49
(Theo Razđóki, 1949)
a - biểu bì: b - lớp vỏ ngoài ; B - vỏ sơ cấp ;
z -nhe: f - tầng phát sinh: e - ruột ; 1, 2. 3 - 3 vòng tuổi của gỗ.
5.1.1. Xác định tuổi cây gỗ theo vòng năm của thân
- Sự hình thành vòng năm: ở các loài cây gỗ nhất là vùng ôn đới đo có sự khác
biệt lớn về khí hậu trong năm, nên trên mặt cắt ngang thân và cành có vòng tăng
trưởng thân có thể nhìn thấy bằng mắt. Thường thì mỗi vòng tương ứng với mùa sinh
trưởng c
ủa nằm, tiếp theo là mùa khô vòng tăng trưởng sẽ mỏng hơn, đậm màu hơn vì
tăng trưởng tế bào kém nó gần như bị ép lại 2 vòng như thế tương đương 1 tuổi.
Hình 22: Lát cắt ngang thân cây thông 76 tuổi
(Theo Razđorski, 1949)
- Sự biến đổi độ dày của vòng năm: độ dày vòng năm không ổn định, nó thay đổi
theo năm vạ phụ thuộc vào điều kiện từng năm, vào trạng thái của cây. Thường nó có
thể đạt từ 1 - l,5cm nhưng có khi mỏng hơn, có năm chỉ đạo mỉm hay ít hơn nữa. Theo
độ cao nó cũng có thay đổi, càng gần gốc thì độ dày từng năm càng rõ ràng hơ
n. Tuổi
càng cao vòng năm càng mỏng đi.
Để xác định tuổi cây gỗ người ta dùng: nếu chặt cây thì cắt bằng phần gốc làm
sạch để đếm, nếu không chặt người ta dùng loại khoan có ống rỗng trong, xác định tâm
của cây qua vòng thân và khoan vào đến tâm, sau đó đếm vòng năm qua thanh gỗ
trong ống khoan đó.
50
Hình 23: Xác định tuổi của cây gỗ bằng súng khoan
(Theo Razđorski, 1949)
1 và 3 - Lát cãi ngang thân ; 2 và 4 - Thỏi gỗ lấy từ súng khoan ra.
51
5 - 8 tuổi), cây già không được hoặc chỉ phần non của cây già vì nó vẫn còn vết tích.
Tất nhiên, cũng phải nắm được hình thái của nó mới xác định được.
5.1.3. Xác định tuổi cây gỗ theo đặc điểm của vỏ
Có nhiều trường hợp không thể xác định được tuổi cây gỗ bằng những phương
pháp trên (vì không chặt cây xuống), mà lại cần biết tuổi tuy không thật chính xác thì
có thể dùng phương pháp bổ sung, bằ
ng cách dùng đặc điểm của vỏ cây Phương pháp
này cần phải có tổng kết trước (nhiều mẫu vỏ và đã biết tuổi) từ đó đưa ra đặc điểm
bên ngoài, độ dày của lớp vỏ qua đó đưa ra bảng thang bậc tuổi (nhóm tuổi) nó không
cho chính xác mà cho biết bậc (5 - 10T/bậc).
5.1.4. Sự kéo dài đời sống của cây gỗ
Xác định sự kéo dài đời sống của loài cây gỗ nào đ
ó nó cho ta hiểu về tuổi của
loài trong điều kiện môi trường sống, thường tuổi thọ của loài bao giờ cũng lớn hơn
tuổi ta tính được. Từ xác định được tuổi cây gỗ có thể cho ta hiểu tuổi của giai đoạn
trước sinh sản của loài, theo Rabốtnốp (1947) tuổi trước sinh sản thường bằng 1/14 -
1/4 tuỳ theo từng loài, tuổi thọ lớn nhất sẽ là 1/14, thấp nh
ất là 1/4.
5.2. XÁC ĐỊNH TUỔI VÀ TÍNH ĐỘ DÀI ĐỜI SỐNG Ở CÂY BỤI
Cây bụi có thân thuộc mộc và thường cao dưới 4,5m. Trục chính chỉ có vai trò
trong giai đoạn đầu của cá thể phát sinh.
