Bệnh lý viêm đa
dây thần kinh
Bệnh lý viêm đa dây thần kinh
I. ĐẠI CƯƠNG Tổn thương thần kinh ngoại biên là tập hợp nhiều bệnh lý với những biểu hiện lâm
sàng khác nhau. Khám lâm sàng trong hội chứng này rất quan trọng để có thể tìm
ra được nguyên nhân. Việc tìm kiếm này cần thiết đến nỗi cho đến tận ngày nay
vẫn phát hiện thêm những hội chứng mới và làm phát triển rất nhiều cho việc điều
trị. Đã có nhiều hội chứng được định nghĩa trước đây:
- Đầu tiên là viêm đa dây thần kinh (polyneuropathy), với bệnh lý tổn thương hai
bên, đối xứng, có rối loạn cảm giác hoặc rối loạn cảm giác – vận động. Đây là
độc chất.
1. Tổn thương sợi trục:
- Tính chất chủ yếu của bệnh là bán cấp và mạn.
- Những dấu hiệu đầu tiên trong phần lớn các trường hợp là rối loạn cảm giác ở
ngọn chi, di chuyển dần về gốc chi. Triệu chứng nổi bật là tê, giảm cảm giác, hoặc
hiếm hơn là đau ở ngón chân – bàn chân, sau đó là bàn tay.
- Biểu hiện lâm sàng giai đoạn đầu thường nghèo nàn gồm giảm cảm giác đau và
nóng lạnh ở phần xa của chi dưới và giảm phản xạ gân gót. Giảm vận động xuất
hiện trễ nhất và thường chỉ là dấu bàn chân rớt.
- Dấu điện cơ có giá trị quan trọng. Dấu chứng này lúc đầu xuất hiện ở chi dưới,
sau đó mới xuất hiện ở chi trên. Trừ trường hợp đặc biệt, dịch não tủy thường
trong giới hạn bình thường. Giải phẫu bệnh lý thần kinh – cơ đôi khi cần thiết cho
chẩn đoán và cung cấp tư liệu gợi ý về 1 nguyên nhân.
- Ngưng dùng thuốc sẽ làm giảm viêm đa dây thần kinh. Tuy nhiên sự hồi phục
còn tùy thuộc rất lớn vào cơ địa (lớn tuổi, có bệnh kèm theo … sẽ làm chậm thời
gian hồi phục), thời gian, mức độ trầm trọng của ngộ độc thuốc và vào những yếu
tố cá nhân còn chưa được biết rõ.
a/ Almitrine (Bismesylate d’):
Được phát hiện đầu tiên năm 1985 bởi Ghérardi R. và cộng sự trên những bệnh
nhân sau thời gian dài dùng Vectarion (bệnh đường hô hấp mạn tính). Năm 1989,
Bouche P. và cộng sự báo cáo về những tai biến sau thời gian dài dùng Duxil (phối
hợp giữa Almitrine và Raubasine).
- Bệnh cảnh là viêm đa dây thần kinh thể rối loạn cảm giác – vận động: rối loạn
cảm giác xuất hiện trước tiên và ảnh hưởng đến tất cả các loại cảm giác (đau, nhiệt
độ, rung, cảm giác bản thể).
- Bệnh có diễn tiến bán cấp, chậm và thường có kèm gầy toàn thân. Dấu liệt vận
động đến trễ hơn, xuất hiện đầu tiên ở phần xa của chi.
- Chẩn đoán xác định nhờ điện cơ và giải phẫu bệnh (cho thấy bệnh ở bao myelin
của các sợi thần kinh có đường kính trung bình và lớn).
- Cách điều trị tốt nhất là phòng ngừa. Không dùng thuốc trên bệnh nhân có nguy
Chỉ gây biến chứng thần kinh nếu sử dụng dài ngày như trong điều trị bệnh Crohn
hay các trường hợp nhiễm trùng hiếm khí. Bệnh cảnh lâm sàng là viêm đa dây
thần kinh kiểu rối loạn cảm giác kèm đau. Ornidazole và Misonidazol cũng có khả
năng gây viêm đa dây thần kinh như Metronidazol.
h/ Nitrofurantoin:
Gây viêm đa dây thần kinh kiểu rối loạn cảm giác – vận động.
i/ Podophylline:
Dùng ngoài da trị mụn cóc và các condylomes. Loại thuốc này gây viêm đa dây
thần kinh thể cảm giác hoặc cảm giác – vận động khi bệnh nhân uống (tự tử).
