Tài liệu Đề tài "Phương hướng và giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và công tác quản lý chất lượng ở Công ty bánh kẹo Hải Hà" - Pdf 87



Luận văn Đề Tài:Phương hướng và giải pháp
góp phần nâng cao chất lượng
và công tác quản lý chất lượng ở
Công ty bánh kẹo Hải Hà
LỜI MỞ ĐẦU
Không còn nghi ngờ gì nữa, hiện nay cạnh tranh bằng chất lượng sản
phẩm đã thắng thế so với cạnh tranh bằng giá cả trước đây. Và cũng chẳng
còn lý do gì để chất lượng sản phẩm không trở thành một vũ khí hay con bài
quyết định sự phát triển và thành công của các doanh nghiệp trên thương
trường.
Đất nước ta đã chia tay với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp để chuyển
mình đón nhận cơ chế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý vĩ
mô của Nhà nước. Chính từ các thời khắc ấy, nền kinh tế nước ta đã trở
thành một cơ thể sống mới. Luồng sinh khí đó đã tiếp lực cho mọi doanh

tổ chức quản lý kém làm sao có thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng
cao để lưu thông trên thị trường. Đồng nghĩa với các sản phẩm có chất
lượng thấp là con đẻ của những máy móc thiết bị, công nghệ lạc hậu sẽ diệt
vong, doanh nghiệp sẽ phải đóng cửa sản xuất.
Thêm vào đó, mức sống của con người ngày một cao nhu cầu ngày một
đa dạng và phong phú. Họ luôn có xu hướng tiêu dùng những sản phẩm có
giá trị sử dụng, giá trị thẩm mỹ cao chứ không phải sản phẩm có giá rẻ, chất
lượng thấp. Lại một lần nữa khẳng định sự cần thiết phải nâng cao chất
lượng sản phẩm cho các doanh nghiệp.
Nhận thức sâu sắc về vấn đề trên, các doanh nghiệp đã tìm cho mình
những bước đi thận trọng với hàng loạt các chiến lược, chính sách và giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của mình để tăng năng lực cạnh
tranh, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Hoà chung dòng chảy
đó, Công ty bánh kẹo Hải Hà cũng không phải là một ngoại lệ. Ban lãnh đạo
Công ty đã đưa ra các chính sách chất lượng hợp lý luôn coi chất lượng sản
phẩm là trên hết, chất lượng sản phẩm có ý nghĩa sống còn đối với doanh
nghiệp.
Chúng ta đều thấy vấn đề nhạy cảm này đã được nhiều công trình khoa
học nghiên cứu khai thác với nhiều giác độ khác nhau từ xa xưa, song không vì thế mà nó trở nên nguội lạnh mà ngược lại nó luôn mang tính thời sự
nóng bỏng. Có lẽ không ai trong xã hội lại bàng quan trước "điểm nóng" -
Chất lượng.
Là một sinh viên ngành quản trị kinh doanh nhận thức được tầm quan
trọng của vấn đề trên, với kiến thức đã được đào tạo trong nhà trường cùng
với sự tích luỹ kinh nghiệm của bản thân và đặc biệt qua đợt tập học tập
thực tiễn tại Công ty bánh kẹo Hải Hà em đã mạnh dạn chọn đề tài:
"Phương hướng và giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và công
tác quản lý chất lượng ở Công ty bánh kẹo Hải Hà".