Cây bụi có đặc điểm là phân cành từ gốc, có nhiều thân và mỗi thân có tuổi khác
nhau. Trạng thái trưởng thành bao gồm một hệ thống trục, nó sớm già và sớm giảm sút
sức tăng trưởng vì thế nó không cao, hệ thống trục có thể đượ
c hình thành trong
nhiều thế hệ khác nhau. Ở một số cây bụi có thể một số trục đầu tiên của phần trên mặt
đất đã không còn, vì thế chỉ có thể tính tuổi cho các chồi còn đang tồn tại. Thường xác
định tuổi qua hệ thống cành và vết tích cành để lại trên thân già, từ đó biết được tuổi
biến đổi của loài nào đó trong chu trình sống và những tư liệu về sự kéo dài đời sống
của nó.
Bức tranh của rất nhiều cá thể được theo dõi trong nhiều năm sẽ tốn nhiều công
sức, nhưng những kết quả này sẽ cho ta những số liệu về từng giai đoạn và cả chu kì
sống của loài đó, trên cơ sở của những số liệu này và sử dụng cả những thay đổi về
hình thái, giải phẫu theo tuổi cho phép ta làm ra được phương pháp xác định tuổi c
ủa
cây thuộc thảo.
Để bổ sung cho nghiên cứu ngoài tự nhiên có thể tiến hành nghiên cứu thực
nghiệm trong vườn.
Với sự dẫn dắt nghiên cứu qua hàng năm có thể cho ta số liệu trung bình về số
cây chết trong năm. Từ đó cũng có thể xác định khả năng kéo dài đời sống của loài cần
nghiên cứu Ví dụ, theo dõi 100 cá thể từ cây mầm, hằng năm chết 5 cây từ đó xác định
khả năng kéo dài đời sống là 20 năm (của loài).
5.3.2. Xác định tuổi ở những cá thể non
Những cá thể non của cây thảo sống lâu năm xuất hiện từ hạt trong quần xã tự
nhiên phát triển rất chậm và trải qua thời gian khá dài ở trạng thái cây non. Xác định
tuổi là để làm rõ loại này đã tồn tại bao lâu trong trạng thái cây non, từ đó cho phép ta
hiểu được tuổi trưởng thành của loài đó.
Có hàng loạt d
ấu hiệu để xác định tuổi như vết tích lá hay chồi của năm cũ để lại.
Hình dạng, kích thước lá, đặc điểm bộ rễ của các cá thể non - đó là cơ sở xác định về
tuổi của cây con (thường đến 3 tuổi). Tất nhiên có trường hợp nếu cây non mọc nơi đất
nghèo kiệt thì thường đánh giá giảm đi, nơi đất tất lại thường
đánh giá tuổi cao lên.
Phương pháp này dùng được cho các cây thảo và hoà thảo, nhưng ở đây cần nói
thêm rằng, để xác định tuổi không nên chỉ dùng một dấu hiệu mà nên dùng nhiều dấu
hiệu bổ sung cho nhau.
5.3.3. Xác định tuổi ở cá thể trưởng thành
5.3.3.1. Xác định tuổi theo những dấu vết còn lại ở phần trên mặt đất, lá và vết
54
quần thể, khi đó số lượng mẫu nhiều và nhiều độ tuổi khác nhau nên ta dễ so sánh tìm
ra chuẩn xác những dấu vết từng năm.
- Xác định tuổi theo số lượng phân cành của thân rễ : nhiều trường hợp có thể xác
định tuổi bằng phân cành của thân rễ, với thân rễ đa trục, từ mỗi cành sẽ cho phần trên
mặt đất rồi hằng năm chết và tàn lụi tậ
n gốc, trên thân rễ (cành thân rễ) chúng ta biết là
từ một chồi thân rễ mọc ra để hình thành được cơ quan sinh sản hạt bên trên thường
mất từ 2 - 3 năm, biết được tính kéo dài của thân rễ, biết số chồi có hoa từ đó xác định
được tuổi của thân rễ.
5.3.3.2. Xác định tuổi theo tăng trưởng hằng năm
Chúng ta biết tăng trưởng hằng năm của cá thể là một con đường cong lúc đầu
nhỏ, lớn dần đến tuổi trưởng thành, sau đó giảm đến chết, hiểu được như vậy, kết hợp
với các dấu hiệu khác có thể xác định tuổi của cây qua năng suất năm, tốt nhất là với
cả quần thể, tuy nhiên tuổi ở đây không thật chính xác.
