, nguyện vọng của ngời
công nhân và cố gắng đáp ứng càng đầy đủ càng tốt, phải có chế độ thởng phạt
nghiêm minh. Bộ máy quản lý phải làm cho mọi thành viên trong doanh nghiệp
hiểu đợc vấn đề nâng cao chất lợng sản phẩm là nhiệm vụ chung của mọi phòng,
ban cũng nh của tất cả các thành viên trong doanh nghiệp.
Nghiên cứu thị tr ờng để định h ớng chất l ợng sản phẩm.
Nhu cầu của con ngời là vô tận mà các doanh nghiệp dù cố gắng đến đâu
cũng khó có thể chiều lòng đợc đòi hỏi của ngời tiêu dùng. Do vậy, ta nên đi sâu
vào giải quyết một cách hài hoà nhất giữa những mong muốn của khách hàng với
khả năng sản xuất có thể đáp ứng đợc của doanh nghiệp. Để làm tốt điều này, các
doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trờng để phân đoạn thị trờng, từng loại khách
hàng có những yêu cầu, đòi hỏi khác nhau để có thể phục vụ tận tình, chu đáo hơn.
gồm hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn đặc trng về kinh tế kỹ thuật biểu thị mức
độ thoả mãn nhu cầu thị trờng, một hệ thống tổ chức điều khiển và hệ thống chính
sách khuyến khích phát triển chất lợng. Chất lợng đợc duy trì đánh giá thông qua
việc sử dụng các phơng pháp thông kê trong quản trị chất lợng.
Trớc đây, trong các doanh nghiệp công nghiệp ngời ta thờng coi công tác
quản lý chất lợng sản phẩm là một chức năng riêng cuả phòng KCS, các cán bộ
nhân viên của phòng này thờng xuyên giám sát, thanh tra, kiểm tra đánh giá chất l-
ợng sản phẩm. Từ đó phân loại chất lợng, gạt bỏ những sản phẩm không phù hợp
với yêu cầu. Đó là một quan niệm gây lãng phí vì nó làm cho doanh nghiệp đầu t
thời gian,nguyên vật liệu ... vào những sản phẩm hoặc dịch vụ mà không phải bao
giờ cũng đảm bảo đợc. Việc làm này không loại bỏ tận gốc đợc sai lầm trong sản
15
xuất, nó chỉ mang tính chất loại bỏ sản phẩm kém chất lợng. Do đó, quản trị chất l-
ợng theo kiểu này không phục vụ nhiều cho việc nâng cao chất lợng sản phẩm.
Quản trị chất lợng hiện đại cho rằng vấn đề chất lợng sản phẩm đợc đặt ra và giải
quyết trong phạm vi toàn bộ hệ thống bao gồm tất cả các khâu, các quá trình từ
nghiên cứu thiết kế đến chế tạo và tiêu dùng sản phẩm. Quản trị chất lợng là một
quá trình liên tục mang tính chất hệ thống thể hiện sự gắn bó chặt chẽ giữa doanh
nghiệp với môi trờng bên ngoài.
IV.2. Những yêu cầu chủ yếu trong quản lý chất lợng
- Chất lợng phải thực sự trở thành mục tiêu hàng đầu có vai trò trung tâm
trong hoạt động của các doanh nghiệp. Cần có sự cam kết, quyết tâm thực hiện của
mọi thành viên trong doanh nghiệp, đặc biệt quan trọng là sự cam kết của giám
đốc.
- Coi chất lợng là nhận thức của khách hàng. Mức độ thoả mãn nhu cầu
khách hàng chính là mức độ chất lợng đạt đợc. Khách hàng là ngời đánh giá, xác
định mức độ chất lợng đạt đợc chứ không phải các nhà quản lý hay ngời sản xuất.
- Tập trung vào yếu tố con ngời, con ngời là nhân tố cơ bản có ý nghĩa quyết
định đến tạo ra và nâng cao chất lợng sản phẩm và dịch vụ. Tất cả mọi ngời từ
giám đốc, các cán bộ quản lý và ngời lao động đều có vai trò và trách nhiệm về
Đây là giai đoạn đầu tiên của quản trị chất lợng. Hoạch định chất lợng chính
xác, đầy đủ sẽ giúp định hớng tốt các hoạt động tiếp theo bởi vì tất cả chúng đều
phụ thuộc vào các kế hoạch. Nếu kế hoạch ban đầu đợc xác định tốt thì sẽ cần ít
các hoạt động phải điều chỉnh và các hoạt động sẽ đợc điều khiển một cách có
hiệu quả hơn. Hoạch định chất lợng đợc coi là chức năng quan trọng nhất cần u
tiên hàng đầu hiện nay.
