BÁO CÁO THỰC TẬP
Đề tài
Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ
Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
MỤC LỤC
III.1.3. Ứng dụng mô hình Tank để tính toán dòng chảy đến hồ 60
Để ứng dụng mô hình TANK tính toán dòng chảy đến hồ Xạ Hương ta sử dụng tài liệu
dòng chảy thực đo trạm Ngọc Thanh, tài liệu mưa và bốc hơi trạm Vĩnh Yên để xác định
bộ thông số của mô hình, sau đó sử dụng bộ thông số của mô hình để tính toán dòng chảy
đến tuyến công trình 60
III.1.3.1. Tài liệu dùng cho mô hình 61
Kiểm định mô hình 62
62
Bảng 3-1: Bộ thông số mô hình TSVY.PAR 63
MỞ ĐẦU
Như chúng ta đều biết, nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự hình
thành, phát triển của xã hội loài người. Bên cạnh vai trò quan trọng đó nước cũng là
một trong những tác nhân gây ra các hiểm hoạ như lũ lụt, hạn hán và sa mạc hoá,
tác động trực tiếp đến đời sống của con người. Thậm chí ở một số nơi trên thế giới,
việc giành quyền sở hữu nguồn nước là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những cuộc
xung đột đẫm máu giữa một số quốc gia.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, hệ thống sông, hồ, kênh rạch phong
phú và lượng mưa trung bình hàng năm tương đối lớn, từ 1.200 đến 3.000 mm. Là
một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên nước phong phú, thuộc loại cao trên
thế giới và có trữ lượng nước dồi dào ở khu vực Châu Á Chính sự ưu đãi to lớn về
tài nguyên thiên nhiên như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của kinh
tế - xã hội. Tuy nhiên, sự phân bố rất không đều giữa các mùa trong năm và giữa
các vùng, các lưu vực sông trong cả nước, gây ra lũ lụt vào mùa mưa và hạn hán,
Chương 2: Tính toán các yếu tố khí tượng: Chương này phân tích và tính
toán một số đặc trưng bao gồm: Lượng mưa bình quân trên lưu vực; lượng mưa
năm thiết kế; phân mùa mưa, tính toán phân phối mưa năm.
Chương 3: Tính toán thủy văn thiết kế: Chương này phân tích tính toán
dòng chảy năm; tính toán dòng chảy lũ; tính toán dòng chảy bùn cát.
Chương 4: Điều tiết dòng chảy : Chương này tính toán điều tiết để xác định
dung tích hiệu dụng của hồ Xạ Hương từ đó phục vụ thiết kế xây dựng hồ chứa và
điều tiết cấp nước cho khu vực Bình Xuyên. Ngoài ra tính toán điều tiết lũ nhằm
phòng lũ cho công trình.
Với những nội dung đó, đồ án giúp Sinh Viên biết cách vận dụng các các
kiến thức đã học vào việc tính toán thủy văn phục vụ thiết kế xây dựng các công
trình thủy lợi. Ngoài ra đồ án còn giúp sinh viên biết phân tích lựa chọn những
phương pháp tính toán phù hợp, phân tích được tính quy luật của các yếu tố thủy
văn từ kết quả tính toán.
CHƯƠNG I
ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
I.1. Tỉnh Vĩnh Phúc
I.1.1. Điều kiện tự nhiên
I.1.1.1. Vị trí địa lí
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng thuộc trung du và
miền núi phía bắc. Vĩnh Phúc là một tỉnh ở vùng đỉnh của châu thổ Sông Hồng,
thuộc khu vực chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng vì vậy có ba vùng sinh thái:
Đồng bằng ở phía Nam tỉnh, Trung du ở phía Bắc tỉnh, vùng núi ở huyện Tam Đảo.
Diện tích tự nhiên, tính đến 31/12/2008 là 1.231,76 km
2
Tỉnh Vĩnh Phúc có các điểm cực:
- Điểm cực bắc ở 210,35 vĩ bắc (Đạo Trù - Tam Đảo)
- Điểm cực nam ở 210,06 vĩ bắc (Tráng Việt - Mê Linh)
- Điểm cực đông ở 1060,48 kinh đông (Ngọc Thanh TX Phúc Yên)
núi Bình Xuyên là vùng được thành tạo vào thời kì Trung Trias giữa Đệ Tam, gồm
các lớp trầm tích bể cạn, gồm các phiến thạch, sa thạch, phiến sa và một số loại đá
khác xen kẽ.
