Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
MỤC LỤC
III.1.3. Ứng dụng mô hình Tank để tính toán dòng chảy đến hồ............................................59
Để ứng dụng mô hình TANK tính toán dòng chảy đến hồ Xạ Hương ta sử dụng tài liệu
dòng chảy thực đo trạm Ngọc Thanh, tài liệu mưa và bốc hơi trạm Vĩnh Yên để xác định bộ
thông số của mô hình, sau đó sử dụng bộ thông số của mô hình để tính toán dòng chảy đến
tuyến công trình........................................................................................................................59
III.1.3.1. Tài liệu dùng cho mô hình.........................................................................................60
Kiểm định mô hình ..................................................................................................................61
...................................................................................................................................................61
Bảng 3-1: Bộ thông số mô hình TSVY.PAR...........................................................................62
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
5
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
MỞ ĐẦU
Như chúng ta đều biết, nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự hình
thành, phát triển của xã hội loài người. Bên cạnh vai trò quan trọng đó nước cũng là
một trong những tác nhân gây ra các hiểm hoạ như lũ lụt, hạn hán và sa mạc hoá, tác
động trực tiếp đến đời sống của con người. Thậm chí ở một số nơi trên thế giới, việc
giành quyền sở hữu nguồn nước là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những cuộc xung
đột đẫm máu giữa một số quốc gia.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, hệ thống sông, hồ, kênh rạch phong
phú và lượng mưa trung bình hàng năm tương đối lớn, từ 1.200 đến 3.000 mm. Là
một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên nước phong phú, thuộc loại cao trên
thế giới và có trữ lượng nước dồi dào ở khu vực Châu Á Chính sự ưu đãi to lớn về tài
nguyên thiên nhiên như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế -
xã hội. Tuy nhiên, sự phân bố rất không đều giữa các mùa trong năm và giữa các
vùng, các lưu vực sông trong cả nước, gây ra lũ lụt vào mùa mưa và hạn hán, thiếu
nước về mùa khô. Cùng với quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước,
những vấn đề mới nảy sinh như ô nhiễm môi trường, ô nhiễm dòng chảy sông hồ, sự
cạn kiệt nguồn nước… đã và đang gây ra những hậu quả nặng nề, ảnh hưởng tiêu cực
toán một số đặc trưng bao gồm: Lượng mưa bình quân trên lưu vực; lượng mưa năm
thiết kế; phân mùa mưa, tính toán phân phối mưa năm.
Chương 3: Tính toán thủy văn thiết kế: Chương này phân tích tính toán dòng
chảy năm; tính toán dòng chảy lũ; tính toán dòng chảy bùn cát.
Chương 4: Điều tiết dòng chảy : Chương này tính toán điều tiết để xác định
dung tích hiệu dụng của hồ Xạ Hương từ đó phục vụ thiết kế xây dựng hồ chứa và
điều tiết cấp nước cho khu vực Bình Xuyên. Ngoài ra tính toán điều tiết lũ nhằm
phòng lũ cho công trình.
Với những nội dung đó, đồ án giúp Sinh Viên biết cách vận dụng các các kiến
thức đã học vào việc tính toán thủy văn phục vụ thiết kế xây dựng các công trình thủy
lợi. Ngoài ra đồ án còn giúp sinh viên biết phân tích lựa chọn những phương pháp
tính toán phù hợp, phân tích được tính quy luật của các yếu tố thủy văn từ kết quả
tính toán.
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
7
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
CHƯƠNG I
ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
I.1. Tỉnh Vĩnh Phúc
I.1.1. Điều kiện tự nhiên
I.1.1.1. Vị trí địa lí
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng thuộc trung du và
miền núi phía bắc. Vĩnh Phúc là một tỉnh ở vùng đỉnh của châu thổ Sông Hồng, thuộc
khu vực chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng vì vậy có ba vùng sinh thái: Đồng
bằng ở phía Nam tỉnh, Trung du ở phía Bắc tỉnh, vùng núi ở huyện Tam Đảo. Diện
tích tự nhiên, tính đến 31/12/2008 là 1.231,76 km
2
Tỉnh Vĩnh Phúc có các điểm cực:
- Điểm cực bắc ở 210,35 vĩ bắc (Đạo Trù - Tam Đảo)
- Điểm cực nam ở 210,06 vĩ bắc (Tráng Việt - Mê Linh)
ha, đây là vùng đồi thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả và hoa màu
kết hợp với chăn nuôi gia súc, tạo điều kiện thuận lợi trong việc chuyển đổi cơ cấu
cây trồng và chăn nuôi theo hướng tăng sản xuất hàng hoá thực phẩm. Vùng đồi núi
Bình Xuyên là vùng được thành tạo vào thời kì Trung Trias giữa Đệ Tam, gồm các
lớp trầm tích bể cạn, gồm các phiến thạch, sa thạch, phiến sa và một số loại đá khác
xen kẽ.
