Phương hướng và giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và công tác quản lí chất lượng công ty Bánh Kẹo Hải Hà - Pdf 23

Lời mở đầu
Không còn nghi ngờ gì nữa, hiện nay cạnh tranh bằng chất lợng sản phẩm
đã thắng thế so với cạnh tranh bằng giá cả trớc đây. Và cũng chẳng còn lý do
gì để chất lợng sản phẩm không trở thành một vũ khí hay con bài quyết định
sự phát triển và thành công của các doanh nghiệp trên thơng trờng.
Đất nớc ta đã chia tay với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp để chuyển
mình đón nhận cơ chế thị trờng theo định hớng XHCN có sự quản lý vĩ mô
của Nhà nớc. Chính từ các thời khắc ấy, nền kinh tế nớc ta đã trở thành một cơ
thể sống mới. Luồng sinh khí đó đã tiếp lực cho mọi doanh nghiệp khí thế của
quá trình thi đua sản xuất rầm rộ khắp trên phạm vi cả nớc. Bớc ngoặt vĩ đại
đó cũng đã đánh dấu một chặng đờng đầy phong ba mà các hãng phải đối mặt.
Đó là mặt trận cạnh tranh cam go, khốc nghiệt đã làm cho không ít doanh
nghiệp lâm vào cảnh lao đao thậm chí sập tiệm. Chúng ta đều biết rằng cạnh
tranh có nghĩa là đào thải, vậy cái gì đã giúp cho các doanh nghiệp không
những tồn tại lại sau những cơn lốc của cạnh tranh mà còn phát triển không
ngừng khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế. Phải chăng, sản phẩm
của họ có phép màu nhiệm? Vâng, đó chính là sản phẩm của họ có chất lợng.
Và rồi việc gì đến cũng sẽ đến, chúng ta đang sống trong thời kỳ của sự mở
cửa hội nhập nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh khu vực hoá, quốc tế hoá
nền kinh tế toàn cầu, lại một lần nữa các doanh nghiệp chúng ta có thêm vận
hội và thời cơ mới trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trờng,
chuyển giao công nghệ hiện đại cũng nh phơng pháp tổ chức quản lý tiền tiến.
Nhờ đó năng suất, chất lợng sản phẩm không ngừng đợc nâng cao. Song mọi
tấm huân chơng đều tồn tại mặt trái. Hội nhập là vận hội đấy, thời cơ đấy nh-
ng thách thức, nguy cơ cũng đang đón chờ, rình rập sẵn sàng nhấn chìm các
doanh nghiệp trong nớc. Hàng hoá có chất lợng cao đang tràn ngập trên thị tr-
ờng với giá rẻ, mẫu mã lịch sự, sang trọng chất lợng xem nh hoàn hảo đã và sẽ
lấn lớt các sản phẩm trong nớc. Để doanh nghiệp ta không bị thua ngay trên
sân nhà thì sản phẩm của ta phải đạt chất lợng tức phải có sự quản lý chất lợng
một cách hết sức nghiêm túc.
Tiếp đó là sự tiến bộ không ngừng của KH-KT, hàng ngày có cả trăm phát

Nội dung của đề tài đợc trình bày qua 3 chơng:
Chơng I- Cơ sở lý luận của chất lợng và quản lý chất lợng sản phẩm của
doanh nghiệp.
Chơng II-Thực trạng chất lợng và công tác quản lý chất lợng sản phẩm ở
Công ty bánh kẹo Hải Hà.
Chơng III- Phơng hớng và giải pháp duy trì và nâng cao chất lợng sản phẩm
của Công ty bánh kẹo Hải Hà.
Để đảm bảo tính khoa học và lô-gic hợp lý của vấn đề, đề tài đợc xây dựng
trên cơ sở các phơng pháp nghiên cứu sau:
-Phơng pháp duy vật biện chứng
-Phơng pháp duy vật lịch sử
-Phơng pháp phân tích, so sánh và quan điểm hệ thống
-phơng pháp quy nạp, diễn giải...
