Khảo sát sự ảnh hưởng của quy hoạch; thị trường nhà đất và các yếu tố khác ở Thành phố Cần Thơ - Pdf 20

TÓM LƯỢC
Trong những năm gần đây tốc độ đô thị hóa ở nước ta diễn ra mạnh mẽ, kéo theo
thị trường nhà đất cũng hình thành và phát triển nhanh chóng nhưng thị trường này chưa
đi vào hoạt động có hiệu quả, do các nhà đầu tư và quy hoạch chưa phối hợp một cách
ăn ý. Nhà đầu tư, kinh doanh nhà đất phải am hiểu về quy hoạch, về vị trí hay tiềm năng
nói chung của nơi muốn đầu tư, mặt khác nhà quy hoạch cũng phải hiểu về thị trường
nhà đất và sự phát triển trong và ngoài nước, sự hòa nhập như thế nào để vừa phù hợp
với thời cuộc, vừa tận dụng những gì đang có. Sự kết hợp ấy phải chăng còn đòi hỏi
nhiều điều kiện và lời hứa hẹn? Làm rõ vấn đề này với đề tài: “Khảo sát sự ảnh hưởng
của quy hoạch; thị trường nhà đất và các yếu tố khác ở Thành phố Cần Thơ” được thực
hiện trong năm 2008.
- Qua kết quả nghiên cứu cho thấy:
+ Tình hình quy hoạch và thị trường nhà đất ở Thành phố Cần Thơ vẫn còn đang
bất ổn trên một số khu vực trong Quận Cái Răng, Q. Bình Thủy……Tuy cơ sở hạ tầng
ngày càng tốt hơn nhưng tiến độ thực hiện vẫn còn rất trì truệ. Tuy vậy cơ quan có thẩm
quyền cũng đang cố gắng hoàn thiện. Thị trường nhà đất chưa đưa vào nếp vẫn còn rất
manh múng, thế nhưng nó vẫn còn mới mẽ và đầy triển vọng cho các nhà đầu tư.
+ Qua sự tìm hiểu và nghiên cứu trên cho thấy giữa quy hoạch và thị trường có
mối quan hệ khắng khít với nhau, chúng bổ sung và hổ trợ nhau phát triển.
- Nhà nước đang tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, ban hành các chính sách, các
văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn quy hoạch phù hợp với thị trường khu vực
và quốc tế nhằm hổ trợ và định hướng cho tương lai bắt kịp với trình độ của thế giới,
thúc đẩy kinh tế nước nhà phát triển hội nhập kinh tế quốc tế.
1
MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đất đai luôn là một yếu tố quan trọng và hết
sức cần thiết. Đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu không thể thiếu
được. Ngoài ra đất đai còn là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là
địa bàn để phân bố dân cư xây dựng kinh tế xã hội,văn hóa và an ninh quốc phòng
(Tổng cục địa chính,1998).
Vai trò của đất đai đối với sản xuất và đời sống thật lớn và đa dạng. Tuy nhiên đất

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
I. Khái quát về quy hoạch
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Quy hoạch
Theo Dennis J. McKenzie (1998), quy hoạch được định nghĩa như sau: “Quy hoạch
là hoạch định trước những việc cần làm và đặt ra trước những mục tiêu cần đạt tới”.
Theo Lê Tấn Lợi (1999), thì quy hoạch là sự bố trí sắp xếp công việc theo không
gian. Nhằm định hướng sự phát triển hợp lý của đô thị trong từng giai đoạn và lâu dài
với các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Về sản xuất: khu sản xuất; khu kinh doanh; tạo điều kiện thuận lợi trong khả
năng sản xuất và phát triển.
- Về đời sống: đảm bảo mọi hoạt động của người dân đô thị.
- Về không gian kiến trúc, cảnh quan và môi trường: tạo vẻ đẹp đặc trưng cho
đô thị.
1.1.2 Đô thị hoá
Theo Lê Tấn Lợi (1999), đô thị hoá là một tiến trình tất yếu: nâng cao săng suất lao
động; tái định cư trên quy mô quốc gia; tái bố trí sử dụng đất đai; cải thiện đời sống vật
chất tinh thần của nhân dân.
Theo Nguyễn Đình Hương (2003), thì đô thị hoá là xu hướng tất yếu của toàn cầu.