Địa hình núi thấp và trung bình : Có diện tích tự nhiên là 56.300 ha, chiếm
46,3% diện tích tự nhiên của tỉnh. Địa hình vùng núi phức tạp bị chia cắt, có nhiều
sông suối, đây là một trong những ưu thế của Vĩnh Phúc so với các tỉnh quanh Hà
Nội, vì nó sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các khu công nghiệp tập trung
và các khu du lịch sinh thái. Vùng núi Tam Đảo có diện tích rừng quốc gia là
15.753ha.
a. Vùng núi Lập Thạch, Sông Lô, Tam Đảo
Vùng núi Tam Đảo, Lập Thạch, Sông Lô nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm
mưa mùa vùng núi. Lượng mưa ở đai cao của núi Tam Đảo khá lớn (2.600 mm) vì ở
đây có thêm lượng mưa địa hình. Mùa mưa từ tháng 4 đến cuối tháng 10 chiếm 90%
tổng lượng mưa cả năm. Mưa nhiều vào các tháng 6, 7, 8 và 9, cao nhất vào tháng 8
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
9
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
dương lịch, thường gây xói mòn và lũ lớn. Số ngày mưa khá nhiều trong năm (trên
140 ngày). Nhiệt độ trung bình của vùng núi cao trung bình là 19-20
0
C. Còn khu vực
chân núi nhiệt độ cao hơn, khoảng từ 22-23
0
C, tháng lạnh nhất là tháng 1 (11-15
0
C),
tháng nóng nhất là khoảng tháng 7 (26-28
loang lổ. Dọc theo các sông suối, thung lũng, các đứt gãy trong vùng có các loại đất cát
chua và một số nơi có đất phù sa chua. Phía Nam của vùng có đất xám vàng đá nông,
phía Tây có đất xám điển hình glay sâu.
Đối với vùng núi Tam Đảo, Lập Thạch, Sông Lô tính đặc thù của các nhân tố
sinh thái phát sinh đã tạo nên đặc điểm đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật phong
phú bao gồm các kiểu rừng:
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
10
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp: Phân bố ở khu vực 700m,
loại rừng này chiếm phần lớn dãy Tam Đảo với những loài cây có giá trị kinh tế cao
như: Chò chỉ (Choera chinensis), Giổi (Michelia Ital), Re (Cinnamomum Ital)... Quần
hệ thực vật kiểu rừng này gồm nhiều tầng, tán kín với những loài cây lá rộng thường
xanh hợp thành. Kiểu rừng này đang bị tàn phá nặng nề.
Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình: Phân bố ở độ cao
800m trở lên (chỉ có ở dãy Tam Đảo). Quần hệ thực vật là các loài họ Dầu
(Dipterocarpaceae), họ Re (Lauraceae). Dẻ (Fagceae), họ Chè (Theaceae), họ Mộc
Lan (Magnoliaceae), họ Sau Sau (Hamamelidaceae). Ngoài ra, ở độ cao trên 1.000 m
xuất hiện một số loài thuộc ngành hạt trần như: Thông (Dacrycarpus), Pơ mu
(Fokienia hodginsii), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Thông yến tử (Podorcarpus
pilgeri), Kim giao (Nageia fleuryi).
Rừng lùn trên đỉnh núi: Là một kiểu phụ đặc thù của rừng kín thường xanh
mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình, được hình thành trên các đỉnh dốc, hay các đỉnh
núi cao đất xấu, nhiều nắng gió, mây mù. Vì vậy cây cối thường thấp, bé và phát triển
chậm. Rừng tre nứa: Mọc xen kẽ trong các kiểu rừng khác. Các loại tiêu biểu là Vầu,
Sặt gai ở độ cao trên 800m; Giang thường ở độ cao 500- 800m; Nứa thường ở độ cao
dưới 500m.