Đây là lần đầu tiên vận dụng những kiến thức lý luận vào thực tiễn nên
không tránh khỏi những sai sót nhất định. Kính mong đợc sự tham gia góp ý,
chỉ bảo tận tình của thầy giáo hớng dẫn để em có cơ hội nhận thức vấn đề đợc
đầy đủ hơn.
Chơng I
Cơ sở lý luận của chất lợng và quản lý
chất lợng sản phẩm ở doanh nghiệp
I. Khái quát chung về chất lợng sản phẩm.
Không nằm ngoài các vấn đề khoa học, kinh tế kỹ thuật khác, chất lợng và
chất lợng sản phẩm đã đợc nhiều các học giả cũng nh các trờng phái khác
nhau nghiên cứu. Trên mỗi giác độ để nhìn nhận thì chất lợng và chất lợng sản
phẩm lại có những tính chất, đặc thù riêng biệt vì nó chịu sự phụ thuộc vào
nhận thức, quan điểm của mỗi nhà nghiên cứu. Chính vì lý do đó ta có thể coi
chất lợng mang tính tơng đối, nó nằm trong sự chi phối của rất nhiều yếu tố
nh: kinh tế xã hội, kỹ thuật, tự nhiên, môi trờng hay cả những thói quen
của từng ngời.
Song dù có xem xét vấn đề này ở góc độ nào đi nữa, chúng ta cũng đều nhất

điển trong đó có Karl Marx(1818- 1883). Ông cho rằng: ngời tiêu dùng mua
hàng không phải hàng có giá trị mà hàng có giá trị sử dụngvà thỏa mãn những
mục đích xác định. Nghĩa là chất lợng sản phẩm không phải là một cái gì đó
trừu tợng, vô định mà ngợc lại nó có tính xác định, cụ thể mà chúng ta có thể
nhờ vào đó để đáng giá sản phẩm này là có chất lợng cao, sản phẩm kia là
hàng kém chất lợng- đó chính là các mục tiêu(sẽ đợc nghiên cứu trong phần
sau). Vậy chất lợng là thớc đo mức độ hữu ích của giá trị sử dụng biểu thị toàn
bộ giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá.
chúng ta chỉ đa ra một số khái niệm mang tính đại diện và đợc sự đánh giá
cao của giới chuyên môn.
1. Theo quan điểm của hệ thống XHCN trớc đây mà Liên Xô làm đại
diện thì Chất lợng sản phẩm là tất cả các tính chất sản phẩm bảo đảm khả
năng thoả mãn nhu cầu nhất định trong những điều kiện nhất định. Theo đó,
chất lợng đợc coi là một chỉ tiêu tĩnh không gắn các chỉ tiêu của chất lợng sản
phẩm với sự thay đổi nhu cầu, hiệu quả sản xuất kinh doanh, điều kiện sản
xuất của mỗi nớc và của từng doanh nghiệp.
2. Theo khuynh hớng quản lý sản xuất Chất lợng của một sản phẩm
nào đó là mức độ mà sản phẩm ấy thể hiện đợc những yêu cầu, những chỉ tiêu
thiết kế hay những quy định riêng cho sản phẩm ấy. Quan niệm này lại quá
nhấn mạnh tới những chỉ tiêu thiết kế của sản phẩm, hay quy trình sản xuất
mà không đề cập đến khả năng thoả mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng.
3. Theo khuynh hớng thoả mãn nhu cầu (Quan điểm của tổ chức kiểm
tra chất lợng châu Âu European Organization For Quality Control): Chất
lợng của sản phẩm là năng lực của một sản phẩm hoặc của một dịch vụ thoả
mãn những nhu cầu của ngời sử dụng.
4. Theo tiêu chuẩn AFNOR 50-109 : Chất lợng sản phẩm là năng lực
của một sản phẩm hoặc một dịch vụ thoả mãn những nhu cầu của ngời sử
dụng.