Đô thị hoá bản thân nó bao gồm hai đặc trưng, đó là sự bùng nổ nhanh chóng dân số của
khu vực đô thị; và sự thay đổi các đặc tính lạc hậu của đô thị hiện có cần được hiện đại
hoá.
Theo Võ Kim Cương (2004), thì đô thị hoá là một quá trình biến đổi các khu vực
lãnh thổ trở thành đô thị. Khu vực lãnh thổ ban đầu có thể là đất nông - lâm nghiệp, đất
trống đồi trọc hay khu dân cư nông thôn. Đối với một quốc gia, đô thị hoá bao gồm hai
quá trình,quá trình mở rộng các đô thị hiện có và quá trình hình thành các đô thị mới.
1.1.3 Quy hoạch sử dụng đất đai
Với những áp lực và hiện trạng sử dụng đất đai như hiện nay cho thấy nguồn tài
nguyên đất đai ngày càng khan hiếm và có giới hạn, dân số thế giới gia tăng nhanh. Do
đó, đòi hỏi phải có sự đối chiếu hợp lý giữa các kiểu sử dụng đất đai và loại đất đai để

trong sử dung đất và điều kiện kinh tế xã hội, để chọn lọc và đưa vào thực hiện lựa
chọn sử dụng đất đai tốt nhất. Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất đai là chọn
lọc và đưa vào thực hành những đất đai đó, nó đòi hỏi phải phù hợp với những yêu cầu
5
cần thiết của con người về chất lượng cuộc sống bảo vệ tốt môi trường và tài nguyên
trong tương lai.
Quy hoạch sử dụng đất đai phải đảm bảo 3 tiêu đề chính là: hiệu quả, bình đẳng, có
khả năng chấp nhận và bền vững. Trong điều kiện đất hẹp người đông thì cần thực hiện:
- Đánh giá nhu cầu cần thiết ở hiện tại và tương lai, đánh giá một các khoa học có
hệ thống khả năng cung cấp từ đất đai cho nhu cầu đó.
- Xác định các giải pháp cho các mâu thuẩn trong sử dụng đất đai giữa nhu cầu
cá nhân và nhu cầu chung của cộng đồng trong xã hội, giữa nhu cầu hiện tại và tương
lai.
- Tìm kiếm ra sự lựa chọn bền vững và trong đó chọn ra cái nhìn cần thiết đáp
ứng các yêu cầu xã hội xác định.
- Quy hoạch sẽ đem lại thay đổi đầy mong ước đồng thời rút tỉa được những
mâu thuẫn từ thực tiễn (Lê Quang Trí, 1997).
Theo Võ Kim Cương (2004), thì mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất bao gồm :
- Khắc phục tình trạng xây bừa bãi trong địa bàn thành phố,cần có một văn bản
pháp lí cụ thể giúp các nhà đầu tư và chủ quyền sử dụng đất thấy rõ mục tiêu và giới
hạn xây dựng trên khu đất của mình, để định hướng đầu tư sát với quy hoạch xây dựng
đô thị.
- Cân đối sử dụng tối ưu quỹ đất xây dựng hiện có. Đối với khu vực đã xây
dựng, quy hoạch sử dụng đất bổ sung và chỉnh trang cách thức sử dụng đất, theo yêu
cầu ổn định để phát triển. Đối với khu đất mới, quy hoạch sử dụng đất cụ thể hoá đồ án
quy hoạch chung xây dựng, ấn định rõ nội dung cách thức sử dụng quỹ đất theo công
năng đô thị.
- Tạo cơ sở cho quản lí và xây dựng đô thị có cân đối giữa nhu cầu của chủ đầu
tư, chủ đất và lợi ích của cộng đồng trong đô thị. Cũng như quy hoạch chung và quy
hoạch chi tiết, quy hoạch sử dụng đất là phương tiện pháp lý để quản lý và thực thi các

phạm pháp luật.
Luật đất đai 2003 ra đời, quy định về quản lý và sử dụng đất đai. Trong đó có quy
định về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Điều 21: Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Điều 22: Căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Điều 23: Nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Điều 24: Kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Điều 25: Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Điều 26: Thẩm quyền quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
7
- Điều 27: Điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Điều 28: Công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Điều 29: Thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Căn cứ luật đất đai 2003 này, cơ quan có thẩm quyền đưa ra các nghị định, thông
tư , nghị quyết cụ thể nhằm hướng dẫn thi hành luật. Cụ thể có:
+ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật
đất đai.
+ Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 cuả Bộ Tài nguyên và Môi
trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất.
