ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TIN HỌC VÀ THÔNG TIN
DI ĐỘNG TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA SỬ DỤNG
GIẤY PHÉP LÁI XE NGOÀI HIỆN TRƯỜNG TS. ĐẶNG CÔNG CHIẾN
Phó trưởng phòng KHCN & HTQT
Cục Đường bộ Việt Nam
Tóm tắt: Trong khoảng mười năm gần đây sự gia tăng số lượng các phương tiện giao
thông cơ giới đường bộ có tốc độ rất cao, điều đó dẫn đến việc quản lý người điều khiển các
phương tiện giao thông nói chung và phương tiện cơ giới đường bộ nói riêng ngày càng phức
tạp. Trong một khoảng thời gian dài, do nhiều nguyên nhân đã xảy ra hiện tượng người điều
khiển phương tiện giao thông không có giấy phép lái xe (GPLX) hợp lệ, hiện tượng đó là một
trong những nguyên nhân làm gia tăng tai nạn giao thông nhất là tai nạn giao thông đường
bộ. Sau khi có chỉ thị 13 của BBT TW Đảng và Luật giao thông đường bộ được ban hành, các
cơ quan chức năng đã tăng cường quản lý, kiểm tra chặt chẽ việc cấp, đổi, sử dụng giấy phép
lái xe cơ giới đường bộ, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi điều khiển phương tiện giao thông
không có GPLX hợp lệ. Để đối phó với những biện pháp kiểm tra kiên quyết và gắt gao của
các cơ quan chức năng, một số người kém ý thức về pháp luật đã tìm mọi thủ đoạn để trốn
tránh sự quản lý của các cơ quan chức năng bằng cách sử dụng GPLX giả hoặc hết hiệu lực
pháp lý. Hành vi sử dụng GPLX giả hoặc không hợp lệ là một hiện tượng đặc trưng cho thủ
đoạn này và ngày càng có chiều hướng gia tăng. Nội dung của tham luận nhằm nghiên cứu
những hành vi lưu hành giấy phép lái xe không hợp lệ, đề xuất giải pháp ứng dụng công nghệ
tin học và thông tin di động vào việc phát hiện và chống lại hành vi tiêu cực đó một cách
chính xác và nhanh chóng.
Summary: It is very complicated to manage transport means in general and means of
road transport in particular due to the increasing number of vehicles in the last ten years. For
a long time, because of many reasons, there is a phenomenon that vehicle users do not have
the valid driving licence, which is one of the causes to increasing traffic accidents, especially
+ Thay đổi các thông tin về nhân thân.
+ Thay đổi thông tin về hạn sử dụng,
ĐT
+ Thay đổi chủng loại phương tiện được điều khiển của GPLX.
- Khai báo mất GPLX một cách giả tạo để được cấp GPLX mới với mục đích sử dụng
nhiều GPLX cùng một thời điểm của cùng một người (lưu hành GPLX hết hiệu lực pháp lý).
- Lợi dụng những sơ hở của công tác quản lý dùng phôi thật nhưng làm giả hoặc sai lệch hồ
sơ để cấp GPLX cho những người không đủ tiêu chuẩn. Có thể có một số kiểu như sau:
+ Làm giả hồ sơ cho người không tham dự đào tạo và không qua sát hạch lái xe.
+ Thay đổi hồ sơ để khi chuyển vùng quản lý để đổi GPLX giả thành thật.