5. Theo J.Jvan(Mỹ) Chất lợng sản phẩm là sự thoả mãn nhu cầu thị tr-
ờng với chi phí thấp nhất.

nên giá tri sử dụng, thể hiện khả năng mức độ thoả mãn nhu cầu tiêu dùng với
hiệu quả cao, trong những điều kiện sản xuất, kinh tế xã hội nhất định.
Nh vậy, chất lợng sản phẩm không những chỉ là tập hợp các thuộc tính mà
còn là mức độ các thuộc tính ấy thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong những điều
kiện cụ thể. Hay chất lợng sản phẩm vừa có tính chủ quan vừa có tính khách
quan. Quan niệm này thể hiện sự KH và toàn diện về chất lợng, cũng nh mối
liên hệ hữu cơ giữa sản phẩm xã hội con ngời.
3. Sự hình thành của chất lợng sản phẩm.
Trong sản xuất kinh doanh, mục đích lớn nhất đó là phải sản xuất ra những
hàng hoá đáp ứng đợc nhu cầu của ngời tiêu dùng. Mà điều cốt lõi là khách
hàng luôn muốn tìm cho mình một sản phẩm có chất lợng cao giá cả hợp lý
đây là một điều không dễ dàng gì đối với các nhà cung ứng. Để tạo ra một sản
phẩm có chất lợng không chỉ đơn thuần quan tâm đến một vài công đoạn của
việc sản xuất ra sản phẩm mà bất cứ một sản phẩm nào cũng đợc hoàn thành
theo một trình tự nhất định với nhiều nghiệp vụ khác nhau mà nếu một sự yếu
kém bất kỳ nào trong trình tự ấy sẽ trực tiếp làm ảnh hởng đến chất lợng sản
phẩm. Điều này đã đợc các học giả phân tích một cách chi tiết các công đoạn
phải đợc quản lý, thực hiện theo một chu trình khép kín, vì sản xuất bắt nguồn
từ nhu cầu thị trờng và cũng quay trở về thị trờng để kiểm chứng và tất nhiên
chất lợng sản phẩm cũng đợc hình thành trong chu trình đó. Ta có thể minh
hoạ các giai đoạn trong 3 phân hệ: Nghiên cứu, thiết kế, sản xuất- tiêu dùng.
Sơ đồ 1: VTCL ISO 9004- 87, TCVN 5204-90.
Nghiên cứu thị trường
1
1
1
0
9
8
7

ta xác định đợc một cách khá chính xác về yêu cầu về số lợng, về chất lợng
của ngời tiêu dùng cũng nh các mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đặt ra
thì các công việc về sau mới có điều kiện hoàn thành nhiệm vụ của mình. Vì
vậy phòng Marketing phải sâu sát với thị trờng để phát hiện kịp thời sự thay
đổi của nhu cầu và thiết lập mối quan hệ gắn kết với phòng thiết kế sản phẩm.
Thiết kế sản phẩm là một quá trình từ xây dựng, quy định chất lợng sản
phẩm, xác định nguồn nguyên vật liệu cho tới thị trờng tiêu thụ.
Sau khi chúng ta thực hiện song nhiệm vụ nghiên cứu thì phòng thiết kế sẽ
vạch ra những thông tin chi tiết hơn về sản phẩm đó tạo nên một mẫu sản
phẩm tơng thích với số liệu điều tra nhu cầu, về phát triển sản xuất.
8
1
Nghiên cứu
Thiết kế
Triển khai
Sản xuất
Kiểm tra
bao gói
Bán hàng
dịch vụ
Trưng cầu ý
kiến
V/c, dự trữ
bảo quản
2
3
4
5
6
7

lớn lao của nó, các quá trình cơ bản của phân hệ này bao gồm:
Vận chuyển sản phẩm sang mạng lới lu thông, tổ chức dự trữ bảo quản. Các
kho hàng tiếp nhận sản phẩm đồng thời qua đó có sự kiểm tra trách nhiệm cả
ngời giao hàng về số lợng và chất lợng. Do đó bộ phận này ngoài chức năng
dự trữ còn là một phòng tuyến ngăn ngừa hàng kém chất lợng lọt vào mạng lới
phân phối.