Bệnh thường kèm dấu chứng tiêu hóa và bệnh cảnh não.
j/ Thalidomide:
k/ Vidarabine:
Dùng trong điều trị viêm gan siêu vi B. Có khả năng gây viêm đa dây thần kinh
thể rối loạn cảm giác – vận động nặng, đôi khi kèm rối loạn thực vật trầm trọng
(Chauplannaz G. và cộng sự 1984).
l/ Vincristine:
Thường dùng trong điều trị các bệnh ác tính.
- Thường là gây viêm đa dây thần kinh kiểu rối loạn cảm giác.
- Dấu hiệu sớm nhất là tê ở các đầu chi.
- Khám lâm sàng phát hiện giảm cảm giác đau, nhiệt độ và bản thể ở phần xa của
chi và mất phản xạ gân cơ. Rối loạn vận động hiếm thấy.
- Điều trị ngoài việc ngưng thuốc, có thể sử dụng những thuốc “bảo vệ thần kinh”
là acid glutamique (Jackson DW, 1988), Naptidrofuryl (Léger JM, 1994).
- Bệnh lý viêm đa dây thần kinh do dùng thuốc ngày càng phong phú. Tham khảo
tạp chí thần kinh trong 10 năm gần đây cho thấy đã có những gợi ý về những loại
thuốc trị cường giáp Carbimazole (Léger, 1984), Cimetidine (Pouget, 1986), Sirop
ho Codobromyl (Mabin, 1988), Salazosulfaridine: trị viêm đại trực tràng chảy máu
(Blin, 1992), Piroxicam (Sangla, 1993).
2. Tổn thương tế bào thần kinh:
Tổn thương xảy ra ở các tế bào thần kinh cảm giác, do đó còn được gọi tổn thương
Dùng lâu dài loại thuốc này thường làm xuất hiện hội chứng đau nhức cơ và tăng
tế bào ái toan. Trong 20 – 30% trường hợp có kèm biến chứng viêm đa dây thần
kinh thể cảm giác – vận động và đau nhức.
d/ Muối vàng:
Thường dùng trong viêm đa khớp dạng thấp. Có thể gây bệnh ở não nhưng cũng
có thể gây nên viêm đa dây thần kinh có kèm đau nhức. Năm 1992, Petiot P. và
cộng sự đã báo cáo trường hợp viêm đa rễ dây thần kinh do dùng muối vàng.
B. VIÊM ĐA DÂY THẦN KINH DO NGỘ ĐỘC:
1. Ngộ độc Acrylamide:
Tiếp xúc lâu dài loại thuốc độc này có thể gây viêm đa dây thần kinh loại tổn
thương sợi trục kiểu rối loạn cảm giác – vận động. Đặc biệt có thể kèm tổn thương
thần kinh trung ương, tiểu não và thần kinh thực vật.
2. Arsenic:
- Ngộ độc Arsenic cấp: ói mửa, tiêu chảy, sang thương da, bệnh cảnh não cấp,
bệnh cơ tim, gan …
- Ngộ độc Arsenic mạn: dấu tổng quát (như mệt mỏi, kém ăn, ói mửa), dấu ngoài
da (da lòng bàn tay, bàn chân dày lên, móng có những sọc trắng, da mất sắc tố),
viêm đa dây thần kinh kiểu rối loạn cảm giác – vận động (thường ảnh hưởng cảm
giác bản thể), teo cơ vùng xa của chi.
- Điều trị bằng Dimercaptopropanolol (BAL) hay với Penicillamine. Phải theo dõi
nhiều tháng. Trong trường hợp ngộ độc kéo dài, sự hồi phục thường không hoàn
toàn.
3. N- hexan:
Thường xảy ra trong kỹ nghệ làm sơn mài, làm keo. Bệnh cảnh lâm sàng là viêm
đa dây thần kinh kiểu cảm giác, đôi khi có thể có rối loạn vận động.