ta có thể coi chất lượng mang tính tương đối, nó nằm trong sự chi phối của
rất nhiều yếu tố như: kinh tế – xã hội, kỹ thuật, tự nhiên, môi trường hay cả
những thói quen của từng người.
Song dù có xem xét vấn đề này ở góc độ nào đi nữa, chúng ta cũng đều
nhất trí với nhau một điều là nhờ có sự tiến bộ nhanh chóng của các ngành
khoa học tự nhiên, xã hội mà ngày càng được hoàn thiện hơn, chính xác,
khoa học hơn. Và tất nhiên chúng ta phải có một quan niệm đúng đắn, chính
xác về chất lượng và chất lượng sản phẩm thì mới có thể đảm bảo cho hoạt
động thực tiễn về quản lý chất lượng một cách có hiệu quả. Nếu như cái
nhìn bị sai lầm, mơ hồ sẽ không biết quản lý cái gì và quản lý như thế nào.
Để hiểu rõ vấn đề này chúng ta hãy tiếp nhận một số khái niệm khác nhau
về chất lượng và chất lượng sản phẩm.
1. Chất lượng là gì ?
Theo Emanuel Cantơ( nhà triết học Đức) cho rằng: “ chất lượng là hình
thức quan toà của sự việc”.
Điều đó cho thấy mội sự việc hay kết quả của những sự việc hữu hình hay
vô hình thì cũng phải chiụ một sự chi phối chung mang tính tất yếu khách
quan là chất lượng. Mọi kết quả của các quá trình không mang trong mình
đặc tính chất lượng thì quá trình đó không có lý do để tồn tại. Nhìn chung theo quan điểm triết học chất lượng là một phần tồn tại bên
trong của các sự vật hiện tượng.
Còn trong từ điển Tiếng Việt ( 1994) thì chất lượng là cái tạo nên phẩm
chất giá trị của một con người, một sự vật, một sự việc.
Điều này cho thấy chất lượng mang một ý nghĩa rất rộng và bao trùm lên
mọi hình thái tồn tại của thế giới vật chất, kể cả hữu hình và vô hình. Xem
xét vần đề này vi mô hơn trong sản phẩm hàng hóa, chúng ta cũng khó có
thể đưa ra một khái niệm tuyệt đối chính xác. Vì như đã nói ở trên, chất
lượng hay chất lượng sản phẩm luôn thay đổi theo các yếu tố tác động và vì

3. Theo khuynh hướng thoả mãn nhu cầu (Quan điểm của tổ chức
kiểm tra chất lượng châu Âu – European Organization For Quality Control):
“ Chất lượng của sản phẩm là năng lực của một sản phẩm hoặc của một dịch
vụ thoả mãn những nhu cầu của người sử dụng”.
4. Theo tiêu chuẩn AFNOR 50-109 : “ Chất lượng sản phẩm là năng
lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ thoả mãn những nhu cầu của người
sử dụng”.
5. Theo J.Jvan(Mỹ) “ Chất lượng sản phẩm là sự thoả mãn nhu cầu thị
trường với chi phí thấp nhất”.
Hai quan niện này phản ánh chất lượng sản phẩm hàng hoá phải vừa
phù hợp với người tiêu dùng lại gắn với mục tiêu của các nhà sản xuất tức cả
hai bên đều tăng lợi ích của mình khi sản xuất hay tiêu dùng những sản
phẩm có chất lượng cao.
6. Theo Oxford Pocket Dictionary “ Chất lượng là mức độ hoàn thiện,
là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, đấu hiệu đặc thù, các dữ kiện
thông số cơ bản”.
7. Theo Johns. Oakland: chất lượng chỉ là sự đáp ứng yêu cầu. Điều này
cũng đã được nhiều tác giả đề cập như: Juran, BS4778, 1987/ISO 8402/ từ
vựng chất lượng ; Feigenbaum; Gost...Như vậy, chất lượng sản phẩm có
nhiều ngụ ý rộng lớn, đó là số lượng của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, việc
giao hàng độ tin cậy, lợi ích chi phí,...Ta có thể lưu ý ở đây là khách hàng có thể là người tiêu dùng cuối cùng mà cũng có thể trong nội bộ công ty như
các phòng ban, công đoạn vừa là khách hàng của người này lại vừa là người
cung ứng cho người khác.
8. Theo quan niệm CN, KT-XH( kiểm tra chất lượng hàng hoá HN
1979): “ Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những tính chất đặc trưng của sản
phẩm, thể hiện mức độ thoả mãn những nhu cầu đã định trước cho nó trong
điều kiện xác định về kinh tế, kỹ thuật và xã hội”.