Rừng phục hồi sau nương rẫy: Kiểu rừng này hình thành từ rừng bị khai thác
gỗ nặng nề trước những năm 80, thường có ở vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam
Đảo.
độ dốc trung bình < 20
0
, riêng khu phía Đông Bắc của vùng là vùng đồi cao > 20
0
,
khu vực này các dãy đồi cao chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Các đồi gò khác
tồn tại ở dạng khối, phần lớn là các bề mặt Pediment cao 20-60m với độ dốc trung
bình cấp III (từ 8 đến 15
0
). Dọc theo các sông suối có các bậc thềm tích tụ sông bậc 1
và các bề mặt đồng bằng tích tụ tầng thấp giữa vùng đồi thấp. Thấp hơn là những bãi
bồi tuổi hiện đại bằng phẳng (< 3
0
). Phần phía Đông của vùng có dạng địa hình đồi
cao, nằm trên phần kéo dài của khối Tam Đảo, có tuổi Triat trung thuộc hệ tầng Nà
Khuất và hệ tầng sông Hiến.
Đây là vùng đồi gò nên các chỉ tiêu khí hậu được đo tại trạm khí tượng Vĩnh
Yên. Khí hậu thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa: Gió Đông Nam: thổi từ tháng 4
đến tháng 9; Gió Đông Bắc: thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Tạo ra 2 mùa rõ
rệt: Mùa nóng ẩm, mưa nhiều: từ tháng 4 đến tháng 9; Mùa lạnh khô, mưa ít: từ tháng
10 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23- 24
0
C, lạnh nhất vào
tháng 1 là 16,7
0
C và tháng nóng nhất là tháng 7 với nhiệt độ trung bình tháng là
30,2
o
C. Lượng mưa hàng năm là 1.166,6mm, tháng khô nhất là tháng 11 - 12 với
lượng mưa chỉ vào khoảng 9,0 đến 9,5 mm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 8 với
vàng. Đất phù sa chua điển hình phân bố dọc theo các sông suối như sông Đáy, sông
Xạ Hương và các chi lưu của nó. Theo dải hẹp nhỏ dọc theo sông Đáy có đất phù sa
trung tính ít chua, ngập úng vào mùa mưa; Đất glay phân bố ở phía Nam huyện Lập
Thạch, chủ yếu là glay chua điển hình. Đất loang lổ có tồn tại ở khu vực phía Đông
Nam và Tây Nam của vùng. Đất phù sa chua tồn tại phần lớn ở phía Tây và phần
trung tâm của Yên Lạc; đất loang lổ phân bố ở phần phía Tây, phía Bắc và phía Đông
Yên Lạc; đất gley có nhiều nhất ở phía Bắc Yên Lạc và một phần ở phía Nam thị trấn
Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên. Đất phù sa trung tính ít chua có ở ven các con sông chảy
trong vùng. Ngoài ra, còn có đất tầng mỏng trên vùng đồi cao thuộc thị trấn Xuân
Hòa Phúc Yên. Sản phẩm trên bề mặt vùng đồi Vĩnh Phúc là sản phẩm phong hoá
gồm các lớp đất sét nâu đỏ, laterit và các mũ sắt. Nhân dân thường dùng lớp đất sét
có latarit này để làm gạch đá ong và gạch không nung.
Thực vật trong vùng chủ yếu là rừng trồng rải rác khắp vùng và trồng các loại
cây ăn quả như vải, nhãn,… các loại cây công nghiệp ngắn ngày (đậu tương, lạc), cây
lương thực được trồng ở những khu vực có địa hình thấp, độ dốc nhỏ.
c. Vùng đồng bằng Vĩnh Tường, Yên Lạc, Nam Bình Xuyên
Vùng này phần lớn diện tích nằm trên trầm tích sông tuổi Holocen trung -
thượng (aQ
IV
2-3
), phía Đông và Đông Nam có trầm tích biển tuổi Pleistocen (mQ
III
),
trầm tích hồ - đầm tuổi Pleistocen (lbQ
IV
2-3
) và một khối sót có tuổi Neogen hạ thuộc
hệ tầng Na Dương (N
1
nd).