Địa hình núi thấp và trung bình: Có diện tích tự nhiên là 56.300 ha, chiếm
46,3% diện tích tự nhiên của tỉnh. Địa hình vùng núi phức tạp bị chia cắt, có nhiều
sông suối, đây là một trong những ưu thế của Vĩnh Phúc so với các tỉnh quanh Hà
Nội, vì nó sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các khu công nghiệp tập
trung và các khu du lịch sinh thái. Vùng núi Tam Đảo có diện tích rừng quốc gia là
15.753ha.
a. Vùng núi Lập Thạch, Sông Lô, Tam Đảo
Vùng núi Tam Đảo, Lập Thạch, Sông Lô nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới
ẩm mưa mùa vùng núi. Lượng mưa ở đai cao của núi Tam Đảo khá lớn (2.600 mm)
vì ở đây có thêm lượng mưa địa hình. Mùa mưa từ tháng 4 đến cuối tháng 10 chiếm
90% tổng lượng mưa cả năm. Mưa nhiều vào các tháng 6, 7, 8 và 9, cao nhất vào
tháng 8 dương lịch, thường gây xói mòn và lũ lớn. Số ngày mưa khá nhiều trong
năm (trên 140 ngày). Nhiệt độ trung bình của vùng núi cao trung bình là 19-20
0
C.
Còn khu vực chân núi nhiệt độ cao hơn, khoảng từ 22-23
0
C, tháng lạnh nhất là
tháng 1 (11-15
0
C), tháng nóng nhất là khoảng tháng 7 (26-28
0
C). Riêng vùng đỉnh
núi có nền nhiệt độ thấp hơn cả, bình quân từ 18 - 19
0
C, nhiệt độ xuống thấp nhất là
phong phú bao gồm các kiểu rừng:
Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp: Phân bố ở khu vực 700m,
loại rừng này chiếm phần lớn dãy Tam Đảo với những loài cây có giá trị kinh tế cao
như: Chò chỉ (Choera chinensis), Giổi (Michelia Ital), Re (Cinnamomum Ital)
Quần hệ thực vật kiểu rừng này gồm nhiều tầng, tán kín với những loài cây lá rộng
thường xanh hợp thành. Kiểu rừng này đang bị tàn phá nặng nề.
Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình: Phân bố ở độ cao
800m trở lên (chỉ có ở dãy Tam Đảo). Quần hệ thực vật là các loài họ Dầu
(Dipterocarpaceae), họ Re (Lauraceae). Dẻ (Fagceae), họ Chè (Theaceae), họ Mộc
Lan (Magnoliaceae), họ Sau Sau (Hamamelidaceae). Ngoài ra, ở độ cao trên 1.000
m xuất hiện một số loài thuộc ngành hạt trần như: Thông (Dacrycarpus), Pơ mu
(Fokienia hodginsii), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Thông yến tử
(Podorcarpus pilgeri), Kim giao (Nageia fleuryi).
Rừng lùn trên đỉnh núi: Là một kiểu phụ đặc thù của rừng kín thường xanh
mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình, được hình thành trên các đỉnh dốc, hay các đỉnh
núi cao đất xấu, nhiều nắng gió, mây mù. Vì vậy cây cối thường thấp, bé và phát
triển chậm. Rừng tre nứa: Mọc xen kẽ trong các kiểu rừng khác. Các loại tiêu biểu
là Vầu, Sặt gai ở độ cao trên 800m; Giang thường ở độ cao 500- 800m; Nứa thường
ở độ cao dưới 500m.
Rừng phục hồi sau nương rẫy: Kiểu rừng này hình thành từ rừng bị khai thác
gỗ nặng nề trước những năm 80, thường có ở vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam
Đảo.
