1
Tiểu luận MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ
VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ - XÃ HỘI BỀN VỮNG
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 05/ 2014
2
Mục lục
Trang
Lời nói đầu 3
1. THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG SINH THÁI HIỆN NAY 4
1.1. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 4
1.1.1. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI 4
1.1.1.1. Ô nhiễm đất 5
1.1.1.2. Ô nhiễm không khí 5
1.1.1.3. Ô nhiễm nước 8
1.1.1.4. Ô nhiễm tiếng ồn 17
2.2. PHÁT TRIỂN XÃ HỘI HÀI HÒA VỪA PHÁT TRIỂN CHẤT LƯỢNG CUỘC
SỐNG, VỪA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG XANH 70
2.2.1. PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ SINH THÁI 70
2.2.1.1. Lịch sử ra đời của đô thị sinh thái 70
2.2.1.2. Các tiêu chí đánh giá đô thị sinh thái trên thế giới 72
2.2.2. CÔNG NGHỆ XANH GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 78
2.2.2.1. Xà phòng thông minh tiết kiệm nước 78
2.2.2.2. Sản xuất sản phẩm tiêu dùng bằng nhựa tái chế 79
2.2.2.3. Khí CO
2
sản xuất nguyên liệu làm chất dẻo 80
2.2.2.4. Sản xuất nhiên liệu sinh học từ rác 80
2.2.2.5. Sản xuất chất dẻo từ thực vật 82
2.2.2.6. Lợi ích lớn từ điện mía 83
2.2.2.7. Ni-lông sinh học làm từ bột khoai mì 85
2.2.2.8. Ngành tái chế phế liệu - cơ hội lớn cho việc làm tại Việt Nam 87
Lời kết 91
Tài liệu tham khảo 92
Phụ lục 93
4
LỜI NÓI ĐẦU
Sự phát triển của xã hội hiện đại với những thành tựu to lớn về phương diện
văn minh vật chất từ nửa sau thế kỷ XX đã tạo nên áp lực nặng nề của con người đối
với môi trường tự nhiên, làm cho giới tự nhiên mất đi khả năng tự phục hồi. Sự suy
thoái môi trường đã tiềm tàng nguy cơ khủng hoảng sinh thái toàn cầu.
Mặc dù đã được nhiều chính phủ và các tổ chức quốc tế, đặc biệt là giới khoa
hưởng nhất định đến sự tồn vong của con người. Và con người đang đứng trước những
thách thức lớn về môi trường toàn cầu – đó chính là ô nhiễm môi trường.
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:
"Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu
chuẩn môi trường".
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc
năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự
phát của triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân ô nhiễm
bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá
chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ.
Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng
độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con
người, sinh vật và vật liệu.
1.1.1. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI
Môi trường toàn cầu đang có chiều hướng ngày càng xấu đi và có ảnh hưởng nhất
định đến sự tồn vong của con người. Và con người đang đứng trước những thách thức lớn
về môi trường toàn cầu. 6
1.1.1.1. Ô nhiễm đất
Tổng diện tích đất trên thế giới 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất đóng băng
và 13.251 triệu ha đất không phủ băng.
Trong đó, 12% tổng diện tích là đất canh tác, 24% là đồng cỏ, 32% là đất rừng và
32% là đất cư trú, đầm lầy. Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới
khai thác hơn 1.500 triệu ha. Tỷ lệ đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là 70%;
ở các nước đang phát triển là 36%. Trong đó, những loại đất tốt, thích hợp cho sản xuất
nông nghiệp như đất phù sa, đất đen, đất rừng nâu chỉ chiếm 12,6%; những loại đất quá
xấu như đất vùng tuyết, băng, hoang mạc, đất núi, đất đài nguyên chiếm đến 40,5%; còn
biến dạng và suy thoái môi trường, hủy diệt hệ sinh thái (80% nước hồ miền nam Na Uy
đã bị axit hóa từ những trận mưa axit).
Theo báo cáo mới nhất của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), tính riêng năm
2010, lượng phát thải nhà kính trên toàn thế giới đã gia tăng ở mức kỷ lục, phủ bóng mờ
lên niềm hy vọng về việc duy trì sự nóng lên toàn cầu ở ngưỡng an toàn.
Theo báo cáo, năm 2010 có tới 30,6 tỷ tấn CO
2
phát thải vào bầu khí quyển, chủ
yếu do hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch, tăng 1,6 tỷ tấn so với năm 2009.