1.6 Định hướng của quy hoạch
Quy hoạch lệ thuộc hoàn toàn vào định hướng cơ cấu kinh tế ở cấp quốc gia, vùng,
địa phương... Định hướng cơ cấu kinh tế như thế nào thì quy hoạch như thế nấy, công
việc này thể hiện trọn vẹn tầm nhìn của các vị lãnh đạo nhà nước, các nhà hoạch định
chiến lược phát triển kinh tế kết hợp nhà lãnh đạo của cơ quan có thẩm quyền địa
phương. Hoạch định trước đất nước sẽ phát triển tầm cỡ nào trong tổng thể nền kinh tế
thế giới và khu vực; đặt vật kiến trúc trên đất ở đâu (nhà máy lọc dầu, cảng biển, sân
bay, đặc khu kinh tế, kinh tế cửa khẩu....) sẽ cho hiệu quả cao nhất và không lãng phí.
Ở các nước phát triển và đang phát triển, tầm nhìn trong quy hoạch là vấn đề then
chốt, nếu những nước phát triển không chú trọng nguyên tắc sẽ phải trả một giá rất đắt,

Trong các văn bản pháp luật của nhà nước Việt Nam đã quy định “Đất đai thuộc sở
hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý và nhà nước giao cho các tổ chức và cá
nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Các tổ chức nhà nước và cá nhân được nhà nước giao
cho sử dụng dựa trên các quyền cơ bản sau: quyền chuyển đổi, quyền chuyển nhượng,
quyền thừa kế, quyền cho thuê, quyền thuế chấp và quyền gia vốn bằng giá trị quyền sử
dụng đất để hợp tác kinh doanh. Do vậy ở nước ta thực chất hàng hóa trao đổi trên thị
trường nhà đất là: quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở (Lê Quang Trí, 2001).
Theo Nguyễn Đình Bồng (2002) thị trường nhà đất là một bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thị trường. Thị trường nhà đất được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao
gồm các hoạt động liên quan đến giao dịch đất đai như: mua bán, cho thuê, thừa kế, thế
chấp… Thị trường nhà đất theo nghĩa rộng không chỉ bao gồm các hoạt động có liên
quan đến giao dịch nhà đất mà bao gồm cả các lĩnh vực liên quan đến việc tạo lập bất
động sản. Nó bị chi phối bởi các quy luật kinh tế của hàng hóa: quy luật giá trị, quy luật
cung cầu và theo mô hình chung của thị trường hàng hóa với ba yếu tố quyết định là sản
9
phẩm, số lượng và giá cả. Phạm vi hoạt động của thị trường nhà đất do pháp luật của
mỗi nước quy định nên cũng không đồng nhất.
2.2 Vai trò của thị trường nhà đất
Theo Lê Quang Trí (2001), thị trường nhà đất có vai trò:
- Thị trường nhà đất là một trong những nhân tố quan trọng để đánh giá sự
phát triển về mặt kinh tế xã hội của một nước hay một vùng. Đây là lĩnh vực thực hiện
tái sản xuất hay sử dụng các yếu tố sản xuất cho các nhà kinh doanh nhà đất. Đó là quá
trình thực hiện mua bán chuyển nhượng bất động sản. Chính những hoạt động này làm
cho khối lượng hàng hóa bất động sản ngày càng phong phú và đa dạng. Đây cũng là
nơi để chuyển đổi vốn từ hình thức hiện vật sang giá trị. Thị trường càng phát triển hay
dung lượng của thị trường cao thì sự chu chuyển vốn càng mạnh, còn nếu không thì
ngược lại.
- Thị trường nhà đất thúc đẩy áp dụng khoa học kỹ thuật, cải tiến công
nghệ, nâng cao chất lượng nhà ở, bảo vệ và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất.
Các yếu tố này luôn luôn vận động và phát triển. Do đó thúc đẩy các doanh nghiệp áp

lao động.
- Liên quan đến một số lĩnh vực xã hội như lao động, việc làm, nhà ở…
2.3 Đặc điểm cơ bản của thị trường nhà đất.
Thị trường nhà dất mang tính chất không tập trung, trải rộng trên tất cả các vùng
trên đất nước. Thị trường nhà đất thường không bao gồm một thị trường lớn mà bao
gồm hàng loạt thị trường nhỏ, mỗi thị trường mang bản chất địa phương với quy mô và
trình độ khác nhau do có sự phát triển không đều giữa các vùng, các miền do điều kiện
tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế xã hội, văn hóa khác nhau. Như vậy thị trường
nhà đất đô thị phát triển mạnh và có quy mô nhiều so với vùng nông thôn. Vùng nông
thôn chủ yếu là thị trường đất nông nghiệp.