Rừng trồng: Gồm các loại rừng: Rừng thông, rừng Bạch đàn, rừng Keo và
rừng lá rộng, được trồng ở độ cao khoảng từ 200-600m. Rừng trồng được bao phủ
với diện tích khá lớn ở phần phía Tây Bắc của vùng (vùng Lập Thạch). Ngoài
ra, những khu vực thung lũng, sông suối và phần phía Nam của vùng còn trồng cây
lương thực, rau màu. Ngoài ra trong vùng còn có các kiểu trảng cây bụi, trảng cỏ
thứ sinh sau khai thác.
b. Vùng trung du: Bình Xuyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Tam Dương
). Dọc theo các sông suối có
các bậc thềm tích tụ sông bậc 1 và các bề mặt đồng bằng tích tụ tầng thấp giữa vùng
đồi thấp. Thấp hơn là những bãi bồi tuổi hiện đại bằng phẳng (< 3
0
). Phần phía
Đông của vùng có dạng địa hình đồi cao, nằm trên phần kéo dài của khối Tam Đảo,
có tuổi Triat trung thuộc hệ tầng Nà Khuất và hệ tầng sông Hiến.
Đây là vùng đồi gò nên các chỉ tiêu khí hậu được đo tại trạm khí tượng Vĩnh
Yên. Khí hậu thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa: Gió Đông Nam: thổi từ tháng 4
đến tháng 9; Gió Đông Bắc: thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Tạo ra 2 mùa rõ
rệt: Mùa nóng ẩm, mưa nhiều: từ tháng 4 đến tháng 9; Mùa lạnh khô, mưa ít: từ
tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23- 24
0
C, lạnh nhất
vào tháng 1 là 16,7
0
C và tháng nóng nhất là tháng 7 với nhiệt độ trung bình tháng là
30,2
o
C. Lượng mưa hàng năm là 1.166,6mm, tháng khô nhất là tháng 11 - 12 với
lượng mưa chỉ vào khoảng 9,0 đến 9,5 mm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 8 với
lượng mưa lên tới 236,0 mm. Độ ẩm tương đối trung bình là 78 - 80%, trong đó
tháng độ ẩm nhỏ nhất là tháng 2 (72%), và độ ấm lớn nhất vào tháng 8.
Mạng lưới thủy văn dày đặc, nhiều sông, suối, hồ, đầm. Hệ thống lớn nhất là
hệ thống sông Đáy, với lưu lượng nước bình quân là 23 m
3
/s; lưu lượng cao nhất là
833m
3
/s; mùa khô kiệt, lưu lượng chỉ 4 m
dùng lớp đất sét có latarit này để làm gạch đá ong và gạch không nung.
Thực vật trong vùng chủ yếu là rừng trồng rải rác khắp vùng và trồng các
loại cây ăn quả như vải, nhãn,… các loại cây công nghiệp ngắn ngày (đậu tương,
lạc), cây lương thực được trồng ở những khu vực có địa hình thấp, độ dốc nhỏ.
c. Vùng đồng bằng Vĩnh Tường, Yên Lạc, Nam Bình Xuyên
Vùng này phần lớn diện tích nằm trên trầm tích sông tuổi Holocen trung -
thượng (aQ
IV
2-3
), phía Đông và Đông Nam có trầm tích biển tuổi Pleistocen (mQ
III
),
trầm tích hồ - đầm tuổi Pleistocen (lbQ
IV
2-3
) và một khối sót có tuổi Neogen hạ
thuộc hệ tầng Na Dương (N
1
nd).
Đây là vùng đồng bằng ven sông có độ cao nhỏ hơn 30m. Gồm các khu vực
ven sông Hồng, vùng này có độ dốc nhỏ, dưới 5
0
.
Khí hậu vùng thuộc kiểu khí hậu vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhiệt độ trung bình
khoảng 23
0
C, nhiệt độ trung bình tháng 7 là 28
0
C, trung bình tháng 1 là 16
trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây lương thực. Ngoài ra, còn trồng các
loại cây dược thảo, các loại hoa. Khu vực trong đê thường trồng lúa 1 vụ, 2 vụ; khu
vực ngoài đê thường là đất được sử dụng chuyên trồng màu.