/s. Tác dụng chính của sông là tiêu úng vào
mùa mưa lũ. Riêng khúc sông đầu nguồn cũ từ Vạn Yên đến sông Cánh đã được đắp
chặn lại ở gần thôn Đại Lợi (Mê Linh), dài gần 20km, biến thành một hồ chứa nước
lớn tưới ruộng và nuôi cá. Đầm Rưng trải dài trên khu vực 3 xã: Tam Phúc, Tứ Trung,
Ngũ Kiên (Vĩnh Tường) có diện tích mặt thoáng khoảng 205 ha, về mùa lũ có khi lên
tới 500 ha, có tác dụng tưới tiêu cho khu vực xung quanh và nuôi trồng thủy sản.
Đất trong vùng chủ yếu là đất phù sa trung tính ít chua, trong đó có phù sa
trung tính ít chua điển hình, phù sa trung tính ít chua glay nông và sâu, phù sa trung
tính ít chua loang lổ nông và sâu, phù sa trung tính ít chua có kết von. Phù sa chua là
dải nằm ở phía sau dải đất phù sa trung tính ít chua tính từ sông vào. Phía Đông của
vùng là dải đất loang lổ chiếm diện tích khá lớn, có xen lẫn đất xám.
Thảm thực vật rừng trồng ít, do đây là vùng đồng bằng phù sa nên chủ yếu
trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây lương thực. Ngoài ra, còn trồng các
loại cây dược thảo, các loại hoa. Khu vực trong đê thường trồng lúa 1 vụ, 2 vụ; khu
vực ngoài đê thường là đất được sử dụng chuyên trồng màu.
Như vậy, sự phân hóa về địa bàn của Vĩnh Phúc khá phức tạp. Dựa vào đặc
điểm điều kiện tự nhiên, sự phân hóa về địa hình, cấu trúc của lớp địa chất, thổ
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
14
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
nhưỡng, điều kiện khí hậu thủy văn, Vĩnh Phúc được chia thành 3 vùng địa lí tự
nhiên, mỗi vùng có những đặc trưng riêng: vùng núi Tam Đảo, Lập Thạch, Sông Lô
có khí hậu mát mẻ, có tiềm năng du lịch lớn; đồng thời phát triển các loại hình kinh tế
hộ, kinh tế trang trại. Vùng trung du Bình Xuyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Tam Dương
phát triển mạnh cả về công nghiệp lẫn nông nghiệp; vùng đồng bằng Vĩnh Tường,
Yên Lạc, Nam Bình Xuyên đẩy mạnh phát triển các khu công nghiệp tập trung, nông
nghiệp hàng hóa. Đây là vùng có lợi thế phát triển nông nghiệp, các làng nghề và tiểu
thủ công nghiệp.
I.1.1.3. Địa chất
Về đất, có thể nói tiềm năng to lớn nhất của Vĩnh Phúc là đất. Đất ở đây có
Tam Đảo thành các nhóm sau. Nhóm cho gỗ có 83 loài, nhóm làm rau ăn có 54 loài,
nhóm làm thuốc có 214 loài và nhóm cho quả ăn có 62 loài. Trong số đó, có nhiều
loài có giá trị cao như Pơmu, La Hán, Kim Giao, Sam Pông, Trầm hương. Những loại
thực vật quý hiếm này tập trung ở đỉnh Rùng Rinh và phân bố ở độ cao trên 800m.
Các loại gỗ tứ thiết đinh, lim, sến, táu, lát hoa, nhiều cây thuốc quý như Sa nhân, Ngũ
gia bì, Hà thủ ô, v.v.. và nhiều loại cây búng báng thường gặp trong rừng núi Tam
Đảo.