Bán hàng, dịch vụ kĩ thuật, bảo quản, hớng dẫn sử dụng. Sẽ cha có cơ sở để
chắc chắn rằng ngời tiêu dùng sẽ khai thác triệt để tính năng công dụng mà
sản phẩm mang laị nếu nh thiếu công tác này. Quá trình di chuyển hàng hoá
từ nhà sản xuất, qua các kênh phân phối rồi tới ngời tiêu dùng chịu tác động
nhiều của các nhân tố khách quan đặc bịêt những mặt hàng lơng thực, thực
phẩm, hàng dễ hỏng, dể vỡ... Ngày nay với sự chi phối của cơ chế thị trờng,
các doanh nghiệp luôn luôn tăng cờng công tác dịch vụ sau bán hàng(After
Sale) và nó đã thực sự trở thành một vũ khí cạnh tranh có hiệu quả. Chính nhờ
nó mà sản phẩm phát huy hết đợc giá trị sử dụng, ngời tiêu dùng dễ dàng khai
thác sản phẩm một cách tối u, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trờng.
Và cuối cùng là quá trình trng cầu ý kiến khách hàng về chất lợng, số l-
ợngcủa sản phẩm, lâp dự án cho bứơc sau...
Các quá trình đó cứ lặp lại thành những chu trình khác nhau.Trong suốt
quá, trình chất lợng sản phẩm sẽ không ngừng đợc cải tiếnvà nâng cao... Do
đó, quản lý chất lợng đi từ thị trờng và trở về thị trờng, lần lặp lại sau phủ định
lần trớc nhng ở mức hoàn hảo hơn.
4. Những đặc điểm cơ bản của chất lợng sản phẩm.
Nhìn chung, mỗi sản phẩm khác nhau đều có đặc điểm riêng quy định cho
chất lợng sản phẩm. Song qua các khái niệm về chất lợng sản phẩm chúng ta
có thể đa ra một số đặc điểm sau:
4.1. Chất lợng đợc đo bằng mức độ thoả mãn của ngời tiêu dùng.
Cho dù các nhà sản xuất có quảng bá sản phẩm của mình có chất lợng cao
đến đâu đi nữa mà nó không đợc sử ủng hộ, chấp nhận của ngời tiêu dùng thì
điều đó không mang lại ý nghĩa gì. Đây là một đặc điểm cốt lõi cho cấp lãnh

đây là đặc điểm phải đợc các doanh nghiệp quan tâm để không ngừng nắm
bắt những tiến bộ của khoa học công nghệ đa vào thực tế sản xuất. có nh vậy
sản phẩm mới có năng lực cạnh tranh trên thị trờng.
Từ các đặc điểm trên ta thấy sự cần thiết phải đánh giá đúng mức chất lợng
sản phẩm, so sánh với nhu cầu của ngời tiêu dùng để sản phẩm luôn mang lại
tối đa lợi ích cho ngời tiêu dùng và lợi nhuận thu đợc là lớn nhất. Đồng thời
phải xem xét đến sự thay đổi của môi trờng ngành kinh tế - kỹ thuật để có
mức chất lợng hợp lý.
5. Sự phân loại chất lợng sản phẩm - ý nghĩa và mục đích.
5.1. Chất lợng thiết kế.
Chất lợng thiết kế của sản phẩm là giá trị các chỉ tiêu đặc trng của sản phẩm
đợc phác thảo qua văn bản, trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thị trờng, các đặc
điểm của sản xuất tiêu dùng, đồng thời có so sánh với chỉ tiêu chất lợng các
mặt hàng tơng tự cùng loại của nhiều hãng nhiều công ty.
Chất lợng thiết kế đợc thể hiện ở chỗ sản phẩm hoặc dịch vụ đó đợc thiết kế
tốt nh thế nào để đạt đợc mục tiêu. Các sản phẩm có tính năng tác dụng, hình
mẫu khác nhau nh thế nào đều phụ thuộc vào quá trình thiết kế ra chúng.