4. Phospho hữu cơ:
Xảy ra trước đây trong kỹ nghệ làm thuốc sát trùng, hiện nay thấy trong kỹ nghệ
nhựa. Bệnh cảnh lâm sàng là viêm đa dây thần kinh kiểu rối loạn cảm giác – vận
động, thường có kèm tổn thương trung ương với biểu hiện của tổn thương tháp.
Điều trị bằng Atropin chỉ có tác dụng trên hội chứng cholinergic, không có giá trị
, B
8
, B
12
, Folic acid
…):
Những trường hợp bệnh do thiếu sinh tố nhóm B, có thể xuất hiện đơn độc hoặc
kết hợp với thiếu đạm và năng lượng, là nguyên nhân của những bệnh lý viêm đa
dây thần kinh và bệnh não cấp.
- Trong tất cả các trường hợp đều có sự hiện diện của rối loạn cảm giác chủ quan,
chủ yếu biểu hiện ở phần xa của chi như vọp bẻ, tăng cảm giác đau (nhất là cảm
giác nóng rát lòng bàn tay, bàn chân), đôi khi rất dữ dội và đặc biệt.
- Khám lâm sàng phát hiện rối loạn vận mạch, rối loạn cảm giác ở phần xa của chi
(cả cảm giác nông và sâu). Mất phản xạ gân cơ. Dấu vận động biểu hiện rõ ở chi
trên và nhóm cơ nâng bàn chân làm xuất hiện teo cơ cẳng tay và vùng mặt ngoài
cẳng chân.
2. Viêm đa dây thần kinh do thiếu sinh tố PP hay Niacine:
Thiếu sinh tố PP có thể làm xuất hiện một bệnh cảnh viêm đa dây thần kinh và
trong trường hợp nặng có thể xuất hiện bệnh cảnh pellagra điển hình gồm tam
chứng: sang thương ngoài da, tiêu chảy, rối loạn ý thức (ảo giác, lú lẫn). Bệnh
cảnh chỉ xuất hiện trong trường hợp chế độ ăn vừa thiếu PP vừa thiếu Tryptophane
(có vai trò trong tổng hợp PP nội sinh). Bệnh thường thấy trong một vài trường
hợp ung thư ruột non khi 60% Tryptophane bị biến đổi sang Sérotonine.
3. Viêm đa dây thần kinh do thiếu sinh tố E (Tocopherol):
Bệnh cảnh thường xuất hiện chung với sự thiếu hụt nhiều loại sinh tố khác. Bệnh
cảnh xuất hiện là viêm đa dây thần kinh diễn tiến âm thầm, kết hợp với liệt phối
hợp vận động mắt, thất điều thứ phát do teo vỏ tiểu não và giảm thị lực do tổn
thương võng mạc (trầm trọng thêm khi có thiếu sinh tố A phối hợp).
D. VIÊM ĐA DÂY THẦN KINH TRONG CÁC BỆNH CẬN UNG THƯ:
Những hội chứng thần kinh cận ung thư được xác định khi có bệnh ác tính kết
++
Anti Retine
Có thể thấy rằng những bệnh ác tính trước khi được phát hiện có thể gây tổn
thương trên hệ thần kinh. Tổn thương rất đa dạng và có thể xuất hiện nhiều từ
trung ương đến ngoại biên với các triệu chứng phong phú ở não, tiểu não, mắt …
Và thậm chí có những trường hợp tai biến mạch máu não có nguồn gốc ung thư
xảy ra do đông máu nội mạch.
Bài này tự giới hạn trong những bệnh lý thần kinh ngoại biên cận ung thư;
1. Viêm đa dây thần kinh kiểu cảm giác cận ung thư của Denny Brown:
Đây là dạng khá phổ biến. Bệnh cảnh lâm sàng gồm thất điều, rối loạn cảm giác,
nhất là cảm giác bản thể, đau nhức và có kèm yếu tứ chi. Bệnh cảnh lâm sàng
thường có phối hợp với viêm não (rối loạn hành vi, lú lẫn), tổn thương vùng thân
não (liệt các cơ mắt, rối loạn tiền đình). Cần chú ý là trong 50% các trường hợp,
người ta không tìm ra được bệnh ung thư (Authier F.J., De Lattre J.Y 1992).