Như vậy, sự phân hóa về địa bàn của Vĩnh Phúc khá phức tạp. Dựa vào đặc
điểm điều kiện tự nhiên, sự phân hóa về địa hình, cấu trúc của lớp địa chất, thổ
nhưỡng, điều kiện khí hậu thủy văn, Vĩnh Phúc được chia thành 3 vùng địa lí tự
nhiên, mỗi vùng có những đặc trưng riêng: vùng núi Tam Đảo, Lập Thạch, Sông Lô
có khí hậu mát mẻ, có tiềm năng du lịch lớn; đồng thời phát triển các loại hình kinh
tế hộ, kinh tế trang trại. Vùng trung du Bình Xuyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Tam
Dương phát triển mạnh cả về công nghiệp lẫn nông nghiệp; vùng đồng bằng Vĩnh
Tường, Yên Lạc, Nam Bình Xuyên đẩy mạnh phát triển các khu công nghiệp tập
trung, nông nghiệp hàng hóa. Đây là vùng có lợi thế phát triển nông nghiệp, các
làng nghề và tiểu thủ công nghiệp.
I.1.1.3. Địa chất
Về đất, có thể nói tiềm năng to lớn nhất của Vĩnh Phúc là đất. Đất ở đây có
nhiều loại. Không kể vùng núi cao Tam Đảo, Vĩnh Phúc chủ yếu là bán sơn địa,
vùng trung du, vùng đồi đất thấp và đồng bằng.
Vùng đồi gò trung du Vĩnh Phúc kéo dài từ Lập Thạch qua Vĩnh Yên đến
Mê Linh là vùng đất mở rộng từ chân núi Tam Đảo ra tới gần quốc lộ 2. Đây là
vùng phù sa cổ được nâng lên, có tầng dày đất sét pha cát có lẫn một ít sỏi và cuội
rất thích hợp để trồng cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày và cây lương thực phụ.
Vùng đồng bằng châu thổ kéo dài từ vùng đồi gò ra tận thung lũng sông
Hồng, sông Lô. Đây là vùng đất phù sa mới, được bồi tụ trong thời toàn tân, chứa
nhiều khoáng chất và vi lượng nên rất phì nhiêu, mầu mỡ, sẵn nước cộng với khí
hậu ôn hoà, rất thuận lợi cho việc thâm canh phát triển nền công nghiệp trồng lúa
nước. Nhờ vậy, mà đất ở Vĩnh Phúc, kể cả vùng gò đồi lẫn đồng bằng châu thổ đã
sớm được khai phá trồng trọt từ thời dựng nước đầu tiên của dân tộc.
I.1.1.4. Thực vật và động vật
Thảm thực vật ở đây thể hiện rõ trong nền cảnh chung của rừng nhiệt đới gió
quốc gia Tam Đảo vẫn được xem là một bảo tàng thiên nhiên vô giá. Chắc hẳn vào
thời cách tân và toàn tân, không chỉ rừng núi Tam Đảo mà cả Vĩnh Phúc là một
quần thể động thực vật vô cùng phong phú, nguồn cung cấp lương thực quan trọng
cho con ngời lúc bấy giờ, nhất là trong thời kỳ sinh sống bằng săn bắt và hái lượm.
Cũng cần nói thêm, Vĩnh Phúc có sông lớn bao quanh 3 mặt, có nhiều đầm
hồ lớn nhỏ đều khắp các huyện, không những là nguồn cung cấp nước quan trọng
mà còn là nơi cung cấp thực phẩm cần thiết cho cuộc sống con ngời. Đó là các loại
thuỷ sản như cá, tôm, cua, ốc, hến…, trong đó có nhiều loại nổi tiếng cho mãi đến
hôm nay, như cá Anh Vũ trong lòng sông Hồng, vùng Việt Trì - Bạch Hạc được
xem là một đặc sản, một loại cá quý của Vĩnh Phúc. Hoặc như hến trong lòng sông
Phan, đã trở thành một món ăn đặc sản của nhân dân vùng quê Yên Lạc hôm nay.