Hoạch định chất lợng là hoạt động xác định mục tiêu chất lợng sản phẩm.
Hoạch định chất lợng cho phép xác định mục tiêu, phơng hớng phát triển chất lợng
cho toàn công ty theo một hớng thống nhất. Tạo điều kiện khai thác, sử dụng có
hiệu quả hơn các nguồn lực và tiềm năng trong dài hạn góp phần giảm chi phí cho
chất lợng, nâng cao khả năng cạnh tranh, giúp các doanh nghiệp chủ động thâm
nhập và mở rộng thị trờng, đặc biệt là thị trờng thế giới.
Nội dung chủ yếu của hoạch định chất lợng bao gồm.
- Xây dựng chơng trình, chiến lợc và chính sách chất lợng và kế hoạch hoá
chất lợng.
- Xác định vai trò của chất lợng trong chiến lợc sản xuất. Cách tiếp cận đợc
sử dụng trong quá trình sản xuất hoặc tác nghiệp cần bổ sung cho chiến lợc tổng
quát của doanh nghiệp.
- Xác định những yêu cầu chất lợng phải đạt tới ở từng giai đoạn nhất định,
tức là phải xác định đợc sự thống nhất giữa thoả mãn nhu cầu thị trờng với những
điều kiện môi trờng kinh doanh cụ thể nhất định với chi phí tối u.
- Đề ra phơng hớng, kế hoạch cụ thể để thực hiện đợc những mục tiêu chất l-
ợng đề ra.
17
- Cuối cùng là xác định kết quả dài hạn của những biện pháp thực
hiện. Khi hình thành các kế hoạch chất lợng cần phải cân đối tính toán các nguồn
lực nh: lao động, nguyên vật liệu và nguồn tài chính cần thiết để thực hiện những
mục tiêu, kế hoạch. Dự tính trớc và đa chúng vào thành một bộ phận không thể
tách rời trong kế hoạch sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Tổ chức thực hiện .
- Phân tích các thông tin nhằm tìm kiếm và phát hiện các nguyên nhân dẫn
đến việc thực hiện đi chệch so với kế hoạch đặt ra.
Khi thực hiện kiểm tra các kết quả thực hiện kế hoạch cần phải đánh giá 2
vấn đề cơ bản sau:
- Sự tuân thủ các mục tiêu kế hoạch và nhiệm vụ đã đề ra. Đó là việc tuân
thủ các quy trình và kỷ luật công nghệ, duy trì và cải tiến các tiêu chuẩn tính khả
thi và độ tin cậy trong việc thực hiện kế hoạch chất lợng.
- Tính chính xác, hợp lý của bản thân các kế hoạch. Nếu mục tiêu không đạt
đợc có nghĩa là một trong hai hoặc cả hai điều kiện trên không đợc thoả mãn. Cần
thiết phải xác định rõ nguyên nhân để đa ra những hoạt động điều chỉnh khác nhau
cho thích hợp.
Có nhiều phơng pháp để kiểm tra CLSP nh: phơng pháp thử nghiệm, phơng
pháp cảm quan, phơng pháp dùng thử, phơng pháp chuyên gia, phơng pháp thống
kê.
Hoạt động điều chỉnh và cải tiến.
Hoạt động điều chỉnh nhằm làm cho các hoạt động của hệ thống doanh
nghiệp có khả năng thực hiện đựơc những tiêu chuẩn chất lợng đề ra, đồng thời
cũng là hoạt động đa chất lợng sản phẩm thích ứng với tình hình mới nhằm giảm
dần khoảng cách giữa những mong muốn của khách hàng và thực tế chất lợng đạt
đợc, thoả mãn nhu cầu của khách hàng ở mức cao hơn.
Các bớc công việc chủ yếu là:
- Xác định những đòi hỏi cụ thể về cải tiến chất lợng từ đó xây dựng các dự
án cải tiến chất lợng.
- Cung cấp các nguồn lực cần thiết nh tài chính, kỹ thuật, lao động.
- Động viên, đào tạo và khuyến khích các quá trình thực hiện dự án cải tạo
chất lợng.