được hoàn thành theo một trình tự nhất định với nhiều nghiệp vụ khác nhau
mà nếu một sự yếu kém bất kỳ nào trong trình tự ấy sẽ trực tiếp làm ảnh
hưởng đến chất lượng sản phẩm. Điều này đã được các học giả phân tích
một cách chi tiết các công đoạn phải được quản lý, thực hiện theo một chu
trình khép kín, vì sản xuất bắt nguồn từ nhu cầu thị trường và cũng quay trở
về thị trường để kiểm chứng và tất nhiên chất lượng sản phẩm cũng được
hình thành trong chu trình đó. Ta có thể minh hoạ các giai đoạn trong 3 phân
hệ: Nghiên cứu, thiết kế, sản xuất- tiêu dùng.
Sơ đồ 1: VTCL ISO 9004- 87, TCVN 5204-90.
Nghiên cứu thị
trường
1
1
9
8
7
6
5
4
3
2
1
Nghiên cứu, thiết kế,
triển khai

Cung cấp vật tư
Kế hoạch hoá các
quá trình
Sản xuất
Thử nghiệm, kiểm

doanh mà doanh nghiệp đặt ra thì các công việc về sau mới có điều kiện
hoàn thành nhiệm vụ của mình. Vì vậy phòng Marketing phải sâu sát với thị
trường để phát hiện kịp thời sự thay đổi của nhu cầu và thiết lập mối quan hệ
gắn kết với phòng thiết kế sản phẩm.
Thiết kế sản phẩm là một quá trình từ xây dựng, quy định chất lượng sản
phẩm, xác định nguồn nguyên vật liệu cho tới thị trường tiêu thụ.
8
1
Nghiên
Thiết kế
Triển khai
Sản xuất
Kiểm
tra bao
Bán
hng
Trưng cầu
ý kiến
V/c, dự
trữ
2
3
4
5
6
7 Sau khi chúng ta thực hiện song nhiệm vụ nghiên cứu thì phòng thiết kế
sẽ vạch ra những thông tin chi tiết hơn về sản phẩm đó tạo nên một mẫu sản

3.3. Phân hệ sau sản xuất (tiêu dùng ).
Nếu như trước đây người sản xuất chỉ tập chung nỗ lực của mình vào giai
đoạn(phân hệ ) trước sản xuất và khi sản xuất. Thì nay, phân hệ sau sản xuất
được doanh nghiệp rất quan tâm vì người ta không thể phủ nhân tầm quan
trọng lớn lao của nó, các quá trình cơ bản của phân hệ này bao gồm:
Vận chuyển sản phẩm sang mạng lưới lưu thông, tổ chức dự trữ bảo quản.
Các kho hàng tiếp nhận sản phẩm đồng thời qua đó có sự kiểm tra trách
nhiệm cả người giao hàng về số lượng và chất lượng. Do đó bộ phận này
ngoài chức năng dự trữ còn là một phòng tuyến ngăn ngừa hàng kém chất
lượng lọt vào mạng lưới phân phối.
Bán hàng, dịch vụ kĩ thuật, bảo quản, hướng dẫn sử dụng. Sẽ chưa có cơ
sở để chắc chắn rằng người tiêu dùng sẽ khai thác triệt để tính năng công
dụng mà sản phẩm mang laị nếu như thiếu công tác này. Quá trình di chuyển
hàng hoá từ nhà sản xuất, qua các kênh phân phối rồi tới người tiêu dùng
chịu tác động nhiều của các nhân tố khách quan đặc bịêt những mặt hàng
lương thực, thực phẩm, hàng dễ hỏng, dể vỡ... Ngày nay với sự chi phối của
cơ chế thị trường, các doanh nghiệp luôn luôn tăng cường công tác dịch vụ
sau bán hàng(After Sale) và nó đã thực sự trở thành một vũ khí cạnh tranh
có hiệu quả. Chính nhờ nó mà sản phẩm phát huy hết được giá trị sử dụng,
người tiêu dùng dễ dàng khai thác sản phẩm một cách tối ưu, nâng cao uy
tín của doanh nghiệp trên thị trường.
Và cuối cùng là quá trình trưng cầu ý kiến khách hàng về chất lượng, số
lượngcủa sản phẩm, lâp dự án cho bứơc sau...
Các quá trình đó cứ lặp lại thành những chu trình khác nhau.Trong suốt
quá, trình chất lượng sản phẩm sẽ không ngừng được cải tiếnvà nâng cao...
Do đó, quản lý chất lượng đi từ thị trường và trở về thị trường, lần lặp lại
sau phủ định lần trước nhưng ở mức hoàn hảo hơn. 4.
Trong đó:
P: là hiệu năng hoặc kết quả
B: là sự mong đợi hay nhu cầu của người tiêu dùng.
Ta thấy thường thì tỷ số P/B <1. Nếu Q=1 thì coi như nhu cầu của người
tiêu dùng được hoàn toàn thoả mãn.
Chất lượng sản phẩm phải có độ an toàn và tin cậy đối với người tiêu
dùng trong quá trình sử dụng sản phẩm hay dịch vụ đó.
4.4. Chất lượng là vấn đề luôn được đặt ra ứng với mọi trình độ sản
xuất.
Khi khoa học kĩ thuật thay đổi sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình
sản xuất và dẫn đến chất lượng sản phẩm cũng theo đó mà tăng lên. Do đó,
ứng với trình độ sản xuất nào sẽ có một mức độ chất lượng nhất định.
Đây là đặc điểm phải được các doanh nghiệp quan tâm để không ngừng
nắm bắt những tiến bộ của khoa học công nghệ đưa vào thực tế sản xuất. Có
như vậy sản phẩm mới có năng lực cạnh tranh trên thị trường.
Từ các đặc điểm trên ta thấy sự cần thiết phải đánh giá đúng mức chất
lượng sản phẩm, so sánh với nhu cầu của người tiêu dùng để sản phẩm luôn
mang lại tối đa lợi ích cho người tiêu dùng và lợi nhuận thu được là lớn
nhất. Đồng thời phải xem xét đến sự thay đổi của môi trường ngành kinh tế -
kỹ thuật để có mức chất lượng hợp lý.
5.

