THựC TRạNG CÔNG TáC ĐấU THầU V NHữNG
VấN Đề CầN NGHIÊN CứU
ThS. phạm phú cờng
Bộ môn Kinh tế xây dựng
Khoa Vận tải Kinh tế - Trờng Đại học GTVT
Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích các kết quả đạt đợc trong công tác đấu thầu thời gian qua,
Tác giả rút ra những mặt mạnh v những tồn tại trong công tác quản lý v thực hiện quy chế
đấu thầu, từ đó đề xuất những giải pháp cần nghiên cứu giải quyết nhằm đảm bảo sự cạnh
tranh công bằng giữa các nh thầu, đảm bảo chất lợng các công trình xây dựng đồng thời
nâng cao hiệu quả trong đầu t v xây dựng.
Summary: Based on analysing results of management work and performing tender work
over recent time, the author shows strengths and weaknesses in managing and performing
tenders regulations, and then offers solutions for managing and performing tender work to
compete equally among contractors, to ensure quality of structures to improve effectiveness of
investment and construction.
i. Những kết quả đạt đợc về công
tác thực hiện đấu thầu trong thời
gian qua
Tình hình thực hiện đấu thầu:
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu t,
năm 2003 cả nớc có 30.189 gói thầu thuộc
lĩnh vực xây lắp (trong đó lĩnh vực mua sắm
hàng hóa chiếm 27,71%, lĩnh vực t vấn
chiếm 11,78%). Tổng giá trị gói thầu là
47.666,9 tỷ đồng, tổng giá trị trúng thầu
45.584,2 tỷ đồng, chênh lệch giữa giá gói thầu
và giá trúng thầu là 2.084 tỷ đồng chiếm
tác đấu thầu của cả nớc trong những năm
gần đây đã chứng minh điều này, cụ thể:
Một số địa phơng chủ yếu sử dụng hình
thức đấu thầu hạn chế và chỉ định thầu nên tỷ
lệ tiết kiệm đạt rất thấp khoảng 1% nh các
tỉnh Bắc Ninh, Thanh Hoá, Ninh Bình, Hà Tây,
Hoà Bình, Hà Nam, Hà Giang, một số Bộ,
ngành, địa phơng chủ yếu áp dụng hình thức
đấu rộng rãi thì tỷ lệ tiết kiệm đạt cao hơn nh
tỉnh Bình Phớc (11%), Tổng Công ty Bu
chính Viễn thông (16%), Bộ Công nghiệp
(19%), Tổng Công ty dầu khí Việt Nam (20%).
Tuy nhiên mức độ giảm sau đấu thầu mới
chỉ biểu hiện mức chênh lệch giữa giá trị trúng
thầu so với giá trị dự kiến ban đầu, cha biểu
hiện đợc mức độ chênh lệch giữa giá trị thực
hiện (qua thanh quyết toán) so với giá trị dự
kiến ban đầu, bởi lẽ đấu thầu mới chỉ là một
khâu của quá trình thực hiện dự án đầu t.
ii. Đánh giá về công tác đấu thầu
trong thời gian qua
1. Hệ thống pháp lý về đấu thầu đ
đợc hình thành và luôn đợc hoàn chỉnh
cho phù hợp
Quy chế đấu thầu ở nớc ta hiện nay có
nội dung khá tiên tiến, tơng đối phù hợp với
thông lệ đấu thầu trên thế giới, đặc biệt có
những nội dung hoàn toàn phù hợp với các
quy định của một số nhà tài trợ nh WB, ADB,
2001 5.068 4.559 527 10,5
2002 5.819 5.320 498 8,6
2003
- Thủ tớng CP
phê duyệt
- Bộ, ngành, địa
phơng duyệt
911,1
4.490,25
790,4
4.171,32
120,7
439,95
13,3
8,14
Những năm qua, đã có nhiều thay đổi cơ
bản so với các quy định trớc đây về các mặt:
- NĐ66/CP ngày 12/6/2003 và thông t
hớng dẫn 01/2004/TT - BKH ngày 2/2/2004
đã tạo môi trờng pháp lý thuận lợi, hạn chế
tối đa sự can thiệp của các cơ quan quản lý
Nhà nớc đến các công việc đấu thầu nhằm
ngành và địa phơng tham gia phổ biến quy
chế đấu thầu tại 54 lớp, với tổng số khoảng
3.010 lợt ngời tham dự. Ngoài ra, Bộ Kế
hoạch và Đầu t cũng thờng xuyên trao đổi
với nhiều đơn vị để giải đáp những vớng mắc
về đấu thầu, tạo điều kiện để các bộ ngành,
địa phơng, các đơn vị quán triệt hơn và thống
nhất trong quá trình thực hiện các qui định của
Nhà nớc về đấu thầu.
Đến nay, sau một thời gian thực hiện Quy
chế đấu thầu, chúng ta đã có một sự trởng
thành đáng kể. Một số Bộ, Tổng công ty đã tự
xây dựng các quy trình đấu thầu, mẫu biểu để
áp dụng thống nhất trong phạm vi của mình.
Đội ngũ chủ đầu t, Ban quản lý dự án
mặc dù còn những tồn tại, song so với trớc
đây đã trởng thành nhiều trong việc tổ chức
các cuộc đấu thầu, đánh giá lựa chọn nhà
thầu, kí kết hợp đồng.