Đây là công nghệ tinh vi nhất vì nó thực sự là “từ trong đánh ra” vì nó do chính những
người quản lý việc cấp đổi GPLX thực hiện trên phôi GPLX thật, con dấu thật nên việc chống
lại nó không thể là giải pháp kỹ thuật đơn thuần mà phải bằng biện pháp tổ chức và quy chế
nghiệp vụ. Điển hình cho công nghệ này là vụ việc xảy ra ở sở GTVT Hà Tĩnh đã để toàn bộ qui
trình quản lý phôi – in GPLX – Trình ký - Đóng dấu chỉ do một chuyên viên phụ trách dẫn đến
việc chuyên viên này đã lấy phôi in GPLX đem bán lấy tiền gây hậu quả nghiêm trọng. Đối với
trường hợp này đề nghị phải ban hành qui trình chung cho việc quản lý phôi và cấp đổi GPLX
trên phạm vi cả nước, bắt buộc phải tách riêng người quản lý phôi và người phụ trách in ấn
GPLX v.v… đồng thời cũng cần thống nhất quản lý danh sách thí sinh dự sát hạch và danh sách
cấp GPLX và kiểm soát việc đổi GPLX với CSDL tập trung của quốc gia về GPLX. Một tình huống khác cũng hay xảy ra là làm giả hồ sơ hoặc thay đổi hồ sơ trong quá trình
chuyển vùng quản lý theo quy định để sau khi đổi GPLX từ giả biến thành thật ở nơi quản lý
mới.
GPLX không hợp lệ trên thực tế có rất nhiều biến tướng nhưng ta có thể phân loại chúng
theo bốn loại đã đề cập ở trên.
Như vậy, để chống lại những hành vi sử dụng GPLX không hợp lệ ta phải loại trừ cả bốn
“Công nghệ làm giả” trên. Đương nhiên nếu chỉ dựa vào các giải pháp kỹ thuật tăng cường tính
bảo mật của phôi GPLX thì chẳng những hiệu quả không cao mà còn không thể triệt phá được
Phần thông tin có thể thay đổi ở mặt sau là cột ngày cấp phép. Cột ghi ngày cấp phép ứng
với loại phương tiện được điều khiển, những ô bị gạch chéo có nghĩa là loại phương tiện tương
ứng người sở hữu GPLX này không có quyền điều khiển khi tham gia giao thông.
ĐT
Theo quy trình quản lý hiện nay, khi kiểm tra GPLX của một người nào đó, người kiểm tra
sẽ căn cứ vào thông tin thuộc nhóm A để xác định phôi thật hay giả; So sánh ảnh trên GPLX và
người sở hữu GPLX. Nếu có chứng minh thư thì so sánh thêm với thông tin của CMT. Còn lại
các thông tin khác muốn kiểm tra phải cần có thời gian. Người (hoặc cơ quan) kiểm tra gửi yêu
cầu đến cơ quan quản lý cấp đổi GPLX để xác minh. Như vậy là nếu làm được phôi giả giống
phôi thật thì gần như những GPLX sử dụng phôi giả hoặc thay đổi thông tin trên GPLX rất dễ
thoát khỏi sự kiểm tra. Đây chính là khâu sơ hở bị lợi dụng nhiều nhất trong thời gian qua làm
cho vấn nạn GPLX giả ngày càng trầm trọng (vì quá trình kiểm tra chủ yếu là ở ngoài đường,
cảnh sát giao thông không thể có đầy đủ phương tiện và thời gian để xác minh ngay).
Qua phân tích trên ta thấy 4 nhóm thông tin B, C, D và E chỉ được sử dụng tại cơ quan
quản lý cấp đổi GPLX và đối tượng làm giả không thể tiếp cận được. Chỉ khi đổi GPLX hết hạn
hoặc vì một lý do nào khác những thông tin này mới được đối chiếu. Những thông tin này các
đối tượng làm giả không thể có được để sử dụng làm giả GPLX. Như vậy, các cơ quan quản lý
có thể sử dụng những thông tin này (B, C, D và E) như là một thứ vũ khí lợi hại nhằm chống lại
hành vi sản xuất và lưu hành GPLX giả. Để sử dụng hiệu quả các thông tin nhóm B, C, D và E
vào việc kiểm tra GPLX chúng ta cần xây d
ựng một cơ sở dữ liệu quốc gia về GPLX cùng
công cụ cập nhật và quy chế khai thác phục vụ cho các cơ quan chức năng. Để có được cơ sở dữ liệu quốc gia, thì quy trình quản lý cấp đổi GPLX có thể thực hiện
như sau:
Hình 3. Quy trình cập nhật dữ liệu GPLX lên CSDL quốc gia
Sau khi thông tin về người lái xe được đưa vào máy tính để in ra GPLX nó đồng thời được
gửi lên cơ quan quản lý GPLX ở trung ư
0973549373 là cổng tin nhắn tại Cục ĐBVN.