Sự phân loại chất lượng sản phẩm - ý nghĩa và mục đích.
5.1. Chất lượng thiết kế.
Chất lượng thiết kế của sản phẩm là giá trị các chỉ tiêu đặc trưng của sản
phẩm được phác thảo qua văn bản, trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thị trường,
các đặc điểm của sản xuất tiêu dùng, đồng thời có so sánh với chỉ tiêu chất
lượng các mặt hàng tương tự cùng loại của nhiều hãng nhiều công ty.

Để xác định chính xác chất lượng cho phép nhà sản xuất phải căn cứ vào
năng lực sản xuất thực tế, phương pháp tổ chức quản lý của doanh nghiệp và
các yếu tố vĩ mô khác. 5.5.
Chất lượng tối
ưu.
Chất lượng tối ưu là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đạt được
mức độ hợp lý nhất trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định, hay nói cách
khác sản phẩm hàng hoá đạt mức chất lượng tối ưu là các chỉ tiêu chất lượng
sản phẩm thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng, có khả năng mang lại hiệu quả
kinh doanh cao.
Các hãng luôn tìm cách đưa chất lượng của mình về mức tối ưu, song
không phải dễ dàng gì vì tại đó họ phải đối mặt với những thách thức trong
và ngoài doanh nghiệp.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này ta hãy xem xét mối tương quan giữa giá cả
của chất lượng sản phẩm và giá trị chất lượng (giá thành) của sản phẩm qua
sơ đồ sau:

Sơ đồ 3: Quan hệ giữa giá trị chất lượng và giá cả.


G
gc

G
gt
mức cao. Do đó muốn nâng cao chất lượng thì phải tăng cường đầu tư
nghiên cứu, thiết kế, triển khai và do vậy đường cong có xu hướng đi lên.
Nếu như cùng điều kiện sản xuất thì mức chất lượng là có giới hạn nhất định
dù rằng chi phí sản xuất có tăng. Các hãng cần phải quan tâm tới yếu tố nhu
cầu có khả năng thanh toán, tập quán tiêu dùng... của dân cư vì nếu cứ tăng
chất lượng sản phẩm lên mãi sẽ phải đặt giá cao và như vậy với mức thu
nhập hạn chế thì cầu về hàng hoá này có thể bằng 0, tăng chi phí là vô nghĩa
và dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh. Tại các điểm trước M
1
cl
và sau M
3
cl
thì
cả nhà sản xuất và người tiêu dùng đều không muốn cung cấp hay tiêu dùng
những sản phẩm đó. Và ta thấy giá cả tăng chậm dần và có thể trở nên bão
hoà sau M
*
cl
(mức chất lượng tối ưu ).
Mức chất lượng tối ưu thể hiện lợi thế so sánh của doanh nghiệp, mỗi lần