Đặc biệt, năng lực các nhà thầu Việt Nam
đã có sự trởng thành đáng kể. Từ chỗ nhà
thầu Việt Nam chỉ làm thầu phụ cho nhà thầu
nớc ngoài, sau đó tham gia liên doanh với tỷ
lệ nhỏ, nay phần lớn các cuộc đấu thầu quốc
tế công trình xây lắp, nhà thầu Việt Nam đã
giành thắng lợi trúng thầu.
Sự trởng thành của nhà thầu Việt Nam
còn vợt ra ngoài phạm vi quốc gia. Nhà thầu
Việt Nam đã trúng thầu ở Lào, Campuchia,
Philippines
đấu thầu là do cha hiểu về các qui định trong
đấu thầu thể hiện ở việc bố trí nhân lực thực
hiện công tác đấu thầu của các Chủ đầu t,
Ban quản lý dự án còn kém về khả năng
chuyên môn dẫn đến những sai lầm không
đáng có.
Cũng không ít trờng hợp có nhận thức
nhng vẫn thực hiện không đúng nh: mở
thầu chậm, chỉ định thầu không đúng quy định
hoặc vợt thẩm quyền cho phép, tổ chức đấu
thầu mang tính hình thức, đặc biệt là áp dụng
hình thức đấu thầu hạn chế
Công tác chỉ đạo của cấp có thẩm quyền
cha sát và cha chặt chẽ. Sự lạm dụng hình
thức đấu thầu hạn chế còn diễn ra ở một số
địa phơng, hiện tợng chia nhỏ gói thầu
không đúng quy định còn phổ biến; chỉ định
thầu không trên cơ sở kế hoạch đấu thầu,
không có quyết định phê duyệt kết quả đấu
thầu. Một số gói thầu, đấu thầu 2 giai đoạn
kéo dài thời gian, gây khiếu kiện không đáng
có, bổ sung thiết kế ban đầu không chuẩn xác
diễn ra khá phổ biến; một số hợp đồng giữa
chủ đầu t và nhà thầu quá đơn giản, thiếu
các điều kiện chi tiết gây khó khăn trong quá
trình thực hiện; khâu giám sát thực hiện hợp
đồng thiếu chặt chẽ.
Một số nhà thầu cha quen với công tác
đấu thầu, hoặc tìm mọi cách để trúng thầu, hy
Đây là điều không thể tránh đợc trong bối
cảnh của chúng ta, đặc biệt khi tình hình kinh tế
xã hội thay đổi, đội ngũ cán bộ trởng thành.
Theo hớng này một loạt các vấn đề cần đợc
tiếp tục nghiên cứu để ban hành cụ thể:
+ Mẫu hóa các nội dung thuộc quá
trình đấu thầu.
+ Quy định rõ hình thức áp dụng theo
từng loại vốn nh vốn đầu t phát triển và vốn
sản xuất kinh doanh tính trong giá thành sản
phẩm.
+ Quy định khiếu nại trong đấu thầu.
- Công tác đo tạo còn bất cập
Quy chế đấu thầu chỉ là một công cụ
quản lý, vấn đề còn lại là phụ thuộc vào năng
lực và phẩm chất của ngời thực hiện.
Trên thực tế còn thiếu các trung tâm đào
tạo cán bộ chuyên thực hiện về công tác đấu
thầu. Điều này phần nào ảnh hởng đến công
tác quản lý của một số Chủ đầu t và của Ban
quản lý dự án.
iv. Các giải pháp định hớng cần
nghiên cứu thực hiện
Để tăng cờng hiệu quả đấu thầu nhằm
quản lý tốt hơn nữa các nguồn vốn Nhà nớc
dành cho đầu t phát triển, những định hớng
chủ yếu sau đây cần đợc triển khai thực
hiện, cụ thể là:
1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn
đột xuất, phân cấp kiểm tra một cách rõ ràng.
Đối với các Bộ ngành, địa phơng, cần sớm
củng cố lực lợng thanh tra chuyên ngành,
thanh tra về đấu thầu theo chức năng đã đợc
quy định. Đặc biệt là đối với các Sở Kế hoạch
và Đầu t cần khẩn trơng thành lập thanh tra
Sở để thực hiện kiểm tra, thanh tra về đấu
thầu cũng nh về đầu t nói chung.
Kiểm tra, thanh tra về đấu thầu là việc
làm thờng xuyên của cơ quan quản lý Nhà
nớc. Phải chủ động việc thực hiện thanh tra
nhằm ngăn ngừa những hành vi vi phạm pháp
luật có thể xảy ra trong quá trình thực hiện
đấu thầu. Trớc mắt cần tập trung vào việc
thanh tra đối với các gói thầu có quy mô lớn.
Các Bộ ngành, địa phơng tăng cờng kiểm
tra, thanh tra nhằm đa việc thực hiện đấu
thầu đi vào nề nếp.
4. Tăng cờng tính công khai hoá,
minh bạch trong công tác đấu thầu
Để tạo điều kiện thực hiện tốt mục tiêu
của công tác đấu thầu là cạnh tranh, công
bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế, cần phải
có biện pháp công khai về đấu thầu nh: công
khai về mời thầu, kết quả đấu thầu, giá gói
thầu, giá trúng thầu, đơn vị trúng thầu và năng
lực của nhà thầu. Công khai hoá trong đấu
thầu đã đợc quy định trong quy chế đấu
thầu. Sau khi đã hình thành tờ thông tin về
đấu thầu và trang Web về đấu thầu, các Bộ
[1]. Báo cáo kết quả công tác quản lý đấu thầu. Bộ
Kế hoạch và Đầu t.
[2]. Nghị định 66/2003/NĐ - CP ngày 12/06/2003.
[3]. Thông t số 01/2004/TT-BKH