Chắc hẳn từ thuở xa xưa, người dân nơi đây đã biết đến hến và khai thác hến làm
thức ăn. Trong di chỉ Yên Lạc đã phát hiện được khá nhiều vỏ hến bị đốt cháy là
minh chứng cụ thể sinh động về việc bắt hến chế làm thức ăn của ngời xa xưa.
I.1.1.5. Khí hậu
Vĩnh Phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có đầy đủ các đặc
điểm khí hậu của vùng trung du miền núi phía Bắc.
Nhiệt độ trung bình năm là 23,5 – 25
0
C, nhiệt độ cao nhất là 41.1
0
C, nhiệt độ
thấp nhất là 2
0
C. Tổng số giờ nắng bình quân trong năm là 1.400 đến 1.800 giờ, Độ
ẩm bình quân cả năm là 83%.
Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.400 đến 1.600 mm, trong đó, lượng
mưa bình quân cả năm của vùng đồng bằng và trung du tại trạm Vĩnh Yên là
1.570,2 mm, vùng núi tại trạm Tam Đảo là 2.140 mm. Lượng mưa phân bố không
a. Thành phần dân cư
Ngay từ thời dựng nước, người Việt cổ đã sinh sống tại địa bàn Vĩnh Phúc.
Các cuộc khai quật khảo cổ học cho phép đoán định rằng người Việt cổ có mặt ở
Vĩnh Phúc từ hơn 3.500 năm nay. Từ hơn 1.500 năm trước Công nguyên, người
Việt cổ đã tiến ra chinh phục vùng đỉnh châu thổ sông Hồng, định cư tại các địa
điểm mà người xưa gọi là chạ, trang, ké, làng v.v. Từ thế kỷ II, dân cư Vĩnh Phúc
đã có những biến động do phiêu tán và nhập cư. Vào thế kỷ XVII-XVIII, một số tộc
người ở miền nam Trung Quốc bị phong kiến nhà Minh, nhà Thanh chèn ép, bóc lột
và bị thiên tai đã tìm đường sang Việt Nam sinh sống. Sau khi du canh, du cư ở
nhiều nơi, một bộ phận người Cao Lan, người Dao, người Sán Dìu đã đến định cư ở
Vĩnh Phúc. Thời kỳ thuộc Pháp, ở Vĩnh Phúc còn có một số ngoại kiều đến làm
việc, buôn bán. Sách "Niên giám đại cương các nước Đông Dương" năm 1903 ghi:
"Vĩnh Yên có 39 người Âu, 7 người Hoa. Người Âu là quan và lính Pháp, người
Hoa là các nhà buôn", “Phù Lỗ có 18 người Âu và 4 người Hoa".
Năm 1930 tỉnh Vĩnh Yên có 208.282 người Kinh; 56 người Âu; 2.008 người
Cao Lan và Sán Dìu; 45 người Thổ; 31 người Hoa. Tỉnh Phúc Yên có 174.467
người Kinh; 22 người Âu; 727 người Sán Dìu; 34 người Hoa.
Năm 1990 – 1996 tỉnh Vĩnh Phúc, không kể người Kinh và người nước
ngoài, tòan tỉnh có 30 dân tộc thiểu số. Các dân tộc Sán Chay (nhóm Cao Lan), Sán
Dìu, Dao (nhóm Dao Quần Chẹt) có dân số đông hơn cả so với các dân tộc thiểu số
khác.
Tuy vậy, ở tỉnh Vĩnh Phúc, thành phần dân tộc chủ yếu chỉ bao gồm 8 dân
tộc có từ 100 người trở lên là Kinh (1.055.390 người), Tày (870 người), Thái (155
người), Mường (347 người), Nùng (451 người), Dao (666 người), Sán Chay (nhóm
Cao Lan, 1.281 người), Sán Dìu (32.495 người), trong đó người Kinh chiếm đa số
(96,6%), còn lại là các dân tộc thiểu số (3,4%). Sán Dìu là dân tộc đông dân nhất
trong các dân tộc thiểu số ở Vĩnh Phúc, chiếm 88,63% tổng dân số các dân tộc thiểu
số trong tỉnh.