Thị trường nhà dất không hoàn hảo do không đồng nhất về thông tin và các yếu tố
cấu thành thị trường đó. Chủ yếu là do tập quán, tập tục, kiến thức hiểu biết của người
sử dụng và buôn bán chuyển nhượng nhà đất, thiếu các thông tin thực sự về thị trường
này. Do đó, trong kinh doanh nhà thì nhà kinh doanh phải am hiểu đặc tính riêng của
từng vùng trên cơ sở các tính chất quyết định chung. Như vậy người tham gia thị trường
nhà đất phải dành nhiều thời gian và chi phí cho việc xác định các thông tin cần thiết.
Giá trị nhà đất sẽ không giống nhau trong cả nước, nên cần phải có các tư vấn chuyên
môn và nhà đầu tư phải có đủ kinh nghiệm.
Cung trong thị trường nhà đất không thể phản ứng nhanh chóng, tương ứng với sự
thay đổi của cầu bởi việc tăng cung của một loại nhà đất với một mục đích cụ thể nào
11
đó thường mất nhiều thời gian. Đó là thời gian dành cho việc tạo nguồn cung cho thị
trường, như mua đất, xin giấy phép xây dựng. Những biến động xãy ra trong thị trường
nhà đất chậm hơn nhiều so với các thị trường khác. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, cung của
một loại nhà đất có thể tăng lên bằng cách chuyển từ mục đích sử dụng này sang mục
đích sử dụng khác.
Tổng cung đất đai cho tất cả các ý định và mục tiêu là cố định, mặc dù sự cấu tạo
đất có thể gia tăng cung cận biên trong tổng cung. Cung không nhất thiết cố định cho
từng mục đích sử dụng cụ thể, nhưng tổng cung đất là cố định và việc hạn chế bằng
kiểm soát quy hoạch có ảnh hưởng lớn đến giới hạn cung đất bổ sung cho những mục

- Cùng với sự phát triển của xã hội, đô thị hoá là một xu thế tất yếu của mọi xã hội
phát triển. Quá trình đô thị hoá không chỉ đơn thuần là quá trình tự phát triển lớn lên của
các đô thị mà còn là quá trình phát triển do sức ép của làn song di cư từ nông thôn ra
thành thị làm tăng nhu cầu mở rộng quy mô không gian đô thị.
- Sự phát triển của công nghiệp hoá cũng là một nguyên nhân quan trọng đòi hỏi mở
rộng phạm vi đô thị, hình thành các khu công nghiệp mới và thay thế dần các hoạt động
sản xuất công nghiệp tại nội thành.
- Sự phát triển của các hoạt động thương mại, dịch vụ ngày càng mở rộng dẫn đến
việc hình thành các trung tâm thương mại, sự phát triển các hoạt động thuộc lĩnh vực
văn phòng, công sở và trụ sở giao dịch…là nhân tố thúc đẩy sự phát triển và mở rộng
các trung tâm của đô thị.
- Sự gia tăng về thu nhập, cuộc sống được cải thiện làm gia tăng nhu cầu phát triển
các hoạt động văn hoá, các trung tâm vui chơi giải trí thể thao và các hoạt động tinh
thần khác ở vùng đô thị.
Nói chung, xã hội càng phát triển, quá trình đô thị hoá càng mạnh thì cầu về đất đô thị
càng trở nên căng thẳng.
2.5.2 Cung về đất đô thị
Nói chung, cung về đất đô thị luôn luôn bị mất cân đối mang tính thiếu hụt so với
cầu. Cung đất đô thị có thể được hình thành từ ba nguồn chủ yếu sau đây:
- Chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp. Mặc dù chính sách của mọi
quốc gia đều tìm mọi biện pháp hướng đến việc hạn chế các hoạt động phi nông nghiệp
lấn chiếm sử dụng đất nông nghiệp, chuyển đất nông nghiệp thành các loại đất khác.
Tuy vậy, nguồn cung chủ yếu cho nhu cầu tăng đất đô thị vẫn là nguồn cung từ đất nông
nghiệp chuyển thành.