Khi các chỉ tiêu không đạt đợc, cần phải phân tích tình hình nhằm xác định
xem vấn đề thuộc về kế hoạch hay việc thực hiện kế hoạch để tìm ra nguyên nhân
sai sót từ đó tiến hành các hoạt động điều chỉnh. Sửa lại những phế phẩm và phát
hiện những sai sót trong thực hiện bằng việc làm thêm giờ đều là những hoạt động
để ra những sản phẩm mới.
- Thử nghiệm và kiểm tra các phơng án nhằm chọn ra phơng án tối u
- Quyết định những đặc điểm đã lựa chọn. Các đặc điểm cuả sản phẩm thiết
kế phải đáp ứng đợc các yêu cầu sau:
+ Đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
+ Thích hợp với khả năng.
+ Đảm bảo tính cạnh tranh.
20
+ Tối thiểu hoá chi phí.
- Những chỉ tiêu chủ yếu cần kiểm tra là:
+ Trình độ chất lợng sản phẩm.
+ Chỉ tiêu tổng hợp về tài liệu thiết kế, công nghệ và chất lợng chi thức.
+ Hệ số khuyết tật của sản phẩm thử, chất lợng cho sản phẩm hàng loạt.
Quản trị chất l ợng trong khâu cung ứng:
Mục tiêu của quản trị chất lợng trong khâu cung ứng nhằm đáp ứng đúng
chủng loại, số lợng, thời gian, địa điểm và các đặc tính kinh tế kỹ thuật cần thiết
của nguyên vật liệu đảm bảo cho quá trình sản xuất tiến hành thờng xuyên, liên tục
với chi phí thấp nhất. Nó bao gồm các nội dung sau:
- Lựa chọn ngời cung ứng có đủ khả năng đáp ứng những đòi hỏi về chất l-
ợng vật t, nguyên liệu.
- Tạo lập hệ thống thông tin phản hồi chặt chẽ, thờng xuyên, cập nhật.
- Thoả thuận về việc đảm bảo chất lợng vật t cung ứng.
- Thoả thuận về phơng pháp kiểm tra xác minh.
- Xác định các phơng pháp giao nhận.
- Xác định rõ ràng, đầy đủ, thống nhất các điều khoản trong giải quyết
những trục trặc khiếm khuyết.
Quản trị chất l ợng trong khâu sản xuất:
Mục đích của quản trị chất lợng trong sản xuất là khai thác, huy động có
hiệu quả các quá trình công nghệ thiết bị và con ngời đã lựa chọn để sản xuất sản
phẩm có chất lợng phù hợp với tiêu chuẩn thiết kế. Giai đoạn này cần thực hiện các
phẩm.
Có thể nói, trong giai đoạn hiện nay quản trị chầt lộng có vai trò rất quan
trọng. Bởi vì quản trị chất lợng một mặt làm cho chất lợng sản phẩm hoặc dịch vụ
thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng và mặt khác nâng cao hiệu quả của hoạt
động sản xuất kinh doanh. Đó là cơ sở để chiếm lĩnh thị trờng, mở rộng thị trờng
tăng khả năng cạnh tranh về chất lợng, giá cả, củng cố và tăng cờng vị thế, uy tín
trên thị trờng. Quản trị chất lợng cho phép doanh nghiệp xác định đúng hớng sản
phẩm cần cải tiến, thích hợp hơn với những mong đợi của khách hàng cả về tính
hữu ích và giá cả.
Để nâng cao chất lợng sản phẩm và dịch vụ các doanh nghiệp có thể tập
trung vào cải tiến công nghệ hoặc sử dụng công nghệ mới hiện đại hơn. Hớng đi
này rất quan trọng nhng gắn với chi phí ban đầu lớn và nếu quản lý việc đổi mới
máy móc công nghệ không tốt sẽ gây ra lãng phí lớn. Mặt khác có thể nâng cao
chất lợng trên cơ sở giảm chi phí hoàn thiện và tăng cờng công tác quản lý chất l-
ợng. Chất lợng sản phẩm đợc tạo ra từ quá trình sản xuất. Các yếu tố lao động,
công nghệ và con ngời kết hợp chặt chẽ với nhau theo những hình thức khác, tạo
thành những sản phẩm, dịch vụ khác. Tăng cờng công tác quản lý chất lợng sẽ
giúp doanh nghiệp xác định đầu t đúng hớng, khai thác quản lý sử dụng công
22
nghệ, con ngời có hiệu quả hơn. Đặc biệt yếu tố sáng tạo của con ngời trong việc
cải tiến không ngừng chất lợng sản phẩm, dịch vụ. Đây là lý do vì sao quản trị chất
lợng đợc đề cao trong những năm gần đây.