Tỉnh Vĩnh Phúc có 39 xã được công nhận là xã miền núi, trong đó 25 xã ở
chân núi phía sườn Tây - Nam của dãy Tam Đảo thuộc các huyện Lập Thạch, Tam
Đảo, Tam Dương, Bình Xuyên và thị xã Phúc Yên. Từ giữa thế kỷ XX, họ đã cư trú
ổn định trên một dải đất dài hàng trăm km từ xã Ngọc Thanh (Phúc Yên) tới xã
Quang Sơn và Yên Dương, huyện Lập Thạch, Sông Lô. Người Sán Dìu thích chọn
nơi đất ở là vùng bán sơn địa, có đồi, núi, đất bằng ven sông suối để khai khẩn
thành ruộng lúa nước. Vùng đất đầu tiên họ đến là ven chân núi Tam Đảo, nơi có
rừng nguyên sinh rậm rạp, nhiều chim thú, đất đai mầu mỡ, có tầng đất mùn dày
thích hợp trồng cấy các loại cây lương thực, lại có nguồn nước vô tận từ các dòng
suối lớn nhỏ bắt nguồn từ núi Tam Đảo. Các xã Minh Quang, Tam Quan, Trung
Mỹ, Hồ Sơn, Hợp Châu tuy xưa kia là núi rừng rậm rạp nhưng đến nay đã là dải
đất khá bằng phẳng, đã quy tụ nhiều người Sán Dìu sinh sống. Người Sán Dìu ở các
xã Đạo Trù, Yên Dương, Bồ Lí, Quang Sơn, Bắc Bình. v.v. phía đông - bắc huyện
Lập Thạch cũng có địa thế sinh tụ tương tự.
Hai nhóm người Cao Lan và Sán Chỉ có nguồn gốc ở Quảng Đông và Quảng
Tây, Trung Quốc đến Việt Nam vào khoảng cuối đời Minh, đầu đời Thanh, vượt
qua biên giới Việt - Trung ở khu vực từ Móng Cái đến Lạng Sơn, sau đó chuyển
dần về phía nam đến các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên
Quang, Yên Bái. Theo tài liệu của Ban Dân tộc tỉnh Vĩnh Phú (1972), người Cao
Lan có nguồn gốc ở Quảng Đông, Trung Quốc, bị nhà Minh đàn áp, bóc lột mới di
cư sang Việt Nam vào khoảng những năm 1624. Người Cao Lan nhập cư vào Vĩnh
Phúc trên 100 năm nay, họ chủ yếu cư trú tại xã Quang Yên, huyện Sông Lô. Nơi
đây có thể coi là điểm chót của dải đất lớn mà người Cao Lan sinh sống vốn trải dài
từ huyện Trấn Yên, Yên Bình, Lục Yên (tỉnh Yên Bái), huyện Đoan Hùng, Phù
Ninh (tỉnh Phú Thọ), huyện Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang).
Trong xã Quang Yên, người Cao Lan cư trú tập trung trong 4 thôn bám vào chân
núi Sáng, núi Bồ Thần và núi Thét, đó là: Đồng Dong, Đồng Dạ, Bản Mo (Xóm
Mới) và bản Đồng Găng (hay Đồng Căng). Theo số liệu Ban dân tộc tỉnh Vĩnh Phúc
đến tháng 12 -2007, dân số người Cao Lan chiếm hơn 20% dân số toàn xã, phân bố
trong các thôn như sau: Đồng Dạ (63 hộ, 251 khẩu), Đồng Găng (43 hộ, 205 khẩu),
385.672 người.
Năm 1950, khi hợp nhất tỉnh, Vĩnh Phúc có diện tích 1.715 km
2
với dân số
gần 47 vạn người, bao gồm 14 dân tộc, trong đó đông nhất là người Kinh (chiếm
98,38%). Đồng bào dân tộc thiểu số sống rải rác ở 17 xã dọc dãy núi Tam Đảo và
núi Sáng thuộc 5 huyện (Tam Dương, Bình Xuyên, Lập Thạch, Kim Anh và Đa
Phúc).