Sự gia tăng này đồng nghĩa với việc mục tiêu ngăn nhiệt độ tăng trên 2
0
C –
ngưỡng có thể tiềm ẩn nguy cơ gây nên “biến đổi khí hậu nguy hiểm” theo các nhà khoa
học – sẽ là “điều không tưởng”, ông Fatih Birol, nhà kinh tế học hàng đầu của IEA, cũng
là một trong những chuyên gia hàng đầu trên thế giới về phát thải, cho biết.
Thêm nữa, trái ngược với một số dự đoán, đợt khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng
nhất toàn cầu trong vòng 80 năm qua thực tế chỉ tác động rất nhỏ tới lượng phát thải.
** Ở Trung Quốc, Bộ Bảo vệ Môi trường Trung Quốc dùng từ "nghiêm trọng" để mô tả
thực trạng ô nhiễm trong báo cáo môi trường thường niên mà họ mới công bố.
Trong bản báo cáo mang tên "Các điều kiện môi trường", Bộ Bảo vệ Môi trường
Trung Quốc nói rằng, nhìn chung các vấn đề môi trường trong năm ngoái đều nghiêm
trọng, Guardian đưa tin.
"Chất lượng không khí, nước và đất của Trung Quốc đều giảm rõ rệt", báo cáo
nhấn mạnh.
Báo cáo tập trung vào ô nhiễm nước và không khí - hai loại ô nhiễm mà dư luận
quan tâm nhiều nhất trong những tháng gần đây. Số liệu trong báo cáo cho thấy tỷ lệ
nước ngầm tại 198 thành phố có
chất lượng "tệ" hoặc "cực kỳ tệ"
chiếm 57,3% trong năm 2012 và
2
, khi chúng bị
giết, khí CO
2
sẽ thoát ra ngoài.
Tiến sĩ Andrew Pershing thuộc Đại học Maine của Mỹ mô tả cá voi được xem như
những “khu rừng của đại dương”. Đặc biệt khi cá voi còn nhỏ, chúng được ví như nguồn
dầu sống nếu nấu lên sẽ thải khí carbon vào không khí. Nếu cá voi chết tự nhiên, cơ thể
của chúng chìm xuống biển và xem như lượng khí carbon cũng sẽ được chôn dưới biển.
Theo tính toán ban đầu, trong hơn 100 năm qua, số cá voi bị săn bắt đã thải ra
lượng khí tương đương với việc đốt 130.000km² rừng nhiệt đới.
Theo tiến sĩ Pershing, lượng khí này vẫn còn khá nhỏ so với hàng tỷ tấn CO
2
do
các hoạt động của con người thải ra mỗi năm nhưng cá voi đóng vai trò quan trọng trong
việc lưu giữ và vận chuyển khí CO
2
trong hệ sinh thái của biển. Vì thế cần sớm áp dụng
cơ chế “quota” khí CO
2
tương tự như trên mặt đất trong lĩnh vực săn bắt cá voi, một mặt
để bảo tồn loài cá này, mặt khác bảo vệ hệ sinh thái biển và bầu khí quyển.
Ở nhiều thành phố, ô nhiễm không khí đang đạt tới mức đe dọa sức khỏe con
người, theo nhận định của WHO sau khi kết hợp dữ liệu về chất lượng không khí trong
9
thời gian từ 2003-2010 tại 1.100 thành phố ở 91 quốc gia. Trong đó, đặc biệt nghiêm
trọng là Trung Quốc và các quốc gia khu vực Đông Nam Á.
WHO ước tính hơn 2 triệu người trên thế giới chết hằng năm vì ô nhiễm không khí
70% diện tích Trái Đất được bao phủ bởi nước nhưng chỉ có 2,5% nước trên thế
giới là nước ngọt, trong khi 97,5% là đại dương. Trong đó, 0,3% nước ngọt của thế giới
nằm trong các sông, hồ; 30% là nước ngầm, phần còn lại nằm trên các sông băng, núi
băng. 70% lượng nước trên thế giới được sử dụng cho nông nghiệp, 22% cho công
nghiệp và 8% phục vụ sinh hoạt. Theo ước tính, trung bình một người ở các nước phát
triển sử dụng 500-800 lít/ngày so với 60-150 lít/người/ngày ở các nước đang phát triển.
Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ ra
sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào
10
các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển. Đây là thống kê của Viện Nước quốc tế
(SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước thế giới (World Water Week) khai mạc tại
Stockholm, thủ đô Thụy Điển.
Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp độ đáng
lo ngại. Tiến độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến bộ phát triển kỹ nghệ. Ta có thể
kể ra đây vài thí dụ tiêu biểu.
Anh Quốc chẳng hạn: Ðầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch. Nó trở thành ống cống
lộ thiên vào giữa thế kỷ này. Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi người
ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt.
Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn, nhưng vấn đề cũng
không khác bao nhiêu. Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuối thế kỷ 18. Từ đó
vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không còn dùng làm nước sinh
hoạt được nữa, 5.000 km sông của Pháp bị ô nhiễm mãn tính. Sông Rhin chảy qua vùng
kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có hơn 40 triệu người, là nạn nhân của nhiều tai nạn (như nạn
cháy nhà máy thuốc Sandoz ở Bâle năm 1986 chẳng hạn) thêm vào các nguồn ô nhiễm
thường xuyên.
Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thương ở bờ phía đông cũng như nhiều vùng
khác. Vùng Ðại hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt nghiêm trọng.
Trong ô nhiễm nguồn nước, báo động nhất là vấn đề ô nhiễm nguồn nước của các
trung tâm của những truyền thống xã hội và tôn giáo của đất nước Ấn Độ.
12 Lưu vực sông Hằng gần như tạo ra một vùng đất liền thứ ba của Ấn Độ và là một
trong 12 vùng dân cư trên thế giới phụ thuộc vào con sông. Đây cũng là nơi sinh sống
của hơn 140 loài cá, 90 loài động vật lưỡng cư và loài cá heo sông Hằng.
Hiện nay, sông Hằng là một trong những con sông bị ô nhiễm nhất trên thế giới vì
bị ảnh hưởng nặng nề bởi nền công nghiệp hóa chất, rác thải công nghiệp và rác thải sinh
hoạt chưa qua xử lý tới mức những người mộ đạo trước kia tôn thờ nguồn nước sông này
giờ đây lại trở nên khiếp sợ chính nguồn nước đó. Chất lượng nước đang trở nên xấu đi
nghiêm trọng.
Cùng với sự mất đi khoảng 30-40% lượng nước do những đập nước đang làm cho
sông Hằng trở nên khô cạn và có nguy cơ biến mất. Theo ước tính, có hơn 400 triệu
người sống dọc hai bờ sông Hằng và mỗi ngày có 2 triệu người tới bờ sông làm các nghi
thức tắm rửa tại đây.
Ngoài ra, do phong tục hỏa táng một phần thi thể rồi thả trôi sông nên những thi
thể người trôi lững lờ trên dòng sông này, rồi rác thải trực tiếp từ các bệnh viện do thiếu
lò đốt cũng là một nguyên nhân làm tăng ô nhiễm sông.
Nước sông giờ không những không thể dùng ăn uống, tắm giặt mà còn không thể
dùng cho sản xuất nông nghiệp. Các nghiên cứu cũng phát hiện tỷ lệ các kim loại độc
trong nước sông khá cao như thủy ngân (nồng độ từ 65-520ppb), chì (10-800ppm), crom
(10-200ppm) và nickel (10-130ppm).
Hiện Chính phủ Ấn Độ đang có kế hoạch cải tạo và bảo vệ con sông này.
Sông Mississippi, Mỹ:
Sông Mississipi, con sông dài thứ 2 ở Mỹ, với 3.782km, bắt nguồn từ hồ Itasca,
chảy qua hai bang Minnesota và Louisiana.
13
con sông nổi tiếng của Ấn Độ đang ngày một ô nhiễm hơn nhiều. Lượng rác đổ xuống
sông từ năm 1993 đến 2005 đã tăng gấp đôi.
15
Sông Hoàng Hà, Trung Quốc
Sông Hoàng Hà, là con sông dài thứ 2 ở Trung Quốc, có vai trò rất quan trọng đối
với người dân nước này. Đây chính là nguồn cung cấp nước lớn nhất cho hàng triệu
người dân ở phía Bắc Trung Quốc nhưng hiện giờ đã bị ô nhiễm nặng nề bởi sự cố tràn
dầu và các chất thải công nghiệp.