Về động vật, thống kê cho thấy rừng Tam Đảo có tới 4 lớp, 26 bộ, 86 họ, 281
loài. Trong đó, lớp lưỡng cư có 19 loài, đặc biệt là loài cá lóc Tam Đảo được đưa vào
sách đỏ những là động vật cực kỳ quý hiếm. Lớp bò sát có 46 loài, trong đó tắc kè, kỳ
đà, thằn lằn là những loài có số lợng lớn. Lớp chim nhiều hơn cả, có tới 158 loài,
trong đó có nhiều loại quý hiếm như gà lôi trắng, gà tiền. Lớp thú có 58 loài, các loài
lớn nh gấu, hổ, báo, các loại nhỏ như cầy, sóc, chuột, hươu, nai, hoẵng ..., một số có
giá trị khoa học cao như cheo cheo, voọc đen má trắng, voọc mũi hếch…
Trong số hàng mấy trăm loại động vật ở núi rừng Tam Đảo, có 47 loài được
xem là động vật quý hiếm, trong đó có loài có nguy cơ bị tuyệt diệt. Hiện nay, vườn
quốc gia Tam Đảo vẫn được xem là một bảo tàng thiên nhiên vô giá. Chắc hẳn vào
thời cách tân và toàn tân, không chỉ rừng núi Tam Đảo mà cả Vĩnh Phúc là một quần
thể động thực vật vô cùng phong phú, nguồn cung cấp lương thực quan trọng cho con
ngời lúc bấy giờ, nhất là trong thời kỳ sinh sống bằng săn bắt và hái lượm.
Cũng cần nói thêm, Vĩnh Phúc có sông lớn bao quanh 3 mặt, có nhiều đầm hồ
lớn nhỏ đều khắp các huyện, không những là nguồn cung cấp nước quan trọng mà
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
16
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
còn là nơi cung cấp thực phẩm cần thiết cho cuộc sống con ngời. Đó là các loại thuỷ
sản như cá, tôm, cua, ốc, hến…, trong đó có nhiều loại nổi tiếng cho mãi đến hôm
nay, như cá Anh Vũ trong lòng sông Hồng, vùng Việt Trì - Bạch Hạc được xem là
một đặc sản, một loại cá quý của Vĩnh Phúc. Hoặc như hến trong lòng sông Phan, đã
trở thành một món ăn đặc sản của nhân dân vùng quê Yên Lạc hôm nay. Chắc hẳn từ
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
I.1.2. Tình hình dân sinh kinh tế
I.1.2.1. Bản đồ hành chính
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
18
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
I.1.2.2. Các đơn vị hành chính
Vĩnh Phúc có 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện
- Thành phố Vĩnh Yên có 7 phường và 2 xã (được chuyển từ thị xã từ
ngày 29 tháng 12 năm 2006)
- Thị xã Phúc Yên có 6 phường và 4 xã
- Huyện Bình Xuyên có 3 thị trấn và 10 xã
- Huyện Lập Thạch có 2 thị trấn và 18 xã
- Huyện Sông Lô có 1 thị trấn và 16 xã (tách ra từ huyện Lập Thạch cũ
kể từ ngày 23-12-2008)
- Huyện Tam Dương có 1 thị trấn và 12 xã
- Huyện Tam Đảo có 1 thị trấn và 8 xã
- Huyện Vĩnh Tường có 3 thị trấn và 26 xã
- Huyện Yên Lạc có 1 thị trấn và 16 xã
(Nguồn: www.vi.wikipedia.org)
I.1.2.3. Dân cư dân tộc
a. Thành phần dân cư
Ngay từ thời dựng nước, người Việt cổ đã sinh sống tại địa bàn Vĩnh Phúc.
Các cuộc khai quật khảo cổ học cho phép đoán định rằng người Việt cổ có mặt ở
Vĩnh Phúc từ hơn 3.500 năm nay. Từ hơn 1.500 năm trước Công nguyên, người Việt
cổ đã tiến ra chinh phục vùng đỉnh châu thổ sông Hồng, định cư tại các địa điểm mà
người xưa gọi là chạ, trang, ké, làng v.v. Từ thế kỷ II, dân cư Vĩnh Phúc đã có những
biến động do phiêu tán và nhập cư. Vào thế kỷ XVII-XVIII, một số tộc người ở miền
nam Trung Quốc bị phong kiến nhà Minh, nhà Thanh chèn ép, bóc lột và bị thiên tai
đã tìm đường sang Việt Nam sinh sống. Sau khi du canh, du cư ở nhiều nơi, một bộ
0,034%; Thái có 14 khẩu, chiếm 0,032%; các dân tộc thiểu số khác có 19 khẩu,
chiếm 0,04%.