Theo bảng thống kê dân số năm 1956 của tỉnh Vĩnh Phúc đã được Bộ Nội vụ
điều chỉnh số liệu thì tổng số hộ là 123.098 và số dân 541.038 người.
Tính đến 31/12/1985, toàn tỉnh có 841.390 người. Năm 1997, ngay sau khi
tái lập tỉnh, dân số toàn tỉnh là 1.103.810 người. Năm 1999, theo kết quả Tổng điều
tra dân số và nhà ở, toàn tỉnh có 1.091.973 người (trong đó có 560.077 nữ).
Từ năm 2000 đến năm 2007, dân số toàn tỉnh tương ứng đạt quy mô:
1.110.111; 1.125.415; 1.137.316; 1.148.731; 1.154.792; 1.168.889; 1.180.418 và
1.190.428. Bình quân mỗi năm dân số Vĩnh Phúc tăng thêm hơn 10 nghìn người;
nhiều gấp 1,3 lần dân số một xã trung bình của tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
Với mức dân số 1.014.488 người, Vĩnh Phúc là tỉnh có quy mô dân số nhỏ
hơn so với dân số trung bình của một tỉnh trong toàn quốc và thấp hơn nhiều so với
dân số trung bình của một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng.
Bảng 1-7: Đơn vị hành chính, diện tích, dân số trung bình và mật độ dân số
tỉnh Vĩnh Phúc năm 2008
STT
Tên huyện, thị xã, thành
phố
Số xã
Số phường,
thị trấn
Diện tích
Từ năm 1990 đến năm 2004, tuy tốc độ phát triển dân số ở Vĩnh Phúc có
chiều hướng giảm nhưng quy mô dân số vẫn tiếp tục gia tăng bình quân 12.850
người/năm, lớn hơn 1,7 lần dân số một xã trung bình năm 2004 của tỉnh, do đó năm
1990 dân số trung bình toàn tỉnh mới có 962.003 người, nhưng sau 15 năm đã đạt
1.154.792 người (thấp hơn so với dự báo trong Chiến lược dân số giai đoạn 2001-
2010; dự báo năm 2004 đạt 1.164.400 người). Theo dự báo của Cục Thống kê tỉnh
Vĩnh Phúc, trong 10 năm từ 2001 đến 2010, mỗi năm dân số vẫn tăng trung bình
11.685 người, quy mô dân số sẽ đạt 1.241.000 người vào năm 2010.
Tốc độ tăng dân số tỉnh Vĩnh Phúc có xu hướng tăng, nhưng đến năm 2002
và 2003 mức tăng đã có biểu hiện giảm xuống. Nếu coi tốc độ tăng dân số năm
1990 là 100% thì năm 2001 đạt 101,38% và năm 2004 chỉ ở mức 100,53%. Dân số
phát triển với tốc độ cao và chưa ổn định đã gây sức ép không nhỏ tới sự phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh.
Quy mô dân số tăng lên kéo theo số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15- 49)
cũng sẽ tăng trung bình 7.750 người/năm trong giai đoạn 2001-2010. Uớc tính bình
quân trong giai đoạn 2001-2010, mỗi năm cứ có 1 phụ nữ bước ra khỏi tuổi sinh đẻ
thì có 2,94 phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ. Tỷ lệ này cho thấy một tiềm năng sinh sản
cao của dân số Vĩnh Phúc trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI.
Theo kết quả điều tra dân số 01/04/2009 dân số tỉnh Vĩnh Phúc là 1.000.838
người.
Phân bố dân số
Quy mô dân số tăng lên trên một diện tích tự nhiên vốn tương đối ổn định,
dẫn đến mật độ dân số Vĩnh Phúc cũng tăng theo: từ 680 người/km
2
năm 1989 đã
tăng lên tới 867 người/km
2
năm 2007, cao hơn 3 lần so với mật độ trung bình của
nước ta (Việt Nam năm 2007: 257 người/km
2
nhất, là kết quả của mức sinh đẻ còn cao. Tuy vậy, chỉ sau một thập kỉ, năm 1999
tháp dân số của tỉnh đã có biến đổi rõ rệt theo chiều hướng giảm tỉ trọng trẻ em
nhóm 0 - 4 và 5 - 9 tuổi. Kết quả này là do tác động của công tác dân số của tỉnh
trong một thời gian lâu dài.