Một đường ống dẫn dầu bị vỡ của Công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc với hơn
1.500 lít dầu đã tràn vào đất canh tác và một phụ lưu của sông Hoàng Hà.
Sông Marilao, Philippineses
Nằm trong hệ thống các sông gần vùng ngoại ô tỉnh Bulacan ở Philippines, sông
Marilao đang bị ô nhiễm nặng nề với đủ thứ rác thải sinh hoạt hàng ngày. Đây còn là nơi
lưu thông hàng hóa cho các khu vực thuộc da, tinh chế kim loại, đúc chì. Chính vì vậy,
nguồn nước của sông Marilao chứa rất nhiều hóa chất gây độc hại cho sức khỏe con
người như đồng, thạch tín.
16 Các chất ô nhiễm này gây ra các vấn đề về sức khoẻ cho cư dân trong vùng và xa
hơn nó còn gây hại tới ngành đánh bắt hải sản tại vịnh Manila.
Trước nguy cơ bị xóa sổ, chính quyền địa phương đã có những biện pháp can
thiệp, nhưng sông Marilao vẫn hàng ngày hàng giờ hứng chịu rác thải của các hộ dân ven
sông và các chất thải từ khu chế xuất vẫn xả trộm thẳng ra sông.
Sông Tùng Hoa, Trung Quốc
Sông Tùng Hoa có chiều dài gần 2.000km, chảy qua thành phố lớn Cáp Nhĩ Tân
người, nhất là ở các quốc gia đang phát triển.
Bậc thang tiếng ồn:
Décibel là đơn vị đo tiếng ồn. Xin không đi sâu vào khái niệm này mà chỉ xin đưa
ra những thí dụ minh họa để mọi người cùng hiểu một cách cụ thể :
- 10-20 dB: Gió vi vu qua lá cây được xem là trạng thái yên tỉnh
- 30 dB: Thì thầm (trong phòng ngủ)
- 40 dB: Tiếng nói chuyện bình thường
- 50 dB: Tiếng máy giặt, ồn ở siêu thị, có gây phiền nhưng còn chịu được
- 55 dB -80 dB: Động cơ xe hơi, xe máy, gây khó chịu, mệt mỏi
- 80 dB - 85 dB: Máy cắt cỏ, hút bụi, cắt gỗ, làm rất khó chịu
- 90 dB - 100 dB: phát ra ở Công trường xây dựng, ồn ở mức nguy hiểm
- 120dB - 140 dB: Máy bay lúc cất cánh, ồn quá lớn gây tổn thương tâm trí
Theo số liệu thống kê mới nhất của WHO thì tại châu Âu, 40% dân số khu vực
này đang bị phơi ra môi trường ô nhiễm tiếng ồn, đặc biệt là tiếng ồn của các phương tiện
giao thông. Mức ồn hiện đã vượt trên 55 decibels (dB), 25% dân số hàng ngày nghe tiếng
ồn trên 65 dB, tương đương với âm thanh do máy rửa bát đĩa phát ra. Cũng theo WHO,
có tới 30% dân số châu âu phải ngủ trong môi trường có tiếng ồn vượt trên 55 dB, đây là
mức ồn có thể làm gián đoạn giấc ngủ. Theo Cơ quan an toàn giao thông và Môi trường
của Liên Minh châu âu thì có từ 44% dân số châu âu (khoảng 200 triệu người) phải sống
chung với tiếng ồn có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ.
Bộ Môi trường Mỹ (EPA) cảnh báo để hạn chế bệnh điếc, mọi người không nên
tiếp xúc với môi trường có độ ồn lớn hơn 70 dB trong khoảng thời gian 24 giờ liên tục.
19
Ngoài ra, nếu làm việc liên tục trong môi trường có độ ồn trên 55 dB (ngoài trời) và 45
dB (trong nhà) trong thời gian dài liên tục cũng sẽ gây ảnh hưởng đến sức nghe.