5.2. Chất lợng thực tế.
Chất lợng thực tế của sản phẩm là giá trị các chỉ tiêu chất lợng sản phẩm
thực tế đạt đợc do các yếu tố chi phối nh: nguyên vật liệu, máy móc, phơng
pháp quản lý... Do vậy nó phản ánh khá chính xác khả năng sản xuất sản
phẩm của doanh nghiệp.
Chất lợng này sẽ đợc đánh giá qua quá trình khai thác sử dụng sản phẩm.
Khi qua thực nghiệm ta sẽ đánh giá đợc mức độ tuân thủ thiết kế và có thể rút
ra những điểm yếu,điểm mạnh, nắm bắt đợc sự phù hợp giữa thiết kế và chế
tạo, khi xảy ra trờng hợp không ăn khớp giữa hai khâu này ta phải tìm nguyên
nhân ở cả hai vì có khi chất lợng thiết kế quá cao (hay thấp) trong khi khả
năng sản xuất lại rất thấp (hay cao).
5.3. Chất lợng chuẩn.
Chất lợng chuẩn là giá trị các chỉ tiêu đặc trng đợc cấp có thẩm quyền phê

G
gt
: Giá trị sản phẩm.
M
cl
: Mức chất lợng sản phẩm.
Ta dễ dàng nhận thấy: Khi chất lợng sản phẩm còn thấp, thậm chí bằng 0,
thì giá trị chất lợng cũng không thể bằng 0 đợc thậm chí chi phí lại ở mức cao.
Do đó muốn nâng cao chất lợng thì phải tăng cờng đầu t nghiên cứu, thiết kế,
triển khai và do vậy đờng cong có xu hớng đi lên. Nếu nh cùng điều kiện sản
xuất thì mức chất lợng là có giới hạn nhất định dù rằng chi phí sản xuất có
tăng. Các hãng cần phải quan tâm tới yếu tố nhu cầu có khả năng thanh toán,
tập quán tiêu dùng... của dân c vì nếu cứ tăng chất lợng sản phẩm lên mãi sẽ
phải đặt giá cao và nh vậy với mức thu nhập hạn chế thì cầu về hàng hoá này
có thể bằng 0, tăng chi phí là vô nghĩa và dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh.
Tại các điểm trớc M
1
cl
và sau M
3
cl
thì cả nhà sản xuất và ngời tiêu dùng đều
không muốn cung cấp hay tiêu dùng những sản phẩm đó. Và ta thấy giá cả
tăng chậm dần và có thể trở nên bão hoà sau M
*
cl
(mức chất lợng tối u ).
Mức chất lợng tối u thể hiện lợi thế so sánh của doanh nghiệp, mỗi lần tìm
lại lợi thế đó tức là lúc cần phải cải tiến chất lợng sản phẩm và tìm lại chất l-
ợng tối u.

1. Nghiên cứu sản phẩm cạnh tranh tìm mặt mạnh, mặt yếu.
2. Nghiên cứu sản phẩm của doanh nghiệp tìm mặt mạnh, mặt yếu.
3. Nghiên cứu xu hớng phát triển sản phẩm, nhu cầu...
Trong hình vẽ trên G
gc
là chi phí của ngời tiêu dùng gồm: Tiền mua sắm+
chi phí sử dụng, thanh lý hàng năm. Tại mức chất lợng tối u thì chi phí của họ
là nhỏ nhất. Các hàng nhà sản xuất luôn tìm cách giảm hai loại chi phí trên để
tăng năng lực cạnh tranh của hàng hoá. Bên cạnh đó các nhà sản xuất luôn
quảng bá sản phẩm của mình, coi khách hàng là thợng đế tất cả đều không
nằm ngoài mục đích tạo ra lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.