gt
thể hiện chi phí sản xuất để tạo ra mức chất
lượng cần thiết gồm 3 yếu tố cơ bản cấu thành, đó là:
1. Chi phí cho phần sản xuất sản phẩm như nguyên, nhiên vật liệu, khấu
hao máy móc nhà xưởng, lao động... được tính trực tiếp vào giá thành sản
phẩm.
2. Chi phí cho kiểm tra, đánh giá, ngăn ngừa hư hỏng sản phẩm và loại trừ
những nguyên nhân có thể làm giảm mức chất lượng.
Các chi phí cho kiểm tra, đánh giá chất lượng gồm: Chi phí chuẩn bị cơ
sở kiểm tra. Giá trị các thiết bị đo lường và kiểm tra, giá trị nguyên vật liệu
và thiết bị thử nghiệm....
Chi phí ngăn ngừa và loại trừ những nguyên nhân gồm có: Chi phí cho tổ
chức kế hoạch hoá chất lượng sản phẩm thiết kế và chuẩn bị thiết bị kiểm
tra; chi phí đào tạo cán bộ; chi phí kiểm tra sơ bộ và phân loại người cung
cấp nguyên vật liệu, chi tiết...
3. Chi phí cho những tổn thất do sản phẩm hỏng, phế phẩm như sửa chữa
lại chế tạo lại... hay cả những chi phí khắc phục hậu quả cho người tiêu dùng
do sản phẩm kém chất lượng gây ra.
Chi phí tổn thất này nhiều khi là rất lớn cả về vật chất và phi vật chất đối
với doanh nghiệp, như giảm uy tín của doanh nghiệp, bất đồng nội bộ doanh
nghiệp ..., nguyên vật liệu, lao động, thời gian hoạt động máy móc...
Ta có thể thấy hai khoản chi phí 2 và 3 nằm trong khoảng 30-:- 40% và
60-:- 70% (*).
Thực tiễn cho chúng ta cái nhìn khá chính xác về việc kiểm tra sản phẩm
không mang lại kết quả khả quan, mà ngược lại con đường hiệu quả nhất lại
là tăng chi phí phòng ngừa hư hỏng. Từ đó giảm chi phí cho kiểm tra và
giảm tổn thất phế phẩm và các dịch vụ khác.
6. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.