Phần II. Phân tích tình hình chất lợng sản phẩm ở
Công ty May 40.
I. Một số đặc điểm chủ yếu của công ty.
I.1. Lịch sử hình thành và phát triển :
Sau chiến thắng thực dân Pháp xâm lợc năm 1954, miền Bắc nớc ta hoàn
toàn giải phóng, còn miền Nam vẫn phải chiến đấu chống lại đế quốc Mỹ. Để phục
vụ cho chiến trờng, chi viện cho miền Nam và thực hiện nhiệm vụ giải phóng cho
đất nớc thống nhất tổ quốc. Năm 1955, theo quyết định của tổng cục hậu cần quân
ờng chính của xí nghiệp. Do vậy xí nghiệp mất luôn bạn hàng này phải tìm bạn
hàng mới, sản xuất sản phẩm mới.
- Năm 1991, xí nghiệp vay ngân hàng 3 tỉ đồng để cải tạo nâng cấp nhà x-
ởng, xây dựng thêm các khu nhà mới, trang bị thêm máy móc thiết bị, đổi mới
công nghệ để đáp ứng đợc đỏi hỏi mới của sản phẩm ngày càng cao hơn, tốt hơn,
tạo ra cơ cấu sản phẩm mới, đa dạng về chủng loại, đạt chất lợng cao.
- Ngày 10 11- 1992, theo công văn số 2715/QĐUB của uỷ ban nhân dân
thành phố Hà Nội, đổi tên Xí nghiệp may X40 thành Xí nghiệp may 40 Hà Nội
thuộc sở công nghiệp Hà Nội quản lý với các ngành nghề kinh doanh chủ yếu.
+ Công nghiệp dệt thêu mà số 0115.
+ Công nghiệp may mặc mã số 0116.
+ Tổ chức doanh nghiệp theo hình thức : hạch toán độc lập.
24
- Ngày 4 5 1994, căn cứ theo quyết định 741/QĐUB của ủy ban nhân
dân thành phố Hà Nội, đổi tên Xí nghiệp may 40 thành Công ty May 40 với nhiệm
vụ chuyên sản xuất mặt hàng may mặc trong và ngoài nớc. Để thực hiện nhiệm vụ
công ty đã đầu t 10 tỷ đồng để trang bị thêm máy móc thiết bị hiện đại nh máy 2
kim, may vắt sổ, máy bổ sợi, đặc biệt trang bị thêm một dàn máy giác vi tính.
- Giai đoạn từ năm 1994 đến nay : công ty tiếp tục đầu t thêm nhiều thiết bị
hiện đại, mở rộng thị trờng xuất khẩu. Đồng thời, công ty chú trọng tới công việc
đào tạo tay nghề cho công nhân, hàng năm công ty đều tổ chức thi thợ giỏi, tạo
điều kiện cho cán bộ công nhân viên có năng lực đi hợc ở các trờng trung cấp, đại
học, để nâng cao trình độ quản lý , tay nghề cho cán bộ công nhân viên.
- Sau 5 năm thực hiện đổi mới cơ chế, chính sách Công ty May 40 đã có cơ
sở hạ tầng của một đơn vị công nghiệp tơng đối hiện đại, thích ứng với yêu cầu
của nền kinh tế thị trờng. Bớc đầu, công ty đã có thị trờng tơng đối ổn định, đời
sống của công nhân viên trong công ty ngày càng đợc cải thiện.
Trong khoảng thời gian từ 1995 1999 là thời kỳ có nhiều biến động lớn
về kinh tế cả trong nớc, khu vực và trên thế giới. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ khu vực và khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hởng bất lợi đấn thành phố, dẫn
u
t
N
ộ
p
n
g
â
n
s
á
c
h
G
i
á
t
r
ị
k
i
m
n
g
ạ
ì
n
h
q
u
â
n
/
L
Đ
/
t
h
á
n
g
T
ê
n
c
h
ỉ
t
i
ê
u
T
ỷ
0
$
N
g
ờ
i
1
0
0
0
đ
ồ
n
g
Đ
ơ
n
v
ị
5
,
1
1
2
0
,
5
0
8