5.3.3.3. Xác định tuổi theo số lượng từng phần của bụi
Với cây thảo búi dầy mọc ch
ồi hằng năm, chết đi để lại thân rễ, sau đó mọc chồi
mới - chết để lại thân rễ theo nhiều hướng hình thành từ nguyên tắc này cũng cho phép
xác định tuổi của cây.
5.3.3.4. Xác định tuổi theo dấu hiệu giải phẫu
Phần dưới mặt đất của nhiều loài tạo thành vòng gỗ rất rõ (lớp) đặc biệt cây
thuộc thảo, theo số lượng vòng có thể xác định tu
ổi của nó. Cũng cần nhớ rằng không
phải tất cả phần dưới mặt đất của cây thảo là có cấu tạo vòng tương ứng cho từng năm.
55
Chương 6
NGHIÊN CỨU VẬT HẬU CỦA THỰC VẬT
bản đồ vật hậu.
Tổ chức nghiên cứu vật hậu bao gồm các nhiệm vụ : chọn đối tượng, địa điểm
nghiên cứu, xác định thời gian cần theo dõi, đồng thời tiến hành theo dõi các yếu tố
thuộc môi trường sống của nó.
6.1.1. Chọn đối tượng và nơi nghiên cứu
Nếu nhà nghiên cứu chọn loài nào đó làm đối tượng nghiên cứu thì cần tiến hành
nghiên cứu nó trong các đi
ều kiện sinh thái khác nhau như chế độ chiếu sáng khác
nhau, độ ẩm khác nhau, đất khác nhau (khác về cơ giới, thành phần lí, hoá), khác nhau
về địa hình, về quần xã. Cần mô tả đặc điểm của chính cá thể đó (tuổi, chiều cao, mức
56
độ sinh trưởng ), địa điểm mọc của từng cá thể ở từng điểm nghiên cứu. Về điểm
nghiên cứu cần ghi: vị trí địa lí, độ cao so với mặt biển, tiểu địa hình (đỉnh, sườn )
hướng phối đặc điểm thuỷ văn (hồ, sông, suối khoảng cách của nó tới các cá thể đó),
đất và đặc điểm của đấ
t, độ sâu của nước ngầm. Thảm thực vật xung quanh, tác động
của con người đến vùng đó.
Nếu loài nào đó cần nghiên cứu ở nhiều điểm khác nhau thì nên đồng thời cùng
tiến hành và các điều kiện tự nhiên nên là giống nhau (rất gần giống). Kết quả nghiên
cứu này có thể cho phép xây dựng bản đồ vật hậu học.
6.1.2. Xác định thời gian nghiên cứu vật hậu
Cần nói r
ằng, những nghiên cứu thuộc vật hậu chỉ có giá trị khi ta tiến hành
nghiên cứu theo đúng lịch trình, đúng một nội dung đã xác lập. Đa số các nghiên cứu
được dẫn dắt trong mùa sinh dưỡng, thường thời kì ra nụ, ra hoa, hình thành quả.
Thông thường lịch theo dõi thời kì nụ là 3 ngày 1 lần, hoa nở thì 1 ngày 1 lần, mùa
đông thường 1 tháng 1 lần.
6.1.3. Xác định nội dung nghiên cứu các yếu tố môi trường sống khi nghiên
cứu vật hậu
ch - chồi (chồi non hình thành từ thân rễ, thân hành, củ ).
s - sinh dưỡng.
n - nụ.
h - hoa nở (bắt đầu h
1
, nở rộ h
2
hoa bắt đầu tàn h
3
).
q - quả (quả non q
1
, quả già q
2
quả bắt đầu rụng q
3
).
hq - hoa - quả (từ khi bắt đầu nở đến khi thành quả hết, hq
1
, hq
2
, hq
3
)
qr- quả rụng.
chm - hình thành chồi mới sau khi quả rụng hết.
c - chết cả phần trên mặt đất.
k - khô của các chồi trên mặt đất.
Cũng có nhiều tác giả dùng số để kí hiệu cho các pha.