Nh vậy khi chọn M
*
cl

công ty cần xác định nhu cầu về số lợng. Nếu nhu cầu
cao về số lợng thì giá trị các chỉ tiêu chất lợng thờng có khuynh hớng giảm
tạm thời và lợi thế theo quy mô trong sản xuất. Để có mức chất lợng hợp lý
nhất, các doanh nghiệp phải có kế hoạch, dự báo chính xác biến đổi của nhu
cầu. Đây là một nhiệm vụ của quản lý chất lợng sản phẩm.
Cũng trên sơ đồ 3, đờng G
gt
thể hiện chi phí sản xuất để tạo ra mức chất l-
ợng cần thiết gồm 3 yếu tố cơ bản cấu thành, đó là:
1. Chi phí cho phần sản xuất sản phẩm nh nguyên, nhiên vật liệu, khấu hao
máy móc nhà xởng, lao động... đợc tính trực tiếp vào giá thành sản phẩm.
2. Chi phí cho kiểm tra, đánh giá, ngăn ngừa h hỏng sản phẩm và loại trừ
những nguyên nhân có thể làm giảm mức chất lợng.
Các chi phí cho kiểm tra, đánh giá chất lợng gồm: Chi phí chuẩn bị cơ sở
kiểm tra. Giá trị các thiết bị đo lờng và kiểm tra, giá trị nguyên vật liệu và

kinh tế của Nhà nớc, trình độ phát triển sản xuất. Nh ta đã biết, sự phát triển
kinh tế của một quốc gia nằm trên đờng giới hạn khả năng sản xuất(PPF) do
nguồn lực là có hạn, trong khi nhu cầu của con ngời luôn đa dạng và phong
phú cả về sồ lợng và chất lợng sản phẩm.Các doanh nghiệp luôn phải đối đầu
với sự hạn chế về vốn, lạc hậu về công nghệ, máy móc, yếu kém của trình độ
công nhân viên so với tình hình mới.
6.1.2. Sự phát triển của Khoa học - Kỹ thuật.
Con ngời đã và đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ
thuật hiện đại với quy mô sâu rộng trên toàn thế giới. Điều này đã luôn làm
lực lợng sản xuất phát triển theo hớng hiện đại hơn. Nó tác động mạnh mẽ vào
mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội và đặc biệt trong công
nghiệp. Sự tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tác động đến quá trình sản xuất ra sản
phẩm có chất lợng cao hơn, khi một công nghệ mới gia đời sẽ kéo theo một
loạt các sản phẩm mới ra đời với u thế hơn hẳn các sản phẩm cũ cùng loại về
chất lợng.
Sự tiến bộ này còn ảnh hởng trực tiếp tới các yếu tố đầu vào nh: nguyên,
nhiên vật liệu mới. Do vậy các doanh nghiệp không những chỉ quan tâm tới
yếu tố máy móc thiết bị mà còn phải có những điều chỉnh kịp thời về nguyên
vật liệu để nâng cao chất lợng sản phẩm, tăng hiệu quả cạnh tranh cho sản
phẩm của mình.
6.1.3. Hiệu lực của vơ chế quản lý.
Nh ta đã nói trong phần mở đầu, hiện nay Nhà nớc ta quản lý vĩ mô nền
kinh tế thị trờng, sự quản lý ấy đợc thực hiện bằng các phơng pháp khác nhau
nh kinh tế - kĩ thuật, hành chính xã hội, giáo dục- tâm lý...các phơng pháp
chung hoạch định đó đợc cụ thể thành các chính sách, quy định nhằm phát
triển sản xuất, nâng cao chất lợng sản phẩm hàng hoá.... Đây là một đòn bẩy
quan trọng trong việc quản lý chất lợng sản phẩm, đảm bảo ổn địnhvà phát
triển sản xuất, tạo dựng và đảm bảo uy tín, quyền lợi của doanh nghiệp, cũng
nh ngời tiêu dùng.