2. Viêm đa dây thần kinh kiểu rối loạn cảm giác-vận động cận ung thư:
Phần lớn là viêm đa dây thần kinh điển hình. Hiếm hơn là những trường hợp viêm
đa dây thần kinh diễn tiến từng đợt với những đợt bệnh giảm rối lại tái phát. Viêm
đa dây thần kinh trong giai đoạn cuối thường là viêm đa dây thần kinh có nhiều
nguyên nhân (thiếu sinh tố, thiểu dưỡng, do dùng thuốc …).
3. Viêm đa dây thần kinh kiểu rối loạn vận động bán cấp:
Ít xảy ra hơn. Hay gặp trong lymphomes ác tính.
4. Viêm nhiều dây thần kinh hoặc đa rễ dây thần kinh Guillain-Barré:
Cũng đã được nêu trong diễn tiến của các bệnh ác tính (Hodgkin).
D. VIÊM ĐA DÂY THẦN KINH TRONG CÁC BỆNH THOÁI HÓA, DI
TRUYỀN:
Được xếp vào 3 nhóm chính.
- Viêm đa dây thần kinh di truyền kiểu rối loạn cảm giác – vận động.
(neuropathies sensitivo-motrices héréditaires).
- Viêm đa dây thần kinh di truyền kiểu rối loạn cảm giác và thực vật.
- Tê 2 chi dưới, đối xứng, ngọn chi nặng hơn gốc chi.
- Đau dữ dội như cháy bỏng, đau như xoắn vặn sâu trong cơ.
- Cảm giác khách quan ít khi bị rối loạn, trừ cảm giác sâu.
- Phản xạ gân cơ mất. Rối loạn vận mạch và teo cơ, kèm theo loét lòng bàn chân.
Ra nhiều mồ hôi.
b. Thể rối loạn vận động – cảm giác:
- Liệt đối xứng 2 chi dưới của các cơ mặt ngoài và trước cẳng chân. Liệt 2 bên
(bàn chân rũ) và tiến triển nhanh.
- Rối loạn cảm giác khách quan rất mơ hồ. Ít có rối loạn dinh dưỡng.
- Bệnh diễn tiến kéo dài và việc điều trị bệnh tiểu đường ở giai đoạn này thường ít
có hiệu quả.
c. Thể giả bệnh Tabès:
- Đau giống như trong bệnh Tabès (đau rất dữ dội).
- Rối loạn cảm giác sâu (loạng choạng).
- Mất phản xạ gân cơ.
- Ngoài ra, những bệnh liệt tứ chi bán cấp cũng được ghi nhận, hình thể lâm sàng
giống viêm đa rễ và dây thần kinh.
* Điều trị:
- Điều trị đúng mức bệnh nguyên (tiểu đường) có giá trị phòng ngừa biến chứng
Viêm đa dây thần kinh, nhất là thể chí có rối loạn cảm giác.
- Sinh tố B
1
, B
12
liều cao.
- Thuốc giảm đau trong trường hợp đau nhiều. Thuốc dãn mạch ít có tác dụng.
- Chú ý ngăn ngừa biến dạng khớp do teo cơ.
2. Viêm đa dây thần kinh do Porphyrine:
Là bệnh biến dưỡng, mang tính di truyền rõ rệt.
* Dấu chứng chẩn đoán:
đường vào khí quản). Khám thấy vòm hầu hạ thấp và gần như bị bất động. Phản
xạ vòm hầu và thanh quản giảm. Có khi chỉ liệt ½ vòm hầu. Có khi liệt thanh quản
mà không liệt vòm hầu.
- Niêm mạc vòm hầu và thanh quản trở nên tái, giảm hoặc mất hoàn toàn cảm
giác.
- Liệt kéo dài thường 4 – 5 ngày (có thể lâu hơn, nhưng ít khi trở nên mạn tính).
b/ Thể lan rộng:
Theo sau thể vòm hầu ở trên. Liệt cơ mắt (thường liệt các cơ ảnh hưởng đến chức
năng điều tiết (không nhìnn gần, không nhìn vật nhỏ được). Các cơ co đồng tử vẫn
bình thường. Bệnh có thể khỏi từ 8 – 10 ngày sau.
c/ Thể toàn thân:
Giai đoạn bệnh muộn, theo sau thể cục bộ.
- Yếu hoặc liệt mềm 2 chân, mất phản xạ.