Bộ Môi trường Đức (GFEA) gần đây đã hoàn thành nhiều nghiên cứu và phát hiện
thấy mối nguy hại của tiếng ồn đối với sức khoẻ, như giảm thính lực, làm tăng stress,
tăng huyết áp Cũng theo GFEA, ngoài tiếng ồn công nghiệp, thì tiếng ồn về âm nhạc,
cho nhóm người già liên tục thức giấc, thủ phạm làm tăng các loại hormone gây stress
như adreralin và noradrenalin, đây là những loại hormone làm nhiệm vụ điều phối các
chức năng chuyển hóa trong cơ thể, và độ ồn càng lớn thì chức năng này lại càng giảm,
hiện tượng dễ nhận biết là lượng mỡ máu và đường huyết tăng cao. Ngoài ra, tiếng ồn
còn là thủ phạm gây ra nhiều bệnh thần kinh nan y như trầm uất, lo lắng, stress, nôn ói,
tức giận hoặc thù địch và làm cho người ta liên tục thay đổi tâm tính, tính nết, riêng ở trẻ
nhỏ tiếng ồn còn để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và
khả năng học tập.
1.1.2. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay là tình
trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người
gây ra. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội
bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai. Giải quyết vấn đề ô
nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp
thiết đối với các cấp quản lí, các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị và của toàn xã hội.
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển
kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ
môi trường chưa chú trọng đúng mức. Tình trạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với
sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình
trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng. Đối tượng
gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công
nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn. Ô nhiễm môi trường bao gồm
3 loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí. Trong ba loại ô nhiễm
đó thì ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, khu công nghiệp và làng nghề là nghiêm
trọng nhất, mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép.
1.1.2.1. Ô nhiễm không khí
Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đô
thị, công nghiệp và các làng nghề ở nước ta hiện nay. Ô nhiễm môi trường không khí có
tác động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt là gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh
với các doanh nghiệp di dời vào năm 2003 và còn 40% vào năm 2004. Tỉnh Bắc Ninh và
một số tỉnh khác cũng đã đầu tư kỹ thuật hạ tầng xây dựng một số cụm công nghiệp nhỏ
để tập trung các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nặng nề ở đô thị và làng nghề vào
các cụm công nghiệp này,
22
Hoạt động công nghiệp gây ô nhiễm không khí còn từ các khu, cụm công nghiệp
cũ, như các khu công nghiệp: Thượng Đình, Minh Khai - Mai Động (Hà Nội), Thủ Đức,
Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh), Biên Hoà I (Đồng Nai), Khu Công nghiệp Việt Trì,
Khu Gang thép Thái Nguyên, và ô nhiễm không khí cục bộ ở xung quanh các xí
nghiệp, nhà máy xi măng (đặc biệt là xi măng lò đứng), các lò nung gạch ngói, xí nghiệp
sản xuất đồ gốm, các nhà máy nhiệt điện đốt than và đốt dầu FO, các nhà máy đúc đồng,
luyện thép, các nhà máy sản xuất phân hoá học, Các chất ô nhiễm không khí chính do
công nghiệp thải ra là bụi, khí SO
2
, NO
2
, CO, HF và một số hoá chất khác.
Ô nhiễm môi trường không khí ở nhiều làng nghề đã tới mức báo động, một số bài
báo đã đánh giá một cách đáng lo ngại là "sống giàu, nhưng chết mòn" đối với làng tái
chế nilông Minh Khai (Như Quỳnh, Hưng Yên); "hít khói ăn tiền" ở xã Chỉ Đạo (Văn
Lâm, Hưng Yên) - tái chế chì, hay là "những làng khói độc" ở làng gốm Bát Tràng (Gia
Lâm, Hà Nội). Ở rất nhiều làng nghề, đặc biệt là các làng nghề ở vùng Đồng bằng Bắc
Bộ, đang kêu cứu về ô nhiễm môi trường không khí.
Công nghiệp mới: Phần lớn các cơ sở công nghiệp mới được đầu tư tập trung vào
82 khu công nghiệp. Trước khi xây dựng dự án đều đã tiến hành "Đánh giá tác động môi
trường", nếu dự án thực hiện đầy đủ các giải pháp bảo vệ môi trường đã được trình bày
trong báo cáo đánh giá tác động môi trường thì sẽ đảm bảo đạt tiêu chuẩn chất lượng môi
trường.