Các dân tộc thiểu số được phân bố trong các huyện, thị xã như sau:
- Huyện Tam Đảo: ở 9 xã, thị trấn với 6.455 hộ, 30.959 khẩu;
- Huyện Lập Thạch: ở 36 xã, thị trấn với 912 hộ, 3.512 khẩu;
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
20
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
- Huyện Bình Xuyên: ở 01 xã với 785 hộ, 3.345 khẩu;
- Thị xã Phúc Yên: ở 01 xã với 975 hộ, 4.981 khẩu.
Trừ dân tộc Kinh, các dân tộc thiểu số như Sán Chay (nhóm Cao Lan), Sán
Dìu, Dao (nhóm Dao Quần Chẹt) đến định cư ở Vĩnh Phúc sớm và đông người hơn
cả. Cả ba dân tộc này đều sinh sống tập trung ở ven phía nam chân núi Tam Đảo,
thuộc địa bàn các huyện Tam Đảo, Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên và thị xã
Phúc Yên.
Người Sán Dìu từ lâu vẫn tự nhận là Sán Dẻo Nhín (họ còn có những tên gọi
khác là Trại Đất, Mán Quần Cộc, Mán Đất, Slản Dáo, v.v.) nhập cư vào tỉnh Vĩnh
Phúc khoảng 300 năm trước. Do không chịu được sự áp bức, bóc lột, đàn áp thời kỳ
cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người Sán Dìu từ Quảng Đông, Trung Quốc đã tìm
đường sang Việt Nam sinh sống. Con đường di cư của họ trải qua Hoàng Chúc, Cao
Sơn đến Hà Lôi, Tiên Yên rồi tỏa ra vùng ven biển Quảng Ninh, ngược lên Bắc
Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang và xuống vùng chân núi Tam Đảo thuộc tỉnh
Vĩnh Phúc. Địa bàn cư trú của người Sán Dìu là vùng bán sơn địa, phía bắc các tỉnh
trung du và phía nam các tỉnh miền núi phía Bắc. Ở Vĩnh Phúc họ sống rải rác theo
chân núi phía sườn Tây - Nam của dãy Tam Đảo thuộc các huyện Lập Thạch, Tam
Đảo, Tam Dương, Bình Xuyên và thị xã Phúc Yên. Từ giữa thế kỷ XX, họ đã cư trú
ổn định trên một dải đất dài hàng trăm km từ xã Ngọc Thanh (Phúc Yên) tới xã
Quang Sơn và Yên Dương, huyện Lập Thạch, Sông Lô. Người Sán Dìu thích chọn
nơi đất ở là vùng bán sơn địa, có đồi, núi, đất bằng ven sông suối để khai khẩn thành
ruộng lúa nước. Vùng đất đầu tiên họ đến là ven chân núi Tam Đảo, nơi có rừng
các tên gọi khác là Mán, Trại, Động, Xá, v.v. Người Dao đến Việt Nam bằng nhiều
con đường khác nhau, sớm nhất có thể vào thế kỷ XI. Hiện nay, ở nước ta có khoảng
30 nhóm Dao. Họ cư trú khá phân tán trên một địa bàn rộng lớn thuộc các tỉnh miền
núi trung du Bắc Bộ và trải dài cho đến Ninh Bình, Thanh Hóa. Sau năm 1975, đất
nước thống nhất, người Dao còn đến làm ăn sinh sống ở các tỉnh Tây Nguyên và
miền Đông Nam Bộ. Theo Nguyễn Xuân Lân, người Dao từ Quảng Đông, Trung
Quốc đến Việt Nam đã mấy trăm năm nay. Gia phả của họ Dương ở bản Thành
Công, xã Lãng Công ghi rằng sau khi di cư qua các tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên,
Hòa Bình, người Dao đã đến sinh cơ lập nghiệp ở bản Thành Công, xã Lãng Công,
huyện Lập Thạch, lúc đó chỉ có 20 hộ với hơn 100 nhân khẩu. Từ đó đến trước năm
2000, người Dao ở bản Thành Công, xã Lãng Công đã được hơn 170 năm, qua 7 thế
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
22
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
hệ con cháu, có 113 hộ với 585 khẩu. Ngoài bản Thành Công, người Dao còn 6 hộ ở
xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên và 7 hộ ở xã Quang Yên, huyện Lập Thạch. Người
Dao ở xã Lãng Công là Dao Quần Chẹt, thuộc nhóm Dao Đại Bản, còn được người
dân ở đây gọi là Mán Sơn Đầu, Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo, Dao Nga Hoàng. Đến
tháng 12 / 2007, bản Thành Công có 186 hộ, 834 khẩu người Dao.