Bảng 1. Bảng ghi chép
58
Ngày quan sát
Các pha vật hậu
1995 2000 2002 2004
4. Quả chín rộ
5. Quả bắt đầu rụng
6. Quả rụng hết
V. Kết thúc thời kỳ sinh dưỡng
1. Lá bắt đầu đổi màu
2. Lá chuyển màu hoàn toàn (lá vàng)
3. Lá bắt đầu rụng
4. Lá rụng nhiều
5. Lá rụng hết
VI. Thời kỳ nghỉ
1. Có hoặc không có lá trên cây
2. Hình thành chồi hoặc không
3. Sự mất từng phần của thực vật
4. Xuất hiện băng giá
5. Sự khô từng phần của thực vật
Đối với cây 1 năm, cũng dùng 6 pha cơ sở của vật hậu và pha phụ.
1 (S) sinh dưỡng : 1 - xuất hiện cây mầm ; 2 - hình thành khóm ; 3 - hình thành
thân (chiều cao cm) và ra lá ; 4 - lá đầy đủ.
2 (n) - thời kì nụ : 1 - mầm hoa nhú ra ; 2 - hình thành nụ hoa ; 3 - nụ hoa hoàn
chỉnh.
3 (h) - thời kì hoa nở : 1 - nụ hoa nở dần, bắt đầu nở những hoa đầu tiên ; 2 - hoa
5 (KT) - Kết thúc thời kì sinh dưỡng : 1 - xuất hiện sự biến đổi màu của lá ; 2 - lá
biến đổi màu khá nhiều ; 3 – lá biến đổi màu hầu hết ; 4 - lá đổi màu hoàn toàn ; 5 -
rụng lá ; 6 - cây trơ cành ; 7 - một số cơ quan của cây bị chết ; 8 - phần trên mặt đất
khô đi ; 9 - phần trên mặt đất đã khô và ch
ết.
6 (ng) - thời kì nghỉ : Trong thời kì này thực vật có sự biểu hiện sau :
1. Có sự khác nhau về số lượng, hình dạng, phân bố của lá chồi, mầm trong
nhóm thân rễ.
2. Có hay không có vảy bảo vệ chống đỡ lạnh hay nóng.
3. Khác nhau về sự xuất hiện và hướng mọc của các chồi (thẳng hay bò).
Đối với cây hoà thảo : Hoà thảo là một nhóm của cây thảo, các pha vật hậu của
nó có một số đặc đ
iểm riêng. Gồm các pha và pha phụ.
l(S) - trạng thái sinh dưỡng : 1 - xuất hiện chồi ; 2 - xuất hiện lá thứ 3 ; 3 - tạo
chồi gốc (tạo các chồi bên); 4 - thân hình ống mọc lên (xuất hiện đất và mấu trên thân).
2(n) - nụ hoa : trên ngọn xuất hiện chồi hoa dài khoảng 1/3 bông hoa hay đã có 3
- 4 nhánh tách ra.
3(h) - hoa nở : Các hoa nhỏ đã hình thành đầy đủ, bắt đầu nở.
4(q) - hình thành quả : 1 - hạt bắt đầu dạng sữa ; 2 - hạt bắt đầy chín vàng ; 3 -
quả
(hạt) chín và bắt đầu rụng.
5 (c) - thời kì chết : ở một số loại có sự ngừng quang hợp, thân và lá khô đi, cây
hoà thảo sống lâu năm thì có hiện tượng chết của các chồi sinh sản.
6(Sm): hình thành chồi mới. Hình thành các chồi sinh dưỡng cuối thu hay đầu
đông để qua đông.
6.2. TỔNG HỢP SỐ LIỆU
Những quan sát về vật hậu thường tập hợp số lượng lớn, những tư
liệu này cần
tổng hợp lại để xem xét và so sánh, hình thức tổng hợp tuỳ theo yêu cầu của người
nghiên cứu đặt ra. Thí dụ sắp xếp lại để xem xét nhịp điệu phát triển của loài và quan
Thời gian kéo dài
của pha (ngày)
180 20 25 20
Nhiệt TB của không
khí (độ C)
Quercus
macrocalyx
Độ ẩm của đất
Loài…
Bảng 3. Thời kì ra hoa và kết quả của loài…
và nhiệt độ không khí theo từng thời kì
Đặc điểm của pha
Lịch thời gian và nhiệt độ không
khí theo từng pha
Ra hoa Kết quả
Nhóm của pha
vật hậu
Bắt đầu Kết thúc Bắt đầu Kết thúc
Ngày
Những loài ra
hoa sớm
Nhiệt không khí
Ngày
Những loài ra