NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU TRỊ KHỚP GIẢ
THÂN XƯƠNG CÁNH TAY
DO CHẤN THƯƠNG Ở NGƯỜI LỚN
Trần Thanh Mỹ
*TÓM TẮT
Trong 2 năm (tháng 06/2002 đến tháng 06/2004) tại khoa Chi Trên Bệnh viện
Chấn thương Chỉnh hình TPHCM chúng tôi điều trò cho 69 bệnh nhân bò khớp giả thân
xương cánh tay do chấn thương ở người lớn. Chúng tôi theo dõi được 57 bệnh nhân,
nguyên nhân chủ yếu là sai lầm trong phẫu thuật và có xu hướng ngày càng tăng. Do
đó, chúng tôi xây dựng quy trình tối ưu điều trò gãy thân xương cánh tay, khớp giả thân
xương cánh tay và cảnh báo những thiếu sót trong điều trò gãy thân xương cánh tay
bằng phẫu thuật.
SUMMARY
Causes and treatment of pseudoarthrosis of shaft of humerus due to trauma in
adults
Tran Thanh My
69 cases of pseudoarthrosis of shaft of humerus due to trauma in adults had been
treated at the Upper Limb Department of Hospital for Traumatology and Orthopaedics
during 2 years from June 2002 to June 2004.
57 patients had been followed-up, the main cause was mistake in surgery and this
trend had increased. Thus, we established an optimal process to treat the fractures and
pseudoarthrosis of humeral shaft and warning the shortcomings in surgical treatment
of humeral shaft fractures.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Gãy xương cánh tay là loại gãy khá thường gặp trong chấn thương, chiếm 3% tất cả
T. T. T. D., nữ, 21 tuổi
Kết hợp xương còn gập góc
L. Q. T., nam, 25t
Kết hợp xương còn hở, không nén ép
L. H. M., nữ, 54t
N. Đ. T., nam, 36t
Kết hợp xương bằng nẹp vít
không thẳng trục còn lệch
M. T. H., nữ, 37t
Kết hợp xương bằng nẹp vít bò
gãy vít và gãy nẹp
T. V. H., nam, 30t
Kết hợp xương bằng nẹp vít
không vững còn khe hở
N. N. H., nam, 32t
Kết hợp xương bằng nẹp vít
Những sai sót trong điều trò trên dẫn đến khớp giả có trường hợp rất nặng vì cộng
thêm nhiễm trùng, cứng khớp, loãng xương nghiêm trọng gây tàn phế.
ĐIỀU TRỊ KHỚP GIẢ THÂN XƯƠNG CÁNH TAY
Điều quan trọng trong điều trò khớp giả xương cánh tay là đạt được lành xương,
cùng lúc phục hồi chức năng vận động của khuỷu, vai.
Bốn điều cơ bản:
H. T. H. T., nữ, 22t
Kết hợp xương bằng đinh, chỉ
không vững chắc
P. H. D., nam, 48t
Kết hợp xương bằng đinh còn
khoảng hở
N. T. N., nam, 26t
− Đường vào phương pháp kết hợp xương:
+ Chọn đường mổ mặt trước ngoài tùy thuộc vào vò trí đường gãy thân xương
cánh tay lệch vào trong hay ra ngoài phía bên của cơ nhò đầu cánh tay dài trung
bình 10cm.
+ Tách và kéo khối cơ cánh tay trước sang hai bên ôm sát xương cánh tay đi vào
ổ khớp giả, bảo vệ tốt thần kinh quay phía sau.
Hình 2.8: Đường vào trước ngoài cánh tay. Cắt lọc sạch ổ khớp giả, lấy bỏ bao khớp xương vụn chai, mô xơ, mô viền, bộc lộ
đầu gãy trên và dưới, bóc tách màng xương ít nhất 3 – 4cm cho mỗi đầu. Yêu cầu là
xương cánh tay đã bộc lộ phải được làm mới, rớm máu, một số trường hợp được đục vỏ
xương theo phương pháp Judet. Đặt hai mặt gãy của xương cánh tay áp sát nhau, cố
đònh bằng nẹp vít kim loại.
Chọn vò trí đặt nẹp vít tuỳ theo vò trí của ổ khớp giả 1/3 trên cánh tay, nẹp được
đặt ở phiá trước bên của rãnh cơ nhò đầu. 1/3 giữa cánh tay được đặt ở vò trí trước bên.
1/3 dưới cánh tay đặt nẹp đi từ đầu gần đến đầu bao khớp trước khớp khuỷu, một số
trường hợp đặt nẹp phiá sau bên. Nẹp được uốn bẻ theo bề mặt của xương, cố đònh vào
Can lệch
< 20
0
1
Can lệch >
20
0
0
Vai đưa ra trước
> 120
0
1,5 90-120
0
1 < 90
0
0
Vai dạng
>120
0
1,5 90-120
0
1 < 90
0
0
Vai xoay ngoài
Bình thường 1,5 Giảm hạn chế 0
Vai xoay trong
Bình thường 1,5 Giảm 0
Tốt: 11-15 điểm.