gây ô nhiễm không khí, mà còn gây ra tắc nghẽn giao thông ở nhiều đô thị lớn. Ở Hà Nội
có khoảng 40 điểm thường xuyên bị ùn tắc giao thông, ở thành phố Hồ Chí Minh là 80
điểm. Khi tắc nghẽn giao thông, mức độ ô nhiễm hơi xăng dầu có thể tăng lên 4 - 5 lần so
với lúc bình thường. Ở Việt Nam , khoảng 75% số lượng ôtô chạy bằng nhiên liệu xăng,
25% số lượng ôtô chạy bằng dầu DO, 100% xe máy chạy bằng xăng. Ô nhiễm khí CO và
hơi xăng dầu (HC) thường xảy ra ở các nút giao thông lớn, như là ngã tư Cầu Giấy, ngã
tư Kim Liên (Hà Nội), ngã tư Điện Biện Phủ - Đinh Tiên Hoàng, vòng xoay Hàng Xanh
(thành phố Hồ Chí Minh), ngã tư Cầu Đất - Nguyễn Đức Cảnh (thành phố Hải Phòng),
Trước năm 2001 ở các nút giao thông này còn bị ô nhiễm chì (Pb).
** Nguồn ô nhiễm không khí do hoạt động xây dựng
Ở nước ta hiện nay hoạt động xây dựng nhà cửa, đường sá, cầu cống, rất mạnh
và diễn ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở các đô thị. Các hoạt động xây dựng như đào lấp đất,
đập phá công trình cũ, vật liệu xây dựng bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển, thường
gây ô nhiễm bụi rất trầm trọng đối với môi trường không khí xung quanh, đặc biệt là ô
nhiễm bụi, nồng độ bụi trong không khí ở các nơi có hoạt động xây dựng vượt trị số tiêu
chuẩn cho phép tới 10 - 20 lần.
** Nguồn ô nhiễm không khí từ sinh hoạt đun nấu của nhân dân
Nhân dân ở nông thôn nước ta thường đun nấu bằng củi, rơm, cỏ, lá cây và một tỷ
lệ nhỏ đun nấu bằng than. Nhân dân ở thành phố thường đun nấu bằng than, dầu hoả, củi,
24
điện và khí tự nhiên (gas). Đun nấu bằng than và dầu hoả sẽ thải ra một lượng chất thải ô
nhiễm đáng kể, đặc biệt nó là nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí
trong nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân. Trong những năm gần đây
nhiều gia đình trong đô thị đã sử dụng bếp gas thay cho bếp đun bằng than hay dầu hoả.
Theo báo cáo hiện trạng môi trường của các tỉnh thành năm 2002, và năm 2003, ở
các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, đặc biệt là ở
các thành phố và thị xã của các tỉnh phía Nam, một số gia đình có mức sống cao chuyển
từ đun nấu bằng than, dầu sang đun nấu bằng bếp gas ngày càng nhiều. Bếp gas gây ô
3
), thị xã Phúc Yên (0,99 - 1,33mg/m
3
), thị trấn Hoà
Mạc, Hà Nam (1,31mg/m
3
), thị xã Hà Đông (0,9 - 1,5mg/m
3
),
Trên Hình V.5 giới thiệu diễn biến nồng độ bụi trong không khí từ năm 1995 đến
hết năm 2002 ở các khu dân cư bên cạnh các khu công nghiệp
Nhà máy Nhiệt điện Ninh Bình có công suất 100MW, được xây dựng vào những
năm 1960, đặt sát vách núi Cánh Diều, nằm ở đầu hướng gió chính thổi vào thị xã. Công
nghệ sản xuất lạc hậu, toàn bộ nhà máy và ống khói cao 80m nằm trong bóng "khí động"
của núi Cánh Diều. Xử lý bụi bằng xiclon với hiệu suất rất thấp, khoảng 50%. Vì vậy,
trước năm 1996, nhà máy đã gây ra ô nhiễm bụi và khí SO
2
rất trầm trọng đối với thị xã
Ninh Bình và các làng, xã phụ cận. Ở khu vực xung quanh cuối hướng gió, cách nhà máy
khoảng 600 - 1.000m, nồng độ bụi trong không khí gấp 15-30 lần tiêu chuẩn cho phép,
nồng độ khí SO
2
vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,3 - 3,6 lần. Thống kê trung bình tỷ lệ số
người bị các bệnh về đường hô hấp ở khu vực bị ô nhiễm này cao hơn ở xã Trường Yên
(nơi không bị ô nhiễm) từ 2 - 3 lần. Nhân dân xung quanh đã nhiều lần kêu cứu về ô
nhiễm bụi và khí SO
2
, nhà máy phải giảm công suất xuống còn 10% và có ý định đóng
cửa nhà máy. Để khắc phục ô nhiễm môi trường, năm 1997 nhà máy đã xây dựng ống