13
- Nguồn thứ hai cung đất mở rộng và phát triển đô thị là việc khai thác sử dụng các
vùng đất hoang hoá ven biển hoặc đất đồi núi bạc màu không sản xuất vào xây dựng
phát triển mở rộng đô thị. Đây là một hướng phát triển đô thị mà các nhà theo đuổi
chương trình an toàn lương thực thế giới khuyến cáo đang làm. Tuy nhiên, nguồn đất
đai này có nhiều song điều kiện vị trí địa lý và địa hình cũng như các yếu tố hội tụ để có

năm qua. Tuy vậy, do chưa được thừa nhận một cách đầy đủ và hoàn chỉnh nên chưa có
một hệ thống công cụ quản lý đồng bộ để Nhà nước thực hiện vai trò quản lý, điều tiết
của mình nên thị trường đất đai đô thị còn nhiều điểm bất cập:
- Thị trường bất ổn định nhưng không được điều tiết, những căng thẳng về quan
hệ cung cầu mang tính giả tạo phi thực tế phát triển đô thị.
- Các quan hệ mua bán trao đổi về đất đai đều trá hình dưới các quan hệ mua bán
trao đổi về nhà ở và các bất động sản khác.
- Nhà nước chưa thực sự nắm được quyền chia phối và điều tiết thị trường đất
đai đô thị, Nhà nước chưa kiểm soát được đầy đủ các quan hệ chuyển đổi sử dụng đất
nhất là chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất dân cư đô thị.
- Nhà nước không thực hiện được đầy đủ quyền sở hữu về mặt kinh tế đối với
các quan hệ về đất đai: hầu hết các quan hệ về đất đai đều nằm ngoài vòng kiểm soát
của Nhà nước.
- Sự không hoàn thiện về thị trường đất đô thị dẫn đến đất đô thị sử dụng không
đúng mục đích, không có hiệu quả và nhất là có nguy cơ gây lên những tổn thất lớn của
xã hội.
Trước tình hình trên, vấn đề hoàn thiện thị trường đất đai đô thị đặt ra như một nhu
cầu cấp bách đối với công tác quản lý đất đai đô thị. Để hoàn thiện thị trường đất đai đô
thị, một số vấn đề chủ yếu cần được hoàn thiện là:
- Hoàn thiện các quan hệ về sở hữu và sử dụng đất đai. Đất đai nên được coi là
một tài sản thuộc quyền đồng sở hữu giữa Nhà nước và người sử dụng, trong đó cần
phân định cụ thể về quyền định đoạt của Nhà nước và 5 quyền của người sử dụng. Trên
cơ sở của các quan hệ về thị trường đất đai được xác lập, Nhà nước là người có quyền
quyết định tối cao trong việc định đoạt đất đai khi các quyền của người sử dụng đã được
thực hiện trên cơ sở các quan hệ của thị trường đất đai.
- Mở rộng và tự do hoá các quan hệ về trao đổi chuyển nhượng đất đai để huy
động sử dụng tối đa quỹ đất đô thị hiện có vào các hoạt động sử dụng có hiệu quả nhất,
góp phần tạo nên các cân bằng đầy đủ về thị trường đất đô thị.
- Cần sớm hoàn chỉnh các quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết về phát triển
không gian đô thị để công bố rộng rãi nhằm tránh những lãng phí xã hội, cần xây dựng

chủ đầu tư xây dựng đa dạng các loại căn hộ có diện tích phù hợp với các đối tượng có
thu nhập thấp và trung bình, trình Chính phủ trong quý I năm 2008…Nghiên cứu sửa
đổi, bổ sung Pháp lệnh về thuế nhà đất theo hướng đánh thuế luỹ tiến đối với các trường
16
hợp chủ sở hữu, chủ sử dụng có nhiều nhà, đất vượt hạn mức quy định, có nhà đất
nhưng không đưa vào khai thác sử dụng nhằm mục đích hạn chế đầu cơ, tăng nguồn thu
cho ngân sách, trình Chính phủ trong quý I năm 2008.Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và
Môi trường nghiên cứu ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban
hành hạn mức sở hữu nhà ở, đất để làm cơ sở xác định thuế nhà, đất theo quy định của
pháp luật về thuế ngay sau khi văn bản pháp luật về thuế liên quan đến thị trường bất
động sản được sửa đổi, bổ sung. Chỉ thị này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng
Công báo.