Hình 5. Sơ đồ quy trình kiểm tra GPLX.
ĐT
Nếu tin nhắn gửi đi thành công, hệ thống sẽ phân tích yêu cầu và tự động gửi lại cho số
máy yêu cầu một tin nhắn. Thời gian trả lời tùy thuộc vào lưu lượng thông tin trên mạng có thể
từ 5 ~ 30” (Xem quy trình xử lý thông tin trên hình 5) :
Trường hợp 1: Hệ thống tìm thấy GPLX có số seri theo tin nhắn đã gửi, thì nội dung của
tin nhắn trả lời gồm:
- Họ và tên người sở hữu GPLX.
- Địa chỉ ghi trên GPLX.
- Loại GPLX (A1,A2,… ).
- Nơi cấp.
- Ngày cấp.
- Hạn sử dụng.
- Số lần vi phạm còn chưa hết thời hạn hiệu lực pháp luật quy định.
Trường hợp 2: Hệ thống không tìm thấy GPLX có số seri đã gửi, thì hệ thống trả lời
“Không có GPLX có số Seri như tin đã gửi”.
Căn cứ vào nội dung tin nhắn trả lời mà ta biết được GPLX đó là giả hay thật bằng cách so sánh thông tin trên GPLX với thông tin tương ứng nhận được từ hệ thống qua tin nhắn. Với
thông tin trên chúng ta loại trừ được cả 4 hình thức làm giả. Kể cả trường hợp dùng phôi thật để
cấp GPLX không có hồ sơ lưu. Mọi s
ự sửa chữa trên GPLX đều bị phát hiện.
Ngoài ra nếu mở rộng hệ thống này chúng ta có thể cho phép một nhóm số điện thoại có
thể cập nhật lỗi vi phạm của lái xe vào cơ sở dữ liệu bằng việc cấp mật khẩu cập nhật được gửi
kèm theo.
ĐT
các đơn vị nhưng lại không theo một chuẩn thống nhất. Từ thực tế trên, việc xây dựng cơ sở dữ
liệu quốc gia về GPLX sẽ tiến hành theo những bước sau:
ĐT
1. Tập trung dữ liệu về số lượng phôi GPLX đã bán cho các đơn vị quản lý cấp đổi GPLX
(các sở). Số liệu này sẽ đưa vào cơ sở dữ liệu để kiểm tra sơ bộ tính hợp pháp của GPLX theo
số seri (thí dụ phôi GPLX có seri m025463 được cung cấp cho Sở GTVT Bắc Giang nhưng trên
GPLX lại do Sở GTVT Vĩnh Long cấp là không hợp pháp v.v…) như vậy sơ bộ kiểm tra số seri
ta đã có thể phát hiện được một số GPLX giả.
2. Tập trung toàn bộ số liệu cấp đổi GPLX được lưu trữ dưới dạng tệp tin máy tính (dữ liệu
dạng số hóa) của các đơn vị để chuyển sang một dạng dữ liệu điện tử thống nhất (tạm thời sang
format MS SQL_Server). Để có được toàn bộ dữ liệu, một số đơn vị có thể phải nhập bổ sung
bằng tay. Công việc này phải được tiến hành càng sớm càng tốt vì trước hay sau chúng ta đều
cần dữ liệu này, sau này muốn quản lý theo công nghệ nào thì cũng cần đến số liệu theo một cấu
trúc thống nhất trên máy tính, từ định dạng MS SQL_Server chúng có thể dễ dàng được chuyển
qua bất kỳ môt định dạng dữ liệu nào với chi phí không đáng kể (có thể coi như không cần chi
phí, các định dạng dữ liệu ngày nay đều có công cụ chuyển đổi tự động). Việc này còn giúp rút
ngắn thời gian thực hiện dự án hiện đại hoá công tác quản lý GPLX sau này cũng như cho phép
chúng ta thực hiện ngay hệ thống kiểm tra GPLX trên điện thoại di động đã nêu ở trên.