tâm tới yếu tố máy móc thiết bị mà còn phải có những điều chỉnh kịp thời về
nguyên vật liệu để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả cạnh tranh
cho sản phẩm của mình.
6.1.3. Hiệu lực của vơ chế quản lý.
Như ta đã nói trong phần mở đầu, hiện nay NHÀ NƯỚC ta quản lý vĩ mô
nền kinh tế thị trường, sự quản lý ấy được thực hiện bằng các phương pháp
khác nhau như kinh tế - kĩ thuật, hành chính xã hội, giáo dục- tâm lý...các
phương pháp chung hoạch định đó được cụ thể thành các chính sách, quy
định nhằm phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá....
Đây là một đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chất lượng sản phẩm, đảm
bảo ổn địnhvà phát triển sản xuất, tạo dựng và đảm bảo uy tín, quyền lợi của
doanh nghiệp, cũng như người tiêu dùng.
Nhà nước còn đặt ra những quy định chi tiết về mức chất lượng và tiêu
chuẩn chất lượng tối ưu. Xác định cơ cấu kinh tế, cơ cấu mặt hàng điều này
có tác động lớn tới chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đưa
ra một hệ thống giá cả quy định cho từng mặt hàng, ngành hàng như chính
sách giá trần, giá sàn để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng.
6.1.4. Các yếu tố văn hoá, phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng.
Đây luôn được coi là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng
sản phẩm. Ở từng khu vực thị trường sẽ có nhu cầu không giống nhau vì nó
chịu sự chi phối của sở thích tiêu dùng quốc gia, dân tộc; tập quán, trình độ,
văn hoá của người dân sẽ là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới sức tiêu thụ
của sản phẩm với các mức chất lượng khác nhau. Chính vì lẽ đó, doanh
nghiệp phải thực hiện tốt công tác Marketing để xác định chính xác nhu cầu
về chất lượng ở từng đoạn thị trường, có như vậy mới có cơ sở để đảm bảo
rằng sản phẩm sẽ được tiêu thụ trên thị trường mục tiêu của doanh nghiệp.
6.2. Các nhân tố tác động tới chất lượng sản phẩm ở tầm vi mô.
Sản phẩm là kết quả của một quá trình biến đổi, do vậy chất lượng sản
phẩm cũng là kết quả của quá trình. Mà một quá trình sản xuất lại gồm
Muốn có sản phẩm tốt thì chất lượng nguyên vật liệu là một trong những
yếu tố hình thành chất lượng sản phẩm phải có chất lượng cao. Đây là yếu tố
cơ bản của đầu vào có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng sản phẩm. Vì nó
tạo nên thực thể của sản phẩm, về mặt giá trị nó thường chiếm 60-:- 80% tỷ
trọng trong giá thành sản phẩm.
Các nhà sản xuất tiêu thụ cần tạo ra cho mình những cơ sở cung cấp
nguyên vật liệu ổn định, có chất lượng tốt, đảm bảo thời gian, đủ số lượng
và cơ cấu. Giữa hai bên phải có hợp đồng cam kết về quyền lợi của mình
trong việc thực hiện hợp đồng. Từ đó sẽ đảm bảo chất lượng sản phẩm, tiến
độ sản xuất đúng kế hoạch, cũng như giảm được nhiều thủ tục giao nhận,
giảm chi phí sản xuất mà vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm.
6.2.4. Nhóm yếu tố kỹ thuật công nghệ- Thiết bị (Machines).
Nếu như 3 yếu tố trên đều tốt cũng chưa đảm bảo rằng sản phẩm làm ra
có chất lượng tốt khi kỹ thuật, thiết bị- Yếu tố hình thành nên chất lượng sản
phẩm ở trạng thái yếu kém.
Máy móc, thíêt bị phải đảm bảo yêu cầu như: Đáp ứng tiến độ sản xuất,
việc ngừng nghỉ vì trục trặc nằm trong giới hạn cho phép, độ chính xác
cao,.... Về tổ chức phải có sự kiểm tra hoạt động của máy móc, bố trí vị trí
cũng như thứ tự ưu tiên làm các công việc một cách hợp lý.
Theo quan điểm CNH gắn liền với HĐH chúng ta phải đi tắt đón đầu
những công nghệ sản xuất mới thì sản phẩm của chúng ta mới có chất lượng
tốt. Song cần lưu ý, công nghệ quá hiện đại sẽ gây lãng phí về vốn, công
suất khai thác,... điều này sẽ không phù hợp với các doanh nghiệp nước ta
khi vấn đề vốn đang là yếu tố gây trở lực lớn nhất.
Quá trình phân chia các yếu tố trên chỉ mang tính tương đối vì bản thân
chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, chúng tác động biện chứng với nhau
trong một thể thống nhất- đó là một quy trình sản xuất.

Nhìn chung, nguyên vật liệu mua vào, tình trạng máy móc thiết bị khác
nhau, các thao tác của công nhân có sai lệch kèm theo sự quản lý lỏng lẻo
đều đan xen vào nhau gây lên thứ sản phẩm kém phẩm chất. Để hạn chế
điều này, doanh nghiệp phải có giải pháp đồng bộ, lâu dài tiến tới sản phẩm
làm ra không lỗi( Zezo defects) để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Trên đây là một số nhân tố quyết định ảnh hưởng tới chất lượng sản
phẩm. Ngoài ra, ta còn thấy một số yếu tố khác cũng có ít nhiều ảnh hưởng
tới chất lượng sản phẩm như: Giá cả của hàng hoá( thể hiện chi phí quyết
định giá thành và giá cả của sản phẩm. Đến lượt nó, giá cả phải có phù hợp
với chất lượng sản phẩm, có đủ lực kích thích nâng cao chất lượng sản phẩm
); thu thập và xử lý thông tin...
7.
Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm.
Các sản phẩm được sản xuất ra và được tiêu dùng đều phải đạt mức yêu
cầu nào đó về chất lượng. Mức độ yêu cầu này phụ thuộc vào: Thứ nhất là
yêu cầu của khách hàng, sau nữa là các quy định về chất lượng sản phẩm
của Nhà nước, tiếp đó là trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật hay trình
độ sản xuất và trình độ nhận thức của dân cư.
Người tiêu dùng luôn có nhu cầu hiện tại và nhu cầu tương lai. Nhu cầu
hiện tại và tương lai đều phụ thuộc vào cả khả năng sản xuất của nhà sản
METHODS
MEN
MATERIAL
S

MACHINES MEN
Quy tắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status