- Rối loạn cảm giác nông khách quan, kèm theo rối loạn cảm giác sâu.
- Rối loạn dinh dưỡng ít.
- Phản ứng điện giảm.
- Dịch não tủy: đạm tăng (40 – 200 mg/l), tế bào tăng 10 – 20/mm
3
đa số là
lympho.
d/ Thể giả Tabès:
- Rối loạn cảm giác sâu, Romberg (+).
- Cảm giác nông ít bị tổn thương.
- Phản xạ gân cơ mất.
Những thể lâm sàng nêu trên đều thuộc dạng bán cấp. Tiến triển của chúng nói
chung chậm nhưng dự hậu thường tốt.
e/ Thể cấp tính:
- Tiến triển nhanh, lan toàn thân. Khởi đầu liệt 2 chân, lan lên 2 tay, cơ thân, cổ,
cơ hô hấp.
- Trường hợp khác giống như hội chứng Landry, diễn tiến đi lên dần. Tử vong do
A. LÂM SÀNG:
Bệnh cảnh chung:
- Khởi đầu đột ngột trong vài phút đến vài giờ với các triệu chứng dị cảm, đau
kiểu rễ và dây thần kinh. Ít khi xuất hiện các triệu chứng của dây thần kinh sọ não.
Bệnh tiến triển tăng dần.
- Triệu chứng vận động xuất hiện: giảm vận động, giảm phản xạ gân cơ.
- Rối loạn cảm giác khách quan không rõ rệt, xảy ra chậm hơn dấu vận động và
khu trú ở vùng thân các dây thần kinh bị tổn thương. Các dây thần kinh thường bị
tổn thương là: dây thần kinh hông khoeo ngoài bên trái, thần kinh trụ bên phải
hoặc thần kinh quay.
- Để chẩn đoán, dùng phương pháp kích thích dòng điện, ghi điện cơ. Khi có tổn
thương cả rễ dây thần kinh sẽ có phản ứng tăng nhẹ đạm trong dịch não tủy.
- Diễn tiến tùy thuộc vào nguyên nhân và tùy thuộc điều trị, liệt có thể khỏi hoàn
toàn hoặc giảm một phần hay ngược lại bệnh nặng dần với thương tổn ngày một
lan rộng hơn.
Thể lâm sàng theo nguyên nhân.
1. Viêm nhiều dây thần kinh do các bệnh của động mạch:
a. Viêm nút quanh động mạch:
- Còn gọi là bệnh Kussmaul – Maier. Những biểu hiện về thần kinh thường xuất
hiện sau các triệu chứng đặc biệt của bệnh này khoảng 4 tháng (xuất hiện những
hạt ngoài da, không màu sắc và khó nhận định rõ. Bệnh nhân có triệu chứng đau
lan tỏa, mệt mỏi, sốt, tổng trạng kém, có triệu chứng cao huyết áp, triệu chứng về
thận, khớp).
- Triệu chứng thần kinh: 2/3 trường hợp bệnh khởi đầu ở 2 chi dưới (thần kinh
hông khoeo ngoài bị nhiều hơn thần kinh hông khoeo trong), ít khi có biểu hiện ở
chi trên. Triệu chứng nổi bật là cơn đau rất dữ dội kèm dị cảm (ngược lại rối loạn
cảm giác khách quan không rõ ràng và bị che mờ bởi dị cảm), đau lan theo dây
thần kinh hoặc đau kiểu rễ. Teo cơ xảy ra nhanh chóng, kèm theo là phù dinh
dưỡng, rối loạn vận mạch ở phần ngọn chi, xảy ra cùng lúc hoặc trước khi liệt.
Liệt các dây thần kinh như dây thần kinh đa cánh tay trong. Các dây thần kinh sọ
- Viêm các dây thần kinh sọ não, hiếm gặp.
Một trường hợp được ghi nhận là liệt vận nhãn tái đi tái lại và thay đổi bên.
2.2. Bệnh Porphyrie cấp:
- Tuổi mắc bệnh 20 – 40 tuổi, nữ nhiều hơn nam, có tính cách gia đình, xuất hiện
có cơn bộc phát.
- Khởi đầu là dị cảm và đau. Không rối loạn cảm giác khách quan. (Có khi biểu
hiện bằng triệu chứng đau bụng, bệnh cảnh có thể rất phức tạp với các biểu hiện
trung ương: rối loạn tâm thần, co giật, triệu chứng tháp).