b. Dân số
Quy mô dân số
Đến năm 1930, tỉnh Vĩnh Yên có 5 huyện (Tam Dương, Bình Xuyên, Lập
Thạch, Yên Lạc và Vĩnh Tường), với 46 tổng, 302 làng, dân số 210.422 người (trong
đó 208.282 người Kinh, 56 người Âu, 2.008 người Cao Lan, Sán Dìu, 45 người Thổ,
31 người Hoa). Tỉnh Phúc Yên có 4 huyện (Yên Lãng, Đa Phúc, Kim Anh, Đông
Anh) với 34 tổng, 217 làng, dân số 175.250 người (174.467 người Kinh, 22 người
Âu, 727 người Sán Dìu, 34 người Hoa). Tổng dân số Vĩnh Phúc lúc này là 385.672
người.
Năm 1950, khi hợp nhất tỉnh, Vĩnh Phúc có diện tích 1.715 km
2
)
Dân số
trung bình
(Người)
Mật độ dân số
(Người/Km
2
)
1 Thành phố Vĩnh Yên 2 7 50,81 85.231 1.677
2 Thị xã Phúc Yên 4 6 120,13 88.657 738
3 Huyện Tam Dương 12 1 107,18 96.736 902
4 Huyện Tam Đảo 8 1 235,88 69.315 294
5 Huyện Bình Xuyên 10 3 145,67 108.944 748
6 Huyện Yên Lạc 16 1 106,77 149.387 1.399
7 Huyện Vĩnh Tường 27 2 141,90 198.918 1.402
8 Huyện Sông Lô 16 1 150,31 93.984 625
9 Huyện Lập Thạch 18 2 173,10 123.664 714
Tổng số 113 24 1.231,76 1.014.488 824
(Nguồn: www.vinhphuc.gov.vn)
Tốc độ tăng dân số
Từ ngày hòa bình lập lại (1954) cho đến sau này, dân số Vĩnh Phúc phát triển
với tốc độ khá nhanh, chủ yếu do tăng cơ học. So sánh khái quát (trừ dân số các
huyện Đông Anh, Đa Phúc, Kim Anh tách về Hà Nội), trong vòng 70 năm (1930-
2000), dân số tỉnh Vĩnh Phúc tăng gấp 4 lần (hiện nay, mỗi năm dân số Việt Nam
tăng trên 1 triệu người. Kết quả điều tra và thống kê dân số học cho thấy sau 85 năm,
dân số nước ta tăng lên 5,3 lần, trong khi cùng thời gian này dân số thế giới chỉ tăng
khoảng 3,6 lần).
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
24
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
). Để đảm bảo chất lượng cuộc sống, bình quân
1 km
2
chỉ nên có 35 - 40 người sinh sống, tuy nhiên, mật độ dân số ở Vĩnh Phúc đã
cao gấp nhiều lần so với mật độ dân số chuẩn. Do mật độ dân số cao lại là tỉnh trung
du, miền núi nên bình quân đất canh tác trên đầu người ở Vĩnh Phúc rất thấp, chỉ có
0,04 ha/người trong khi bình quân toàn quốc là 0,09 ha/người.
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
25
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
Cũng giống như tình trạng chung của toàn quốc, mật độ dân số ở Vĩnh Phúc
không đều, tập trung dày ở đô thị và thưa thớt ở nông thôn, miền núi. Ví dụ năm
2007 cao nhất ở thành phố Vĩnh Yên (1.663 người/km
2
) và các huyện đồng bằng như
Yên Lạc (1.387 người/km
2
), Vĩnh Tường (1.390 người/km
2
), nhưng thấp ở các huyện
miền núi, trung du như Tam Đảo (291 người/ km
2
), Lập Thạch (666 người/ km
2
).
Điều bất hợp lí là vùng đồng bằng có đất đai màu mỡ, thuận lợi phát triển nông
nghiệp, chỉ chiếm hơn 18% diện tích của tỉnh nhưng lại tập trung tới hơn 29% dân số.