2.8 Các địa điểm mà các nhà kinh doanh bất động sản chọn để đầu tư thường dựa
vào các yếu tố:
- Địa điểm trong quy hoạch đô thị;
- Tình hình địa chính, địa chất, thuỷ văn;
- Hiện trạng và viễn cảnh cấp thoát nước, cấp điện, điện thoại;
- Vấn đề đi lại, tiếp cận địa điểm
- Nơi đỗ xe;
- Môi trường cảnh quan;
- Hạ tầng xã hội;
- Thái độ cư dân đối với dự án;
- Cái giá phải trả để có đất xây dựng.
2.9 Tìm hướng đúng cho đầu tư bất động sản
Hình thành và phát triển thị trường bất động sản là một trong những định hướng
quan trọng trong những năm tới đây của Việt Nam. Thể chế hóa định hướng đó, Nghị
quyết số 06/2004/NQ-CP của Chính phủ đã triển khai cho các bộ, ngành, địa phương
thực hiện nhiều nội dung khác nhau như soạn thảo và trình Quốc hội khung pháp lý cho
vấn đề liên quan (Luật Kinh doanh bất động sản (BĐS), Luật Nhà ở, Luật Đăng ký
BĐS); thành lập ban chỉ đạo phát triển thị trường BĐS tại các thành phố lớn như Hà

đoạn 1, diện tích 1,5 ha tại khu đô thị mới Hưng Phú, do Công ty cổ phần Xây dựng số
8 đầu tư. Phân hiệu Trường Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh này sẽ chỉ sử
dụng trong vài năm, sau đó thành phố sẽ bố trí khu đất khác để mở rộng xây dựng giai
đoạn 2 và giao lại cho địa phương quản lý, xây dựng thành trường tiểu học theo quy
hoạch.
+ Xác định vị trí và quy mô xây dựng cụm Cảng hàng không sân bay quốc
tế Trà Nóc, diện tích 5ha, hướng sẽ thành trung tâm cảng hàng không Cần Thơ.
+ Điều chỉnh quy hoạch một phần khu đô thị An Bình - Mỹ Khánh, cặp
quốc lộ 91C. UBND thành phố Cần Thơ cũng đã thống nhất điều chỉnh một số phân khu
chức năng của khu Trung tâm Hội chợ triển lãm quốc tế Cần Thơ, trong đó sẽ mở rộng
khu đô thị điện máy Sài Gòn và bố trí bãi đậu xe ô tô cho khách đến tham gia hội chợ
hàng năm.
18
- Ngày 19/03/2008 Trường Đại học Tây Đô vừa mới được khởi công xây dựng.
Theo qui hoạch Đại học Tây Đô tọa lạc trên 12,6 ha tại khu vực Thạnh Mỹ, phường Lê
Bình và phường Hưng Thạnh (quận Cái Răng, TP.Cần Thơ).
- Ngày 23/03/2008 Lãnh đạo UBND Thành phố Cần Thơ vừa có buổi làm việc
với các sở, ban, ngành Thành phố bàn về kế hoạch đầu tư xây dựng công trình Bệnh
viện Đa khoa Cần Thơ, với quy mô 500 giường, tổng mức đầu tư khoảng 500 tỉ đồng,
thực hiện từ năm 2007-2010. Hiện cơ quan chức năng TP Cần Thơ đã hoàn tất việc
tuyển chọn thiết kế bệnh viện, báo cáo Bộ Y tế và trình chính phủ về việc đầu tư này.
- Sáng ngày 29/03/2008, tại Vĩnh Long, Bộ GTVT phối hợp với UBND tỉnh Vĩnh
Long làm lễ khởi công dự án mở rộng QL1A đoạn Mỹ Thuận - Cần Thơ. Theo kế
hoạch, đoạn Mỹ Thuận - Cần Thơ có chiều dài trên 33km được thi công theo tiêu chuẩn
đường cấp 3 đồng bằng. Mặt đường rộng 20m, trong đó đoạn tránh thị xã Vĩnh Long dài
7,5m, mặt rộng 16m. Dự án do Cục Đường bộ Việt Nam làm chủ đầu tư, với tổng số
vốn 1.498 tỷ đồng; từ ngân sách nhà nước và thu phí cầu Mỹ Thuận.
3.2 Vấn đề về thị trường nhà đất
Thị trường nhà đất luôn là vấn đề sôi nổi của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Do đó thị trường nhà đất luôn có sự biến động theo thời gian. Đã có nhiều quan điểm và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status