- Liệt cơ duỗi bàn tay và ngón tay. Teo cơ xảy ra nhanh. Ít khi gây liệt 2 chi dưới
và không thấy tổn thương các dây sọ.
- Triệu chứng thiểu năng tuần hoàn động mạch: co thắt mạch máu võng mạc, mạch
ngoại biên, có những cơn đau thắt ngực, cơn cao huyết áp.
- Tiến triển bệnh chậm.
- Tìm cách chẩn đoán bằng yếu tố gia đình và tìm thấy acide aminolevulinic và
porphobilinogene tăng trong nước tiểu.
2.3. Viêm nhiều dây thần kinh trong các bệnh về máu và các bệnh ác tính:
Trong bệnh Vaquez do tắc mạch máu đến nuôi riêng dây thần kinh, các bệnh rối
loạn hồng cầu trong máu như bệnh hồng cầu cực đại, bệnh của hệ võng nội mạc
lành tính hoặc ác tính, thường có 2 bệnh cảnh:
- Liệt 2 chi dưới hoặc tứ chi. Khởi đầu với một bên, không đối xứng. Có các cơn
đau rất dữ dội, rối loạn vận động, teo cơ nhiều, tổn thương các dây thần kinh sọ.
Thường gặp trong bệnh bạch huyết lympho bào, trong ung thư nội tạng.
- Viêm ít dây thần kinh, liệt các dây thần kinh sọ não V, VII, thần kinh tủy sống,
thần kinh quay, thần kinh trụ, thần kinh tọa, giống trong bệnh Besnier Boeck
Schaumann.
2.4. Viêm nhiều dây thần kinh trong các bệnh nhiễm trùng:
Thường xảy ra cùng lúc hoặc sau các bệnh nhiễm trùng có làm tổn thương ở thân
các dây thần kinh. Thường gặp trong bệnh thương hàn, viêm phổi, lậu, kiết lỵ, sốt
rét, lao, giang mai.
Các nguyên nhân tán trợ của bệnh: rối loạn dinh dưỡng, uống rượu, ngộ độc thuốc
- Xuất hiện ở hai phái ngang nhau.
2. Bệnh căn:
Chưa rõ ràng. Người ta ghi nhận được trong 2/3 trường hợp, khoảng 1 – 4 tuần
trước khi hội chứng bệnh này xuất hiện, bệnh nhân có 1 giai đoạn nhiễm siêu vi
đường hô hấp trên, hiếm hơn là 1 hội chứng tiêu hóa. Những nghiên cứu đã phát
hiện những trường hợp nhiễm trùng Cytomegalovirus và nhất là Campylobacter
Jejuni. Hiếm khi thấy xuất hiện hội chứng Guillaine – Barré trên những bệnh nhân
nhiễm siêu vi mà không xác định được như Zona, varicelle, MNI (Epstein Barr)
hay bệnh Hodgkin, lymphoma, LED, sarcoidose hay những người nhiễm HIV.
3. Lâm sàng:
Hình ảnh lâm sàng nổi bật của Hội chứng Guillaine – Barré là tình trạng liệt mềm
cấp, mất các phản xạ. Diễn tiến bệnh gồm 3 thời kỳ: thời kỳ liệt phát triển, thời kỳ
đứng yên và thời kỳ phục hồi. Thời kỳ phát triển của liệt không kéo dài quá 4 tuần.
Thời kỳ đứng yên rất thay đổi, nhìn chung từ 2 – 4 tuần nhưng đôi khi kéo dài
nhiều tháng. Việc phục hồi, trong phần lớn trường hợp, thường khỏi hoàn toàn
hoặc gần hoàn toàn.
- Triệu chứng khởi phát có thể: chỉ là dị cảm hoặc rối loạn cảm giác kết hợp với
yếu liệt hoặc chỉ có yếu liệt cơ. Ít hơn, có thể thấy bệnh khởi phát với liệt đầu tiên
ở gốc chi hoặc ở thần kinh sọ não, đặc biệt là liệt mặt 2 bên.