Nhà nớc còn đặt ra những quy định chi tiết về mức chất lợng và tiêu chuẩn

không thể có chất lợng tốt đợc. Thậm chí doanh nghiệp có tiến hành tự động
hoá, cơ giới hoá toàn bộ quy trình công nghệ thì con ngời cũng không thể
thiếu đặc biệt một số lĩnh vực mà máy móc không thể làm thay con ngời nh
nghiên cứu thị trờng, ý tởng thiết kế sản phẩm mới...
6.2.2. Nhóm yếu tố phơng pháp tổ chức quản lý (Methods).
Các nghiệp vụ của vấn đề tổ chức quản lý để bảo đảm và nâng cao chất l-
ợng sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện qua việc thực hiện tổ chức quản lý
lao động, tổ chức thực hiện tiêu chuẩn, tổ chức sản xuất, kiểm tra chất lợng
sản phẩm, tổ chức quá trình tiêu thụ, tổ chức sửa chữa bảo hành....
Nh vậy để có chất lợng sản phẩm tốt đáp ứng đợc nhu cầu thị trờng các
doanh nghiệp phải đặc biệt chú trọng tới công tác này vì bất cứ công việc nào
làm không tốt thì tất sẽ cho kết quả chất lợng sản phẩm là xấu.
6.2.3. Nhóm yếu tố nguyên, nhiên vật liệu(Materials).
Muốn có sản phẩm tốt thì chất lợng nguyên vật liệu là một trong những yếu
tố hình thành chất lợng sản phẩm phải có chất lợng cao. Đây là yếu tố cơ bản
của đầu vào có ảnh hởng quyết định tới chất lợng sản phẩm. Vì nó tạo nên
thực thể của sản phẩm, về mặt giá trị nó thờng chiếm 60-:- 80% tỷ trọng trong
giá thành sản phẩm.
Các nhà sản xuất tiêu thụ cần tạo ra cho mình những cơ sở cung cấp nguyên
vật liệu ổn định, có chất lợng tốt, đảm bảo thời gian, đủ số lợng và cơ cấu.
Giữa hai bên phải có hợp đồng cam kết về quyền lợi của mình trong việc thực
hiện hợp đồng. Từ đó sẽ đảm bảo chất lợng sản phẩm, tiến độ sản xuất đúng
kế hoạch, cũng nh giảm đợc nhiều thủ tục giao nhận, giảm chi phí sản xuất mà
vẫn đảm bảo chất lợng sản phẩm.
6.2.4. Nhóm yếu tố kỹ thuật công nghệ- Thiết bị (Machines).
Nếu nh 3 yếu tố trên đều tốt cũng cha đảm bảo rằng sản phẩm làm ra có
chất lợng tốt khi kỹ thuật, thiết bị- Yếu tố hình thành nên chất lợng sản phẩm
ở trạng thái yếu kém.
Máy móc, thíêt bị phải đảm bảo yêu cầu nh: Đáp ứng tiến độ sản xuất, việc
ngừng nghỉ vì trục trặc nằm trong giới hạn cho phép, độ chính xác cao,.... Về

phẩm, có đủ lực kích thích nâng cao chất lợng sản phẩm ); thu thập và xử lý
thông tin...
7. Các chỉ tiêu phản ánh chất lợng sản phẩm.
Các sản phẩm đợc sản xuất ra và đợc tiêu dùng đều phải đạt mức yêu cầu
nào đó về chất lợng. Mức độ yêu cầu này phụ thuộc vào: Thứ nhất là yêu cầu
của khách hàng, sau nữa là các quy định về chất lợng sản phẩm của Nhà nớc,
tiếp đó là trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật hay trình độ sản xuất và
trình độ nhận thức của dân c.
Ngời tiêu dùng luôn có nhu cầu hiện tại và nhu cầu tơng lai. Nhu cầu hiện
tại và tơng lai đều phụ thuộc vào cả khả năng sản xuất của nhà sản xuất và ng-
METHODS
MEN
MATERIALS
MACHINES MEN
Quy tắc
4 M
ời tiêu dùng. Theo sự tác động hai chiều mà sản phẩm ngày càng hoàn thiện
hơn.