Trung bình: 06-10 điểm.
Xấu: 00-05 điểm.
Kết quả theo dõi được 57 trường hợp:
Rất tốt: 21 (36,8%).
Tốt: 23 (40,4%).
Trung bình: 11 (19,3%).
Xấu: 02 (03,5%).
BÀN LUẬN
Tại bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận khớp giả
thân xương cánh tay do chấn thương ở người lớn có xu hướng ngày càng nhiều: 20
trường hợp năm 2002, 22 trường hợp năm 2003, 27 trường hợp năm 2004. Nguyên
nhân chủ yếu do phẫu thuật kết hợp xương ở nhiều cơ sở khác nhau 48/69 trường hợp
(chiếm 69,6%).
Lựa chọn kỹ thuật điều trò hiệu quả không phải lúc nào cũng dễ dàng vì có rất nhiều
yếu tố ảnh hưởng tới kết quả điều trò nhưng qua phân tích nguyên nhân cho thấy sai sót
kỹ thuật kết hợp xương rất lớn khiến chúng tôi lưu tâm và cảnh báo việc không quen
thuộc với các kỹ thuật, điều trò chỉ đònh không chuẩn xác, trang thiết bò (nẹp vít, đinh
bất động ngoài chắp vá, nhỏ ngắn…) phòng mổ không đảm bảo vô trùng, nhóm phẫu
thuật viên không nắm vững kỹ thuật kết hợp xương, chủ quan, bất động không vững
chắc, nhiễm trùng hình thành khớp giả.
Khi biến chứng khớp giả mục đích cuối cùng đề đạt được lành xương giúp phục hồi
vận động cánh tay, khớp khuỷu, khớp vai.
Những chú ý trong phẫu thuật khớp giả là:
+ Điều trò chuẩn mực quen thuộc với kỹ thuật, có trang thiết bò chuẩn (nẹp vít…)
phải đúng tiêu chuẩn.
+ Phòng mổ và dụng cụ phải vô trùng tuyệt đối và đặc biệt có phòng mổ riêng.
+ Nhóm làm việc quen thuộc.
+ Hai yếu tố cơ bản giúp liền xương:
1. A. S. A. M. I. Group (1991): “Nonunion of the humerus”, Operative Principles of
Ilizarov, pp. 263-272.
2. Boyd H.B. (1996): “Changing concepts in the treatment of nonunion”, Clin.
Orthop, Lippincott company, USA, pp.37-45.
3. Campbell M., Seligson D. (1992): “The history of bone grafting”, Techniques
Orthop, Aspen Publishers, USA, pp.1-5.
4. Campbell W.C. (1937): “Ununited fractures of the shaft of the humerus”, Ann.
Surg., USA, pp.105-135.
5. Chacha P.B. (1982): “Compression plating without bone grafts for delayed and
nonunion of humeral shaft fractures”, Injury 14,USA, pp.2093-2094.
6. Chapman M.W. (2001): “Nonunion and Malunion of the upper extremity”, Chapman’s
Orthopaedic Surgery, 3
rd
ed., Lippincott Williams & Wilkins, USA Vol 1, pp.887-
917.
7. Crenshaw A.H. (1998): “Nontraumatic disorders”, Campbell’s Operative
Orthopaedics, Mosby, USA, pp.769-786.
8. Bùi Văn Đức (1999): “Điều trò khớp giả xương cánh tay bằng kết hợp xương có
ghép xốp”, Tạp chí Y học, TP HCM, tr.109–120.
9. Foster R.J. et al (1985): “Internal fixation of fractures and nonunions of the
humeral shaft”, Journal of Bone and Joint Surgery, American 67A, No 5,
pp.857-864.
10. Healy W.L. (1987): “Nonunion of the humeral shaft”, Clin Orthop, Lippincott
Williams & Wilkins, USA 431, pp.50-56.
11. Henry G., Mayo G. C. (1966): “Anatomy of the human body”, Lea and Febiger,
Philadelphia USA, pp.215-219.
12. Hernigou Ph. (1997): “Pseudarthroses traitées par greffe percutanée de moelle
osseuse autologue”, Revue de Chirurgie Orthopédique, Elsevier, Paris –
France Vol 83, pp.495-504.
13. Nguyễn Văn Huệ (2001): “Tình hình khớp giả thân xương dài cơ quan vận động ở
nd
ed., W.B.
Saunders Company, USA Vol 1, pp.619-659.
27. Rubel I.F. et al (2002): “Open reduction and internal fixation of humeral
nonunions”, Journal of Bone and Joint Surgery, American 84, pp.1315-
1322.
28. Sarmiento A. (2001): “Diaphyseal humeral fractures: Treatment options”, Journal
of Bone and Joint Surgery, American 83A, (10), pp.1566-1579.
29. Trotter D. H. (1984): “Nonunion of the humerus: rigid fixation, bone grafting , and
adjunctive bone cement”, Clin Orthop, Lippincott company, USA 204, pp.162-
168.