Tháp dân số năm 1999 tỉnh Vĩnh Phúc đã có biến đổi theo chiều hướng đáy
tháp thu hẹp lại. Tỉ trọng trẻ em dưới 15 tuổi có xu hướng giảm từ 40% năm 1989
xuống còn 32,1% năm 2000 (tương đương với toàn quốc: 39,2% và 33,0% ) và dự
kiến còn 28% năm 2010. Tuy vậy, tỉ trọng này cũng vẫn là thách thức lớn đối với
việc chăm sóc, nuôi dạy trẻ em và tạo việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó
tình trạng già hóa dân số cũng diễn ra dù chậm chạp, với tỉ trọng nhóm người 60
tuổi trở lên tuy thấp nhưng đang tăng lên từ 7,5% năm 1989 đến 8,6% năm 2000 và
dự kiến đạt 10% vào năm 2010, sẽ liên quan đến việc gia tăng các phúc lợi xã hội
và dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người già.
Tỉ trọng nhóm tuổi lao động (15 - 59) chiếm 50,5% năm 1989 (thấp hơn so
với toàn quốc: 53,7%), tăng lên 60,6% năm 2000 (toàn quốc năm 1999: 59,0%) và
dự kiến sẽ tăng lên 62% năm 2010. Sự tăng lên không ngừng của dân số trong tuổi
lao động trong giai đoạn 2001- 2010 là lợi thế cho nguồn lao động nhưng cũng trở
thành nguy cơ bùng nổ dân số nếu chính sách dân số không được thực hiện tốt.
Với cơ cấu tuổi như nêu trên, tỉ số phụ thuộc trong dân số Vĩnh Phúc cũng
giống như của cả nước đã và sẽ không ngừng giảm xuống, mỗi người lao động sẽ
nhẹ gánh người ăn theo hơn, tạo điều kiện tốt cho nền kinh tế quốc dân, kinh tế gia
đình có tiết kiệm để đầu tư và phát triển.
- Cơ cấu dân số theo giới
Từ năm 1990 đến năm 2007, những số liệu có được đã cho thấy ở tỉnh Vĩnh
Phúc, số lượng nữ trong dân số luôn nhiều hơn so với số lượng nam. Tỉ lệ nam giới
trong dân số ở Vĩnh Phúc năm 1990 chiếm 47,8%, năm 1997 là 48,6% và năm 2004
là 48,3% đều thấp hơn so với tỉ lệ nam trong dân số toàn quốc (tương ứng là
48,54%; 48,96% và 49,15%).
Đến hết 31/12/ 2006, theo số liệu thống kê chuyên ngành Dân số Gia đình
Năm 2006, Vĩnh Phúc đã vươn lên đứng thứ 9 trong các tỉnh thành trên cả
nước về thu ngân sách với 4.027 tỷ đồng. Với hàng trăm doanh nghiệp trong nước
và nước ngoài với tổng mức vốn đầu tư khoảng gần 600 triệu USD và 15.600 tỷ
đồng, được đầu tư ở 14 cụm, khu công nghiệp, khu vui chơi, giải trí, du lịch trên
khắp địa bàn.
Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh liên tục đứng ở vị trí tốp đầu về chỉ só
năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong bảng xếp hạng những năm gần đây.
I.2. Huyện Bình Xuyên – Vĩnh Phúc
I.2.1. Địa lý
Bình Xuyên là một huyện bán sơn địa (trung du), phần phía bắc có địa hình
gò đồi. Huyện Bình Xuyên có ranh giới phía Đông Nam giáp huyện Mê Linh, phía
Đông giáp thị xã Phúc Yên, phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Tam Đảo, phía Tây
Bắc giáp huyện Tam Dương, phía Tây giáp thành phố Vĩnh Yên, phía Tây Nam
giáp huyện Yên Lạc.
Huyện Bình Xuyên có diện tích 145.67 km
2
.
I.2.2. Hành chính