Trong thực tiễn ta gặp rất ít sản phẩm chỉ có một chỉ tiêu chất lợng, mà th-
ờng có rất nhiều chỉ tiêu khác nhau. Ta có thể tập hợp một số chỉ tiêu sau để
đánh gía chất lợng sản phẩm:
7.1. Nhóm chỉ tiêu sử dụng.
Đây là nhóm chỉ tiêu chất lợng sản phẩm mà ngời tiêu dùng khi mua hàng
hay sử dụng để kiểm tra, đánh giá chất lợng sản phẩm hàng hoá.
Chỉ tiêu thời gian hữu dụng của sản phẩm: Nó thể hiện tuổi thọ và
độ bền của sản phẩm: Ví dụ nh bóng điện sản xuất ra đợc xác định là thắp
sáng đợc 1500 h.
Chỉ tiêu mức độ an toàn trong sử dụng: Nó đặc trng cho tính bảo
đảm cho sự an toàn khi sản xuất và sức khoẻ, sinh mạng của ngời tiêu dùng
khi sử dụng sản phẩm. Chỉ tiêu này thờng đợc quy định trong cả văn bản của

quan của nhiều ngời, khó đợc lợng hoá và vì vậy đòi hỏi cán bộ kiểm nghiệm
hay ngời tiêu dùng phải có kinh nghiệm, am hiểu thẩm mỹ. Phần lớn các sản
phẩm mang đặc trng này là các sản phẩm về nghệ thuật, tranh ảnh, quần áo
thời trang, đồ trang sức...
Chúng ta không có đơn vị đo sự truyền cảm, hấp dẫn hay cái đẹp của sản
phẩm song ta có thể nhận biết qua các thông tin mà sản phẩm mang lại đó là:
Bản chất của sản phẩm phải có sự thống nhất hữu cơ giữa các chỉ tiêu, bộ
phận tạo thành một hình khối hài hoà, không gợng ép, kệch cỡm.
Sản phẩm đợc tạo ra từ những chất lợng nguyên vật liệu cao, quá trình sản
xuất tinh xảo hiện đại.
Sản phẩm mang sắc thái riêng song phải phù hợp với xu hớng tiến bộ chung
của nhu cầu lành mạnh.
Màu sắc của sản phẩm phải phù hợp với chính công dụng của sản phẩm
cũng nh môi trờng sử dụng sản phẩm đó.
Ta nhận thấy, nhiều sản phẩm nhờ tính độc đáo của các chỉ tiêu này mà
đang có lợi thế so sánh trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng nh trên
thế giới. Việc kiểm tra, đánh giá đúng sẽ tác động tích cực tới các chỉ tiêu sử
dụng, kỹ thuật- công nghệ.
7.4. Nhóm các chỉ tiêu kinh tế.
Các chỉ tiêu kinh tế, nhóm này bao gồm chi phí sản xuất, chi phí cho quá
trình sử dụng, chi phí cho quá trình bảo trì bảo dỡng, giá cả.... Đây là chỉ tiêu
quan trọng luôn đợc nhà sản xuất và ngời tiêu dùng sử dụng để đánh giá chất
lợng sản phẩm hàng hoá. Chi phí của nhà sản xuất và chi phí mua, sử dụng sản
phẩm của ngời tiêu dùng có quan hệ mật thiết với nhau. Khi nhà sản xuất
giảm đợc chi phí sản xuất có thể giảm đợc giá bán, mở rộng thị trờng tất nhiên
sẽ có lợi cho cả hai và ngợc lại.
Nếu nh doanh nghiệp đang tìm và muốn giữ thị phần thị trờng của mình thì
cha nên quan tâm quá vội đến các chỉ tiêu chi phí sản xuất mà vấn đề đặt ra ở
đây phải là chất lợng thậm chí có thể đặt ra giá cả hoà vốn hoặc lợi nhuận
thấp. Vì trong ngắn hạn không dễ gì giảm nhiều giá thành sản phẩm mà chất l-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status