Cơ cấu dân số
- Cơ cấu theo tuổi
Tháp dân số năm 1989 của tỉnh Vĩnh Phúc có đáy rộng, đặc trưng cho mô hình
là 48,3% đều thấp hơn so với tỉ lệ nam trong dân số toàn quốc (tương ứng là 48,54%;
48,96% và 49,15%).
Đến hết 31/12/ 2006, theo số liệu thống kê chuyên ngành Dân số Gia đình Trẻ
em, số trẻ sinh ra trong toàn tỉnh là 18.711 cháu, trong đó số trẻ là nữ có 8.632 cháu,
tỉ lệ giới tính của trẻ khi sinh là 117 nam/100 nữ, báo hiệu sự mất cân bằng giới tính
khi sinh.
- Cơ cấu dân số theo khu vực thành thị và nông thôn
Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ dân đô thi thấp so với thế giới và các nước đang
phát triển. Tỉ lệ dân số thành thị của tỉnh Vĩnh Phúc còn rất thấp so với toàn quốc, tuy
hàng năm có tăng dần, năm 1990 là 5,8%, nhưng đến năm 1999 mới đạt 10,17%, thấp
xa so với mức của toàn quốc (23,48%) và của vùng đồng bằng sông Hồng (21,06%).
Đến năm 2007, tỷ lệ dân số thành thị của tỉnh Vĩnh Phúc mới đạt 17,23%, trong khi
mức của toàn quốc là 27,44%.
Tỉ lệ dân số thành thị ở Vĩnh Phúc không đều giữa các đơn vị hành chính trực
thuộc tỉnh; năm 2007, đạt 83,9% ở thành phố Vĩnh Yên hoặc 70,2% ở thị xã Phúc
Yên, nhưng rất thấp ở khu vực huyện, nhất là các huyện Tam Đảo (1,1%), Vĩnh
Tường (2,6%), Lập Thạch (4%), v.v...
Cùng với quá trình đô thị hóa của cả nước, tỉ lệ dân số thành thị ở Vĩnh Phúc
đã tăng dần hàng năm, đạt 13,9% năm 2004 và 17,23% năm 2007. Tuy nhiên, so với
dự báo của Chiến lược dân số tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2001- 2010 thì kết quả này
không đạt (năm 2004: chỉ tiêu là 18,4% ) và không đạt được mức 25,7% vào năm
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
27
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
2005 cũng như rất khó đạt mức 28,9% vào năm 2010. Trong những năm gần đây, tỉ
lệ dân đô thị ở Vĩnh Phúc tăng mạnh. Mặc dù so với một số tỉnh ở vùng đồng bằng
sông Hồng, vào năm 1999, tỉ lệ dân đô thị ở Vĩnh Phúc còn cao hơn Hà Tây (7,8%),
Thái Bình (5,6%), Hà Nam (6%).
I.1.2.4. Kinh tế
Vĩnh Phúc vốn là một tỉnh thuần nông đang chuyển đổi cơ cấu.
I.2.3. Giao thông
Đường bộ: có quốc lộ 2 chạy qua;
Đường sắt có tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạy dọc theo quốc lộ 2.
I.3. Hồ Xạ Hương
Hồ Xạ Hương nằm trong thung lũng núi con Trâu thuộc xã Minh Quang
huyện Bình Xuyên. Hồ Xạ Hương có diện tích lưu vực 24km
2
với nhiều ngách lớn
xuyên vào các cánh rừng, có nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho 850ha diện tích nông
nghiệp của huyện Bình Xuyên.
Tình hình tài liệu sử dụng trong tính toán thủy văn và điều tiết hồ Xạ Hương
- Tài liệu bốc hơi tháng trạm Vĩnh Yên từ năm 1960 – 2004.
- Tài liệu mưa tháng trạm Vĩnh Yên từ năm 1960 – 2004.
- Tài liệu mưa ngày trạm Vĩnh Yên từ năm 1980 – 2004.
- Do khu vực hồ Xạ Hương không có tài liệu dòng chảy nên khi tính toán thủy
văn cần mượn tài liệu dòng chảy trung bình tháng trạm thủy văn Ngọc Thanh – Sông
Thanh Lộc với diện tích lưu vực là 19.5 km
2
đo đạc dòng chảy từ năm 1967–1980 để
tính toán.
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
29