- Liệt:
. Dù do khởi phát cách nào thì chỉ sau vài ngày, liệt cũng trở nên rõ ràng. Liệt có
tính chất đối xứng, đầu tiên liệt ở phần xa của chi, sau đó lan nhanh đến các gốc
chi và thân (có khuynh hướng liệt hướng lên).
. Có mức độ nặng nhẹ rất thay đổi: từ chỉ liệt nhẹ đến liệt tứ chi hoàn toàn. Đặc
tính nổi bật là liệt mềm, giảm hoặc mất phản xạ gân cơ.
. Đau nhức cơ, đặc biệt là cơ dọc sống lưng, rất thường thấy và kết hợp với tình
trạng tăng men cơ trong máu.
. Liệt đồng đều ở các phần của tay chân, hoặc ở ngọn chi nặng hơn gốc chi. (nếu
liệt ở gốc chi nặng hơn thì gọi là thể giả bệnh cơ). Liệt 2 chi trên thường nhẹ và
xảy ra sau 2 chi dưới.
truyền xung động thần kinh như kéo dài thời gian tiềm ẩn, giảm tốc độ dẫn truyền
… Cũng có thể thấy dấu hiệu của thoái hóa sợi trục (thứ phát sau thoái hóa
myelin).
5. Diễn tiến:
Nhờ vào những tiến bộ trong trị liệu mà tỷ lệ tử vong của hội chứng Guillaine –
Barré đã giảm đáng kể tử 33% xuống dưới 5%. Phần lớn các bệnh nhân đã phục
hồi hoàn toàn và trở lại làm việc bình thường sau 3 – 6 tháng. Có 1/5 trường hợp
còn than phiền yếu cơ sau 1 năm. Có thể nói rằng: sau 18 tháng mà di chứng vẫn
còn thì rất ít có hy vọng hồi phục. Có khoảng 15% trường hợp vẫn còn di chứng
và 5% là di chứng nặng nề.
Các yếu tố làm tiên lượng trở nên xấu:
- Bệnh nhân trên 40 tuổi.
- Thời gian liệt phát triển: nhanh, dưới 7 ngày.
- Bệnh nhân cần giúp thở.
- Thời gian liệt đứng yên > 3 tuần.
- Phản ứng cơ với kích thích ở ngọn chi: yếu (Mc Khann G.M. và cộng sự 1988).
Tình trạng tái phát rất hiếm (3%) và đòi hỏi phải tìm cho ra nguyên nhân).
6. Chẩn đoán phân biệt:
- Viêm đa rễ dây thần kinh do giang mai và bệnh Lyme: chủ yếu dựa vào tính chất
không đối xứng và có đau. Và trong dịch não tủy có tăng tế bào. Cần làm xét
nghiệm chẩn đoán giang mai (VDRL …) hoặc phản ứng huyết thanh xác định có
Borrelia burgdorferi.
- Viêm đa rễ dây thần kinh nhiễm xoắn khuẩn Leptospira iderohemorragiae: Dấu
viêm đa rễ dây thần kinh có thể xuất hiện sớm trong thời kỳ cấp của bệnh nhưng
cũng có khi xuất hiện trễ trong thời kỳ hồi phục của bệnh. Dấu lâm sàng có thể là
tổn thương một sợi thần kinh (thường là thần kinh sọ não), rễ thần kinh hoặc tùng
thần kinh. Dấu hiệu viêm đa dây thần kinh thường trầm trọng. Chẩn đoán xác định
bằng điện cơ (dấu tổn thương sợi trục) và sinh thiết (thâm nhiễm các monocytes).
- Viêm đa rễ dây thần kinh do Brucella: Thường xuất hiện trễ hơn là sớm. Bệnh
cảnh có thể là viêm đa rễ dây thần kinh có tính chất không đối xứng hoặc tổn
2. Tiêu chuẩn diễn tiến:
Tiến triển kéo dài trên 6 tháng với những đợt tái phát, mắc lại hoặc không đáp ứng
với trị liệu Steroides.
3. Tiêu chuẩn sinh hóa:
80% có phân ly đạm tế bào.
4. Tiêu chuẩn điện cơ:
Tốc độ dẫn truyền thần kinh giảm, 70% với tổn thương thoái hóa myelin. Những
dấu chứng của blốc dẫn truyền thường xuất hiện nhiều hơn trong thể cấp.