3. Về kinh phí chuyển đổi dữ liệu theo tính toán sơ bộ là không lớn, chi phí cho công việc này khoảng 25-40 triệu đồng bình quân cho 1 sở (khoảng 3 tỷ đồng cho một cơ sở dữ liệu quốc
gia là không hề lớn nếu không nói là nhỏ). Kinh phí này có thể lấy từ nguồn tập trung hoặc từ
nguồn lệ phí cấp đổi GPLX của từng đơn vị.
IV. KẾT LUẬN
Những ý tưởng được đề cập trong bài này đã được nghiên cứu trong đề tài cấp bộ (Đề tài
khoa học công nghệ mã số: DT074009 của Bộ GTVT do tác giả làm chủ nhiệm) đã được
nghiệm thu năm 2007.
Từ những kết quả trên một phương án chung có thể được tính đến là UBATGTQG (Ủy ban
An toàn giao thông Quốc gia) xây dựng hệ thống SMS chung để phục vụ cho toàn bộ các cơ
tin nhắn đến số điện thoại đã đăng ký hoặc in ra danh sách gửi theo đường thư bưu chính. Đối
với những người đăng ký dịch vụ này phải trả một khoản phí nào đó để được thông báo và thậm
chí có thể nộp phí đổi GPLX cho lần sau để khi mang đầy đủ giấy tờ theo yêu cầu đến cơ quan
quản lý là được nhận ngay GPLX mới không phải đến lần thứ hai nữa.
Hình 7. Sơ đồ quy trình xử lý thông tin kiểm tra ATGT trên hệ thống SMS.
Với thời giá hiện nay nếu thông báo qua nhắn tin thu phí khoảng 10000đ. Chi phí như sau:
350đ x 4 tin =1400 đ (cách 1 tháng đến hạn phải đổi nhắn tin đầu tiên, sau đó 10 ngày nhắn 1 tin
cho đến thời hạn phải đổi).
ĐT
Như vậy còn được 8600 đ chi cho hệ thống.
Nếu 300 000 GPLX phải đổi hàng năm, trong đó có 1/3 sử dụng dịch vụ công này, tức là
ta có 3 600 đ x 100 000 = 860 000 000 (tám trăm sáu mươi triệu đồng). Đây là số tiền đủ để
trang trải cước viễn thông và chi phí của hệ thống SMS_Gateway trong năm.
Rõ ràng rằng nếu dịch vụ này được triển khai thì cả người dân và Cục ĐBVN đều có lợi.
Ngoài ra, đây cũng là một xu hướng tất yếu trong tiến trình cải cách hành chính, nó đồng thời
góp phần giảm nhu cầu phải tham gia giao thông để thực hiện công việc đổi GPLX (ít nhất mỗi
người phải mất 2 lần đến cơ quan quản lý GPLX để nộp hồ sơ và nhận GPLX) giảm tình trạng
quá tải của hệ thống giao thông hiện nay trên đường bộ.
Tài liệu tham khảo
[1]. Luật Giao thông đ
ường bộ số 26/2002/QH 10 ngày 29/6/2001
[2].
[3].
[4]. Christian Bauer and Gavin King, Java Persistence with Hibernate
[5]. Nghị định 146/2007/NĐ-CP ngày 14/9/2007.
[6]. Các văn bản, quy định về quản lý đào tạo và cấp đổi Giấy phép lái xe của Bộ GTVT, Cục ĐBVN♦